File "Vinh_StephanoNguyenVan.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Vinh_StephanoNguyenVan.htm
File size: 33.84 KiB (34655 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Stêphanô Nguyễn Văn Vinh (1814-1839)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Stêphanô Nguyễn Văn Vinh 
		(1814-1839)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/StephanoNguyenVanVinh.jpg" width="200" height="172"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Stêphanô Nguyễn Văn Vinh, thầy giảng, Dòng Ba Ða Minh; sanh 1814 
				tại Phù Trang, Nam Ðịnh; chết 19, tháng 12, 1839, tại Cổ Mễ, 
				dưới đời vua Minh Mạng. Ngài là một nông dân sốt sắng, chịu xử 
				giảo (thắt cổ) vì đức tin cùng với bốn người bạn, kể cả Tôma Đệ. 
				27.5.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn năm vị anh hung tử 
				đạo: Phanxicô Xavie Hà trọng Mậu, Đaminh Bùi văn Úy, Augustinô 
				Nguyễn văn Mới, Tôma Nguyễn văn Đệ và Stêphanô Nguyễn văn Vinh 
				lên bậc Chân Phước. Ngày 19.6.1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 
				II tôn phong các vị lên bậc hiển thánh. Ngày Lễ kính 19 tháng 
				12.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Chứng Tá Tập Thể Trong Lao Tù</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đọc truyện các 
				Thánh Tử đạo Việt Nam, không ai có thể quên được một chứng tá 
				tập thể của hai thầy giảng, ba giáo dân ở trong tù. Năm vị cùng 
				bị giam chung với cha Tự và ông trùm Cảnh, nhưng hai vị này tử 
				đạo trước (5.9.1838). Dù sống trong ngược đãi, dù bị kiểm soát 
				gắt gao, năm vị đã gắn bó với nhau trong tình anh em tha thiết, 
				cùng sống đức tin kiên vững và nỗ lực làm chứng cho Thiên Chúa 
				bằng lời nói, gương sáng và bằng chính mạng sống mình.<br>
				<strong><br>
				1. Thánh Phanxicô Xavie HÀ TRỌNG MẬU, Thầy giảng dòng ba Đaminh 
				(1790-1839)</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thầy giảng 
				Phanxicô Xavie Mậu không những phải chọn lựa giữa cái chết và 
				cuộc sống, thầy còn phải chọn lựa giữa cái chết và việc làm quan 
				triều đình. Không một chút lưỡng lự, thầy trả lời vị tổng đốc: 
				&quot;Tôi không ham quyền, tôi chỉ muốn chết vì đạo.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phanxicô Xavie Hà 
				Trọng Mậu cất tiếng chào đời năm 1790 tại làng Kẻ Diền, tỉnh 
				Thái Bình. Cậu được cha mẹ cho đi tu, trở thành thầy giảng và đi 
				giúp nhiều giáo xứ. Khi cha Phêrô Tự bị bắt, thầy Mậu đang coi 
				họ Nội, thuộc xứ Kẻ Mốt. Được tin cha và thầy Úy bị đưa về Lương 
				Tài, thầy liền đến đó nghe ngóng tin tức. Giáo hữu gửi thầy trọ 
				ở nhà một lương dân phía bên kia sông, vì nghĩ rằng lính sẽ 
				không khám xét đến. Ai ngờ, chính người chủ nhà đi báo cho quan 
				kiếm tiền thưởng, thế là thầy bị bắt.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thầy bị dẫn đến 
				dinh quan Lương Tài. Có mặt cha Tự ở đó. Quan hỏi thầy là ai, 
				thầy đáp: &quot;Thưa quan, tôi là một môn đệ thân tín của cha đây&quot;. 
