File "ngay05.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/CACTHANH/HanhCacThanh/Thang12/ngay05.htm
File size: 13.59 KiB (13919 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="Hạnh Các Thánh, Hanh Cac Thanh, Hương Việt, tieu su cac thanh">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 05 tháng 12</font></span></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
THÁNH SABA<br>
TU VIỆN TRƯỞNG </span></font></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Thánh Saba Giáo hội mừng kính lễ hôm nay phải chăng là
một trong những người đã thừa hưởng hoàn toàn nhất Lời Chúa nói qua
miệng tiên tri Ôsê xưa: <i>“Cha sẽ dẫn họ vào nơi tịnh địa và sẽ nỉ non
với lòng họ” </i>(Os 2,14); thấu hiểu lời dạy thâm thúy của Chúa, thánh
nhân suốt đời chỉ yêu những nơi rừng sâu núi thẳm, hay sa mạc hoang vu
để tìm và nói chuyện với Chúa.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Thánh Saba chào đời năm 439, tại Mutalasca gần Cêsarê
Cappađốc. Cha ngài là ông Gioan, một sĩ quan có tiếng, đóng binh tại
Alêxanđria, mẹ ngài là bà Sophia, một bà mẹ đạo hạnh thuộc dòng tộc quý
phái. Chính người mẹ đáng kính này đã hun đúc cho Saba một nền tảng đạo
đức sâu xa, đến nỗi, vừa lớn lên, Saba đã trốn gia đình vào tu trong một
cộng đồng nhiệm nhặt. Được tin, cậu ngài đến bắt về, buộc lập gia đình
để kế nghiệp cha. Nhưng Saba cương quyết từ chối. Năm 457, người thanh
niên ấy lại đến gõ cửa một tu viện gần thành thánh Giêrusalem. Thấy Saba
còn quá trẻ, vị tu viện trưởng từ chối khéo và cho giấy giới thiệu đến
cộng đồng Ouadieldabor, gần Biển Chết. Ở đây, ngoài chương trình thiêng
liêng, ngày ngày Saba còn phải bổ củi, chăn lừa, kín nước. Thầy làm vui
vẻ và đã được cha tu viện trưởng, thánh Euthymiô khen ngợi là một tu sĩ
gương mẫu.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Năm 467, một dịp may không ngờ, Saba lại gặp được hai
thân phụ. Các ngài, vì thương con đã gửi cho Saba mười lượng vàng. Saba
chỉ nhận lấy ba lượng và đem bán cho kẻ khó. Cũng năm này, vì đã qua
tuổi 30, thầy Saba được bề trên cho sống tự lập trong rừng vắng như luật
dòng chỉ định. Chỉ buộc trở về cộng đồng mỗi chiều thứ bảy và chủ nhật.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Công tác của thầy là mỗi khi vào rừng phải mang theo một
bó lá cọ, số lá cần để đan được 50 cái rổ, mà cuối tuần thầy phải đem về
nộp cho thầy quản lý. Saba lấy nếp sống này làm thú vị vô cùng! Thầy có
dịp tự do tìm đến những nơi xa vắng hầu thực hiện những chương trình đạo
đức mà mấy năm qua thầy hằng ao ước. Sau khi thánh Euthymiô qua đời năm
473, Saba tạm biệt nhà dòng đến ẩn cư tại tháp Anthos. Sau năm năm, thầy
về viếng thành thánh Giêrusalem rồi xuống thung lũng Cêdron tiếp tục đời
sống tu hành. Lúc này thầy còn sống nhiệm nhặt và nghèo khó hơn trước;
chẳng bao lâu tiếng tăm nhân đức thầy vang dội khắp miền khiến nhiều vị
tu hành khác cũng đến xin làm môn đệ. Ngài phải xây một nhà nguyện riêng
dành cho các linh mục, vì ngài không muốn để các linh mục phải sống
chung với các tu sĩ dòng.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Ngài sống một cách rất nhiệm nhặt và hãm mình, trái lại,