				Cha Tự ra dấu nhắc thầy đừng khai rõ, may ra có thể chuộc về 
				được chăng, nhưng thầy nói nhỏ với cha: &quot;Xin cha thương nhận con 
				là môn sinh, để con cũng được tử đạo với cha.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Kể từ ngày cha Tự 
				và ông trùm Cảnh bị đem đi xử trảm, thầy Mậu trở thành cột trụ 
				nâng đỡ bốn người còn sót lại, là thầy Úy, các anh Mới, Vinh và 
				Đệ. Thầy nhắc anh em sống huynh đệ, an ủi giúp đỡ nhau. Thầy đại 
				diện anh em viết thơ ra ngoài, hoặc trả lời với các quan. Đặc 
				biệt thầy động viên anh em hăng hái làm việc tông đồ ngay trong 
				nhà tù. Trong hồ sơ phong thánh, cha Huấn đã dựa vào các thơ của 
				thầy làm chứng rằng: &quot;Thầy Mậu vẫn dạy giáo lý cho các tù nhân, 
				và rửa tội được bốn mươi bốn người. Trong đó có một tử tội tên 
				Hưng mới học đạo một tháng thì đến ngày xử, anh xin quan hoãn 
				lại ít giờ để rửa tội, sau đó vui vẻ tiến ra pháp trường...&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi quan nói: &quot;Kẻ 
				nào chết vì không chịu bước qua thập giá là ngu dại, không biết 
				thương cha mẹ già.&quot; Thầy giải thích: &quot;Thưa quan, cha mẹ sinh 
				chúng tôi, nhưng ngay cha mẹ chúng tôi có ở trên đời, cũng là 
				nhờ quyền năng của Chúa.&quot; Khi quan tuyên đọc bản án xử tử, thầy 
				bình tĩnh đáp lại: &quot;Thưa quan, chúng tôi mong ước về với Chúa, 
				như nai mong tìm thấy suối vậy. Xin quan cứ thi hành án lệnh của 
				Đức vua.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>2. Thánh 
				Đaminh BÙI VĂN ÚY Thầy giảng dòng ba Đaminh (1812-1839)</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Nếu tôi cả gan 
				bước lên thánh giá, thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với 
				cha mẹ. Vì song thân sinh ra tôi, đã dạy tôi trung thành với 
				niềm tin cho đến chết.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thầy Đaminh Úy đã 
				đặt trọn niềm tin của mình trong truyền thống tiên tổ. Không 
				biết cha mẹ căn dặn thầy trung kiên dù phải tử đạo vào lúc nào, 
				khi mới có bách hại hay khi vào thăm trong tù? Nhưng rõ rệt là 
				với thầy, phản bội đức tin là phản lại những người đã nhọc công 
				vun trồng niềm tin cho mình.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đaminh Bùi văn Úy 
				sinh năm 1812 tại họ Tiền Môn, làng Kẻ Rèm, tỉnh Thái Bình. Từ 
				bé cậu đã được gia đình gửi vào nhà xứ sống với cha Tự. Sau khi 
				học thành thầy giảng thầy luôn hoạt động bên cha tại giáo xứ Kẻ 
				Đanh rồi Kẻ Mốt (Bắc Ninh), thì bị bắt, lúc đó thầy mới 26 tuổi. 
				Bất cứ ai gặp thầy Úy đều công nhận thầy hiền lành, có lòng yêu 
				mến Chúa đặc biệt và là người trợ thủ đắc lực của cha Tự trong 
				công tác, nhất là khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng bùng nổ. 
				Ước mơ lớn nhất của thầy là được đóng vai &quot;Lê Lai thế mạng&quot; để 
				cha Tự khỏi bị bắt. Khi đào hang trú ẩn, thầy làm hai ngăn rồi 
				tình nguyện ở ngăn bên ngoài. Thầy nói với mọi người: &quot;Nếu các 
				quan đến truy lùng, tôi sẽ ra trước nộp mình để cha khỏi bị bắt, 
				hầu cha có thể giúp anh chị em.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 29.6.1838, 
				lính đến vây làng Kẻ Mốt, đã bắt thầy Úy chung với cha Tự. Cha 
				dự định khai thầy chỉ là giáo hữu vào làm bếp để đỡ nguy hiểm, 
				nhưng thầy nói: &quot;Xin cha cứ nói con là thầy giảng, may ra cùng 
				được phúc tử đạo với cha&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Rồi thầy xin xưng 
				tội để chuẩn bị tâm hồn. Một lần tương kế tựu kế, quan nói dối 
				thầy: &quot;Cha Tự xuất giáo rồi, sao anh còn cố chấp thế?&quot; Thầy bình 
				tĩnh trả lời: &quot;Vô lý, cha tôi không bao giờ làm vậy, mà dù có 
				thực như thế, tôi cũng không chịu xuất giáo đâu.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lần khác, quan như 
				muốn dạy khôn thầy: &quot;Anh còn trẻ, hãy nghĩ lại và khôn hơn một 
				chút, ta chỉ yêu cầu anh bước qua một khúc gỗ mà.&quot; Thầy Úy đáp: 
				&quot;Đúng là khúc gỗ, thưa quan, nhưng khúc gỗ đó lại tượng trưng 
				cho Chúa tôi thờ. Quan nghĩ sao nếu tôi giày đạp lên ảnh vẽ hình 
				cha mẹ tôi?&quot; Hôm khác, khi bị dụ dỗ bước qua thánh giá, thầy 
				khẳng khái nói: &quot;Thưa quan, quan có dám bước qua mặt đức vua 
				không, mà lại bảo tôi bước qua mặt Chúa tôi? Nhưng dù quan có 
				bước qua mặt vua, thì tôi cũng không bước qua mặt Chúa tôi 
				được.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan nghiêm nghị 
				phán: “Tên phạm thượng, ta sẽ chém đầu mi.&quot; Người chiến sĩ đức 
				tin vui vẻ reo lên:<br>
				&quot;Anh em ơi, tôi sắp được chém rồi&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhưng phúc trường 
				sinh đến với thầy không quá sớm như vậy.<br>
				<strong><br>
				3. Thánh Augustinô NGUYỄN VĂN MỚI Nông dân dòng ba Đaminh 
				(1806-1839)</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy là một tân 
				tòng mới theo đạo, anh Augustinô Mới đã biểu lộ một đức tin kiên 
				cường, không thua kém gì những Kitô hữu vững tin nhất.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Augustinô Nguyễn 
				văn Mới sinh năm 1806 tại làng Bồ Trang tỉnh Thái Bình, trong 
				một gia đình nông dân ngoại giáo. Đến tuổi trưởng thành, anh đến 
				làng Đức Trai, xứ Kẻ Mốt (Bắc Ninh) để làm thuê làm mướn. Tiếp 
				xúc với giáo hữu ở đây, càng ngày càng thấy mến đạo, và xin theo 
				học giáo lý. Năm 31 tuổi, anh được cha Tự rửa tội và đặt tên 
				thánh bổn mạng là Augustinô.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mấy năm sau, cha 
				Tự cũng chủ sự lễ thành hôn cho anh với một thiếu nữ trong xứ. 