nhiều tu sĩ lại muốn được thả lỏng vì không chịu nổi đời sống quá nhiệm
nhặt, hy sinh và kham khổ của ngài. Nhân dịp vị giáo chủ thành
Giêrusalem tạ thế (Năm 486), một số thầy nổi lên làm cách mạng không
muốn phục quyền thánh Saba. Nhưng ngài nhẫn nhục chịu đựng và phải nhờ
Đức Tân Giáo chủ Sallustiô can thiệp các thầy mới ưng thuận.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Cũng trong năm đó, song thân thánh nhân lần lượt được
Chúa cất về, để lại cho ngài một gia tài khổng lồ, thánh tu hành bán đi,
lấy tiền phân phát cho kẻ khó, xây một cứu tế viện gần nhà dòng và tậu
thêm nhiều khu vườn làm nơi tĩnh tâm tại Giêricô.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Sau cơn khủng hoảng trên, số các môn đệ lại mỗi ngày một
gia tăng. Thầy Saba phải đem hết tài tháo vát để xây thêm nhiều cộng
đồng mới, cách tháo vát duy nhất của ngài là ăn chay, cầu nguyện, trông
cậy vào Chúa Quan phòng. Tín nhiệm vào sự thánh thiện và ảnh hưởng đời
sống của thầy Saba, Đức Giáo chủ Sallustiô đặt ngài làm bề trên các thầy
tu hành xứ Palestina. Từ đây ngài cộng tác chặt chẽ với thánh Thêôđôsiô
tu viện trưởng các cộng đồng Cáppađốc để huấn luyện các tu sĩ sống đúng
theo tinh thần đức tin.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Sang đời Đức Giáo chủ Elia, người kế vị Đức Sallustiô,
thánh Saba càng được tín nhiệm và có nhiều uy thế hơn. Nhưng đến sau vì
nhiều cuộc chống đối xẩy ra trong các tu viện Palestina, thánh Saba bèn
tự ý rút lui, đi sâu vào rừng vắng tìm một hang thuận tiện cho đời sống
tịch liêu và cầu nguyện. Năm 503, Chúa lại soi sáng cho ngài lập một nhà
dòng tại Gađara, gần hồ Tibêria, và năm 508, thầy lại đến Nicôpôlis, gần
Emmaus, xây một phòng nhỏ cho mình và nhiều phòng khác chung quanh cho
các môn đệ. Công việc xây cất còn dở dang thì Đức Êlia lại triệu hồi
thánh nhân về giữ nhiệm vụ cũ. Chính đức Giáo chủ bắt các tu sĩ phải
triệt để vâng phục thánh nhân. Vâng lời đức Giáo chủ, thánh Saba trở về
và tiếp tục xây cất nhiều tu viện khác trong xứ Palestina: cộng đồng
Spelunca, Euđôcia và Zann. Đồng thời thánh nhân không quên giúp đỡ các
tu viện của hai thánh tổ phụ Euthymiô và Thêoctistô về hai phương diện
tinh thần và vật chất.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Ngoài sứ mệnh làm tu viện trưởng, huấn luyện các linh
hồn muốn tìm Chúa trong chốn tu trì, thánh Saba còn phụ lực với các giáo
chủ chống lại các bè rối và tà thuyết nhiều khi lại manh nha ngay trong
các tu viện. Tại các công đồng Êphêsô, Calcêotônia và Tyrô, ngài cũng đã
gây được rất nhiều ảnh hưởng.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Trong tất cả mọi hoạt động trên, thánh Saba đều lấy đức
tin và bác ái làm tiêu chuẩn. Phải chăng có lẽ vì thế mà Chúa đã tán
thưởng công việc của ngài bằng nhiều phép lạ. Lần kia, trên đường đi
Giêricô, một tu sĩ cỡi lừa bị cảm nặng và chết. Thấy thế, thầy Saba quỳ
xuống cầu nguyện bên xác thầy và lập tức tu sĩ kia sống lại khỏe mạnh để
tiếp tục con đường trong sa mạc. Lần khác, một thầy vì mệt quá ngủ thiếp
đi ở giữa rừng, thình lình đoàn sư tử đói mồi kéo tới định ăn thịt thầy.