				Theo các lời chứng trong hồ sơ phong thánh, anh Augustinô Mới 
				sống đạo rất tốt, đặc biệt là đọc kinh Mân Côi mỗi tối. Dù có 
				ngày lao động vất vả đến mãi khuya mới về, anh cũng không quên 
				kinh Mân Côi kính Đức Mẹ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 29-6-1838, 
				khi quân lính bao vây làng Kẻ Mốt và bắt cha Tự, họ buộc toàn 
				dân phải ra đình điểm danh, rồi bước qua thánh giá. Một số tín 
				hữu nhanh chân lẫn tránh được, một số nhát gan thực hiện lời yêu 
				cầu của lính. Các anh Mới, Vinh và Đệ cương quyết không chịu đạp 
				lên thánh giá, nên bị bắt và áp giải chung với cha Tự, ông trùm 
				Cảnh và hai thầy Úy và Mậu lên giam tại Bắc Ninh. </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>4. Thánh 
				Tôma NGUYỄN VĂN ĐỆ Thợ may dòng ba Đaminh (1811-1839)</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hai mươi tám tuổi 
				đời, một người vợ ba người con, đó là mối ưu tư trắc trở của anh 
				Tôma Đệ trong những ngày bị giam cầm. Không thể bỏ đức tin, 
				nhưng tương lai của người vợ trẻ và đàn con dại sẽ ra sao? Trong 
				nhiều ngày anh suy nghĩ và tha thiết cầu nguyện xin Chúa soi 
				sáng. Cuối cùng anh tìm được an bình trong tâm hồn, phó thác tất 
				cả trong bàn tay Chúa quan phòng. Anh nói với người vợ đến thăm:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Đừng khóc mình ạ. 
				Mình về dạy dỗ các con nên người, dạy chúng thờ phượng Chúa. Tôi 
				đã dâng mình và các con cho Ngài. Nhớ cầu xin Chúa cho tôi thêm 
				sức mạnh để nhẫn nại đến cùng.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ra đời trong một 
				gia đình Công giáo tại làng Bồ Trang, tỉnh Thái Bình năm 1811, 
				Tôma Nguyễn văn Đệ vì lý do sinh kế, theo cha mẹ về xứ Kẻ Mốt 
				(Bắc Ninh) và ở ngay gần nhà thờ. Lớn lên anh theo nghề thợ may 
				và được mọi người yêu chuộng. Anh rất nhiệt tình với việc trong 
				xứ trong họ. Hầu hết cờ quạt, đồ trang hoàng trong nhà thờ và 
				nhà xứ đều nhờ đến bàn tay khéo léo và sáng tạo của anh. Khi 
				kinh tế gia đình ổn định, anh lập gia đình, ra ở riêng và sinh 
				hạ được ba người con.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 29.6.1838, 
				quân lính vây làng Kẻ Mốt, và ép buộc mọi người trên 18 tuổi 
				phải đạp lên thánh giá. Anh lẩn trốn ra phía sau nhà. Đến khi 
				quân lính xồng xộc vào nhà lùng bắt, anh biết mình không thể 
				tránh được nữa, liền giã từ vợ, dặn đưa con về bên ngoại, ôm hôn 
				từng đứa rồi ra trình diện. Đến trước thánh giá, anh Đệ quỳ 
				xuống cầu nguyện lớn rằng: &quot;Lạy Chúa, sẽ không bao giờ con bước 
				qua mặt ngài.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quân lính áp giải 
				anh Tôma Đệ cùng với cha Tự ông trùm Cảnh, hai thầy Úy, Mậu và 
				các anh Mới và Vinh về giam tại Bắc Ninh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>5. Thánh 
				Stêphanô NGUYỄN VĂN VINH Tá điền dòng ba Đaminh (1813-1839)</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thánh Stêphanô 
				Vinh là một trường hợp hy hữu, trong danh mục các thánh tử đạo 
				Việt Nam. Khi bị bắt, anh mới chỉ là dự tòng chưa được rửa tội. 
				Nhưng với những hiểu biết ít ỏi về đạo, anh đã kiên trì làm 
				chứng cho chân lý. Mặc dù khi vô tù anh mới chính thức gia nhập 
				đạo, rồi thành hội viên dòng ba Đaminh, nhưng anh không thua kém 
				ai về lòng can đảm tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Stêphanô Nguyễn 
				văn Vinh sinh năm 1813 tại làng Bồ Trang tỉnh Thái Bình. Sống 
				trong một gia đình ngoại giáo rất nghèo, một miếng đất cũng 
				không có, anh Vinh quanh năm phải làm thuê làm mướn cho các gia 
				đình Kẻ Mốt (Bắc Ninh). Trường học duy nhất anh ham thích và 
				theo được là các lớp giáo lý, nơi anh tập đánh vần và học truyền 
				khẩu. Đặc biệt anh đem các điều học ở đó ra thực hành trong cuộc 
				sống. Có điều là người ta không biết vì sao anh chưa được rửa 
				tội. Mọi người đều mến thương anh vì anh đơn sơ, chất phác, khỏe 
				mạnh và thật thà. Trong công việc anh không bao giờ làm cho qua 
				loa chiếu lệ, ai thuê việc gì, anh cũng chu toàn tốt đẹp không 
				cần kiểm soát, không có gì để chê trách. Cho đến khi bị bắt (lúc 
				26 tuổi) anh vẫn sống độc thân chưa lập gia đình.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 29.6.1838, 
				khi quan quân vây bắt cha Tự ở Kẻ Mốt, và bắt mọi người phải đạp 
				qua thánh giá, chàng thanh niên 25 tuổi này đã anh dũng nói 
				thẳng với họ rằng: &quot;Tôi thà chết chứ không bao giờ chịu đạp lên 
				thánh giá, vì tôi biết đạo Chúa Giêsu là đạo thật.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vì lời nói này, 
				quan quân tưởng anh là người trong đạo, thế là họ bắt anh Vinh 
				và áp giải về trại giam Bắc Ninh chung với cha Tự, ông trùm 
				Cảnh, thầy Úy, thầy Mậu, anh Mới và anh Đệ. Chính tại đây, anh 
				Vinh được diễm phúc làm người Kitô hữu, được hân hạnh làm con 
				Cha Thánh Đaminh. Suốt hành trình tử đạo, anh là một nhân chứng 
				trầm lặng, chỉ đồng tình với các vị khác, nhưng gông cùm, xiềng 
				xích và tra tấn không lần nào có thể làm anh sa ngã hay thối 
				chí. Chọn quan thầy Stêphanô trong tù, anh cương quyết noi theo 
				vị tử đạo tiên khởi của Giáo hội đến hơi thở cuối cùng.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Lời An Ủi Ấm Lòng</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau một tháng dọa 
				nạt tra khảo bảy chiến sĩ đức tin nhưng vô hiệu, ngày 27.7.1838, 
				quan tỉnh Bắc Ninh đệ án vào triều xin xử giáo cha Tự và ông 
				trùm Cảnh, còn năm vị kia quan cho là nhẹ dạ tin theo, nên xin 
				đánh mỗi người một trăm roi rồi phát lưu vào Bình Định. Luật vua 
				thời đó xử giảo các phù thủy, đồng cốt, còn những kẻ a dua chỉ 
				bị đánh đòn và phát lưu ba trăm dặm. Thế nhưng vua Minh Mạng cho 
				rằng tội theo đạo Gia-tô thuộc loại nặng hơn, nên quyết định xử 
				chém hai vị trên ngay tức khắc, còn tất cả sẽ bị xử giảo sau một 
				năm nếu không chịu thay đổi ý kiến.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 5.9.1838, khi 
				biết tin cha Phêrô Tự và ông trùm Cảnh đã bị chém tại pháp 
				trường Kinh Bắc, năm vị trong ngục buồn bã nhớ thương. Thầy Mậu 
				kêu gọi anh em ngồi lại bên nhau cùng đọc kinh, vừa khích lệ 