Nhưng Chúa Quan phòng đã soi sáng cho thánh Saba tới kịp thời cứu thoát
thầy. Lại rất nhiều lần vì cần của ăn cho các môn đệ trong nhà, thánh
nhân quỳ cầu nguyện rồi giơ tay làm dấu thánh giá để khiến các quả xanh,
chua, thành quả chín, ngọt. Cũng thế, mỗi lần đi tìm chỗ ở cho các môn
đệ, nếu gặp các thú dữ như sư tử, hùm beo... ngài thường dõng dạc truyền
lệnh cho chúng rằng: “Chúng ta tất cả là những thụ tạo của Thiên Chúa
dựng nên, hang này là chỗ của ta và của các ngươi, nhưng nếu các ngươi
không muốn ở với ta thì hãy đi nơi khác”, lập tức con vật hiền từ đi ra.
Nhưng việc làm chứng tỏ lòng bác ái của thánh nhân hơn cả, có lẽ là việc
ngài cầu nguyện xin Chúa làm phép lạ tiếp tế của ăn và nước uống cho 60
tu sĩ bất khẳng, đã bỏ tu viện ngài mà ra đi và chẳng may lâm cảnh đói
khát. Quả là cử chỉ của một người cha và một vị thánh!</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Và thánh Saba cứ tiếp tục làm việc và gieo ơn phúc cho
mọi người như thế cho đến khi được biết ngày từ giã cõi đời sắp tới. Bấy
giờ, ngài cho hội các tu sĩ lại để nhắn nhủ một lần sau hết, khuyên các
thầy xong, thánh nhân liền ngã bệnh chỉ kịp chịu các phép sau hết rồi êm
ái trút hơi thở cuối cùng. Ngài qua đời ở phòng riêng tại cộng đồng
Mêlitas ngày 05.12.532, hưởng thọ 93 tuổi.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Nghe tin thánh Saba tạ thế, đức Giáo chủ Giêrusalem, các
Giám mục và nhiều giáo dân liền vội vã đến viếng xác ngài. Sau hai hôm,
người ta tổ chức an táng ngài rất trọng thể. Xác thánh nhân được đặt
trong nhà nguyện của dòng. Về sau, người ta đem hài cốt ngài về thành
Vênitia.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Từ đó, tất cả tu viện và cộng đồng do thánh nhân thiết
lập hay huấn luyện tinh thần đều nhận một tên dòng thánh Saba. Dòng này
còn tồn tại cho đến mấy thế kỷ sau. Ngay khi vừa tạ thế, thánh Saba đã
được giáo dân Palestina, nhất là các tu sĩ dòng, tôn kính cách rất đặc
biệt, họ thường dành cho ngài những tước hiệu: “ Người mang Thiên Chúa,
Công dân trung tín của thành thánh, Vị cứu tinh của dân tộc Palestina,
Ngôi sao rừng thẳm, Tổ phụ của các tu sĩ...”. Lòng tôn sùng ấy dần dần
lan khắp Đông phương rồi tới Tây phương và biến thành một bảo đảm cho
việc Giáo hội đặt thánh Saba lên bàn thờ, dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô
V, năm 1570.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR"><font size="5">Ngày nay trên đại giáo đường Giáng Sinh ở Belem, còn lưu
lại một ảnh nổi hình thánh Saba, do một họa sĩ trứ danh thế kỷ thứ XII
đã vẽ. Thánh nhân vận chiếc áo chùng mầu nâu và choàng chiếc áo choàng
mầu sẫm, tay cầm một biểu ngữ có hàng chữ Hy lạp: “Ai làm chủ được cái
bụng và cái lưỡi, người ấy sẽ được cứu độ”. Phải chăng câu ấy đã tóm tắt
được đời sống thiện hảo của thánh tu viện trưởng Saba.</font></span></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>