				nhau, vừa ôn lại những lời khuyên của cha mình. Sau đó ba buổi 
				tối, như chính các vị thuật lại, trong lúc họ đang cầu nguyện, 
				thì bất ngờ tất cả đều thấy như cha Tự hiện ra ngay bên an ủi 
				họ: &quot;Các con đừng buồn, chắc chắn các con sẽ còn được chết vì 
				đạo. Tuy nhiên, các con sẽ còn phải qua một thời gian thử thách 
				nữa, để xứng đáng với phúc trọng này.&quot; Có thể đó chỉ là giấc mơ 
				chứ không phải sự thật, cũng có thể đó là lời nhắn nhủ cuối cùng 
				của vị linh mục, nhưng kể từ ngày đó họ hết sầu buồn, tìm lại 
				được can đảm để nêu gương ngay trong cảnh quẫn bách ở trong trại 
				giam.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Tuyên Khấn Trong Ngục Tù</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ấn tượng ghi nét 
				sâu đậm vào lòng năm vị chứng nhân là lời cha Tự trong ngày lãnh 
				phúc tử đạo. Cha mặc áo dòng và nói với mọi người về chiếc áo 
				đó. Trước đây bốn vị, đến khi vào tù có thêm anh Vinh, đã mặc áo 
				dòng ba Thánh Đaminh, nhưng chưa ai khấn cả. Thầy Mậu liền viết 
				thơ cho cha Huấn dòng Đaminh để bày tỏ niềm ước nguyện được hiệp 
				thông với dòng cách trọn vẹn. Thầy viết:<br>
				&quot;Chúng con tất cả là năm tập sinh của dòng ba Đaminh, nhưng 
				chúng con không thể giữ chay đủ các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ 
				Sáu và thứ Bảy được, nên chúng con xin cha thương rộng phép 
				chuẩn chước cho sự thiếu sót đó. Qua thơ này, chúng con xin 
				tuyên khấn trọn đời. Vì chúng con không thể đọc lời tuyên khấn 
				trong tay cha được, nên bằng những dòng viết này chúng con coi 
				như thực sự tuyên khấn trước mặt cha vậy, xin cha cho phép.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Để tôn vinh và 
				ngợi khen Thiên chúa toàn năng, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh 
				Thần, chúng con là Phanxicô, Đaminh, Augustinô, Tôma và 
				Stêphanô, trước mặt cha Huấn, đại diện cha Hermosilla, giám đốc 
				dòng ba hãm mình Thánh Đaminh chúng con xin hứa và ước ao giữ lề 
				luật và tập tục của dòng cho đến chết.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Những chữ &quot;cho đến 
				chết&quot; trong ngục tù khi đó chắc hẳn phải có âm vang đặc biệt đối 
				với các vị. Được nối kết với truyền thống hơn sáu trăm năm 
				truyền giáo của Thánh Phụ và một dòng tu lớn trong Giáo hội, từ 
				nay năm anh em tích cực hơn với việc tông đồ. Dưới sự điều hành 
				của thầy Mậu, năm hội viên dòng ba chia nhau tiếp xúc gặp gỡ các 
				bạn tù, giới thiệu với họ về Thiên Chúa, cắt nghĩa giáo lý, rồi 
				dẫn họ đến thầy Mậu lãnh nhận bí tích rửa tội. Ít ra các vị đã 
				rửa tội được bốn mươi bốn người. Ngục tù giờ đây trở thành 
				nguyện đường, hằng ngày vang lên những lời chúc tụng Thiên Chúa, 
				lời cầu nguyện cho Giáo hội và cho mọi người, mọi giới được đầy 
				tràn ơn lành của Ngài.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Làm Chứng Trước Quan Quyền</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thấm thoát hơn một 
				năm đã trôi quan, triều đình quyết định lại việc xử giảo cả năm 
				người. Ngày 19.8.1839 quan cho điệu tất cả ra tòa, vẫn để thánh 
				giá một bên, bên kia là dụng cụ tra tấn. Quan nói: &quot;Các anh bị 
				giam cầm đã lâu ngày, chịu khổ cũng đã nhiều, vậy bỏ đạo đi, ta 
				tha về với vợ con.&quot; Thầy Mậu đại diện anh em trả lời: &quot;Chúng tôi 
				đã quyết tâm trung thành với Chúa, nếu quan ra lệnh chém đầu hay 
				giết cách nào khác, chúng tôi đều sẵn sàng.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Rồi cả năm vị quỳ 
				xuống bái lạy thánh giá và cầu nguyện: &quot;Lạy Chúa, xin cứu chúng 
				con, con xin phó thác hồn con trong tay Chúa.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thất vọng, quan 
				cho lính đưa tất cả về ngục và thốt lên: &quot;Bọn này không thể tha 
				thứ được, mà chúng có thèm được tha đâu.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 24.11, năm vị 
				phải ra toà một lần nữa. Quang cảnh vẫn như lần trước, và các 
				tôi tớ Chúa vẫn một mực cương quyết không chối đạo. Thầy Mậu 
				thay mặt anh em nói với quan: &quot;Chúng tôi chỉ tôn thờ một Thiên 
				Chúa là Cha chung muôn loài, là Vua trên hết các vua, là Đấng 
				chúng tôi mong được đổ máu ra để chứng tỏ lòng trung thành và 
				yêu mến.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Như Nai Rừng Mong 
				Mỏi Tìm Về Suối Nước Trong Ngày 19.12.1839, trước khi đi xử, 
				quan cho năm vị một cơ hội cuối cùng. Ông nói: &quot;Chỉ cần đi ngang 
				qua phía chân tượng, ta cũng tha.&quot; Sau ông lại nói: &quot;Chỉ cần đi 
				vòng quanh tượng ta cũng tha.&quot; Nhưng các vị chứng nhân đức tin 
				không dễ bị mắc lừa, họ bảo nhau quỳ xuống đọc kinh Kính Danh 
				Chúa Giêsu. Có lẽ do ảnh hưởng những lời kinh Giáo hội trong mùa 
				Vọng, đón chờ Chúa giáng sinh, thầy Mậu nói với quan những lời 
				kinh Thánh vịnh 41 (c 1-2): Thưa quan, chúng tôi ước mong về 
				Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy. Xin quan cứ thi hành án 
				lệnh của nhà vua.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Biết không thể làm 
				nao núng ý chí sắt đá của những con người này được nữa, quan 
				liền truyền đem đi xử với bản án như sau: &quot;Bọn gian ác theo 
				Gia-tô tả đạo, mặc dầu đã khuyên răn sửa phạt, vẫn ngoan cố 
				không chịu bước qua thập giá, nay chúng bị xử giảo&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trên đường ra pháp 
				trường, thầy Mậu rảo chân bước đi trước, các anh khác bước theo 
				sau, tất cả đều tỏ ra hân hoan kiên cường. Dân chúng hiếu kỳ đi 
				xem rất đông và xì xào với nhau là các vị này bị giết oan. Theo 
				gương thầy Mậu, các chứng nhân tươi cười với mọi ngườỉ: &quot;Anh em 
				chúng tôi đang tiến về thiên đàng đây.&quot; Khi tới nơi xử, mỗi vị 
				bị trói vào một cọc đã chôn sẵn. Rồi cùng một lúc, lý hình xiết 
				cổ các vị bằng giây thừng cho đến lúc tắt thở. Các tín hữu đem 
				thi thể các vị về an táng ở họ đạo mình. Thánh Mậu ở Kẻ La, 
				Thánh Úy ở Đồng Tiến, Thánh Mới ở Phượng Vĩ, Thánh Đệ ở Phong 
				Cốc và Thánh Vinh ở Hương La, tất cả đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 27.5.1900, 
				Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn năm vị anh hung tử đạo: 
				Phanxicô Xavie Hà trọng Mậu, Đaminh Bùi văn Úy, Augustinô Nguyễn 
				văn Mới, Tôma Nguyễn văn Đệ và Stêphanô Nguyễn văn Vinh lên bậc 
				Chân Phước.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 19.6.1988 Đức 
				Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong các vị lên bậc hiển thánh.<br>
&nbsp;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lễ 
				Nhớ: Ngày 19 tháng 12</p>
				<p align="right" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">(ST)</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3"><strong>Trường thi tử đạo</strong></font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nguyễn Văn Vinh 
				sinh năm Quý Dậu (1813)<br>
				Làng Bồ Trang trung hậu Thái Bình<br>
				Làm thuê cho một gia đình<br>
				Tại làng Kẻ Mốt phận mình độc thân<br>
				<br>
				Thời cấm đạo quan quân vây họ<br>
				Ông Cha Tự tụi nó bắt đi<br>
				Chủ chăn vắng bóng còn gì<br>
				Tất cả trai tráng chúng thì điểm danh<br>
				<br>
				Bắt giáo dân bước qua ảnh Chúa<br>
				Rất nhiều người bội hứa bước qua<br>
				Anh Vinh quỳ xuống hôn mà<br>
				Làm quan tức giận bắt đà đeo gông<br>
				<br>
				Chúng sợ trốn bắt gồng thêm xích<br>
				Giải về phủ chật ních theo sau<br>
				Anh Vinh chưa nhập đạo đâu<br>
				Rất là hãnh diện phép mầu Chúa ban<br>
				<br>
				Thầy Mậu, Thầy Úy bàn rửa tội<br>
				Cho Anh Vinh ngục tối nhà giam<br>
				Hồng ân Chúa đổ tuôn tràn<br>
				Tân tòng một mực thưa quan nói rằng<br>
				<br>
				Tôi thề chết quyết hằng giữ đạo<br>
				Dù tấn tra tàn bạo kiên trung<br>
				Mậu, Mới, Ðệ, Úy tập trung<br>
				Ðồng tâm nhất trí tới cùng không tuân<br>
				<br>
				Nhờ Thầy Mậu có lần đại diện<br>
				Gởi Cha Huân thực hiện khấn dòng<br>
				Mậu, Vinh, Mới, Úy, Ðệ mong <br>
				Ðơn xin chấp nhận nhập dòng Ðaminh<br>
				<br>
				Các quan họp tường trình hình phạt<br>
				Ðủ trăm roi tống đạt phát lưu<br>
				Ra Bình Ðịnh sống như ngưu<br>
				Sau vua thay đổi bày mưu đem về<br>
				<br>
				Ai bỏ đạo về quê sinh sống<br>
				Sẽ tử hình kẻ chống lệnh ta<br>
				Năm Thầy cùng nhốt một nhà<br>
				Ðã đều lo sợ khó mà kiên trung<br>
				<br>
				Ngay đêm đó Chúa dùng Cha Tự<br>
				Ngài hiện về tâm sự vững lòng<br>
				Sẵn sàng chờ đợi ước mong<br>
				Hồng ân tử đạo đẹp lòng Chúa ban<br>
				<br>
				Năm người lính dẫn đàng xử giảo<br>
				Tại pháp trường đông đảo giáo dân<br>
				Vẫn vui vĩnh biệt người thân<br>
				Năm Thầy xiết cổ, một lần thảm thương<br>
				<br>
				Các bổn đạo địa phương liệm xác<br>
				Về Hương La, cô bác cất chôn<br>
				Tứ Nê dâng lễ cầu hồn<br>
				Giáo dân thăm viếng kính tôn quý Thầy<br>
				<br>
				Năm Kỷ Hợi (1839) phúc thay tử đạo<br>
				Theo nguồn tin thông thạo Roma<br>
				Canh Tý (1900) phong thánh đó mà<br>
				Lên hàng Chân phước thật là hiển vinh<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ:</b> Khi chàng trai 25 tuổi bị buộc phải chà đạp 
				lên Thánh Giá, anh nói can đảm thẳng thắn với quan rằng: &quot;Tôi 
				thà chết chứ không bao giờ chịu đạp lên Thánh Giá, vì tôi biết 
				đạo Chúa Giêsu là đạo thật&quot;.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager