File "Trong_AnreTranVan.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Trong_AnreTranVan.htm
File size: 19.92 KiB (20396 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
@font-face
{font-family:"Cambria Math";
panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
mso-font-charset:1;
mso-generic-font-family:roman;
mso-font-format:other;
mso-font-pitch:variable;
mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
{}
.MsoChpDefault
{font-size:10.0pt;
}
@page Section1
{size:612.0pt 792.0pt;
margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Anrê Trần Văn Trông (1814-1835) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<!--[if !mso]>
<style>span.contents
{}
span.small
{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:18.0pt;
font-family:"Times New Roman";
font-weight:bold}
h1
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:24.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
}
span.submitted
{}
h4
{margin-top:12.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:3.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:14.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
font-weight:bold}
h3
{margin-top:10.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:0cm;
margin-left:0cm;
margin-bottom:.0001pt;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:11.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
color:#4F81BD;
font-weight:bold}
span.author
{}
span.longtext
{}
</style>
<![endif]-->
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
<b><font face="Arial" color="#0000FF">Anrê Trần Văn Trông (1814-1835)
</font></b></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tr>
<td width="200" valign="bottom">
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
<img border="0" src="../_HinhAnh/AnreTranVanThong.jpg" width="200" height="345"></td>
<td width="270" valign="bottom">
<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
Anrê Trần Văn Trông, sinh 1814 tại Kim Long, Huế; chết 28 tháng
11, 1835 tại An Hòa, Huế. Anrê Trông là một binh sĩ trẻ tuổi,
một thợ dệt tơ của nhà vua, và thuộc Hội Thừa Sai Balê. Khi
triều đình khám phá ra sự liên hệ này năm 1834, ngài bị bắt, bị
truất hết chức tước, và bị giam vào tù. Mẹ của ngài có mặt khi
ngài bị xử tử và đã nhận lãnh thủ cấp của con trong lòng. Phong
Á Thánh 1900. Ngày Lễ 28 tháng 11. </td>
</tr>
<tr>
<td colspan="2">
<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
<font face="Arial" size="3">Trong vòng tay người mẹ.</font></h4>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Trong hành tích thánh Anrê Trần Văn Trông, người quân nhân xứ
Huế, ta thấy nổi bật lên chân dung của một bà mẹ. Đức Giáo Hoàng
Lêo XIII ca tụng bà đã thể hiện lòng can trường "theo gương Nữ
Vương Các Thánh Tử Đạo". Như Đức Maria dưới chân Thánh Giá dâng
hiến Người Con Yêu Dấu, bà mẹ đó cũng có mặt trong cuộc hành
quyết để hiến dâng người con trai duy nhất của mình. bà đi bên
cạnh con, không than khóc không sầu buồn, trái lại còn bình tĩnh
vui vẻ khuyên con hãy bền chí đến cùng.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khi đầu Anrê Trông rơi xuống, bà mạnh dạn bước vào pháp trường
kêu lớn tiếng trước mặt các quan : "Đây là con tôi, đứa con mà
tôi đã cưu mang dưỡng dục. Giờ này nó vẫn là con tôi, xin các
ông trả lại tôi cái dầu của con tôi". Nói xong, bà mở rộng vạt
áo, bọc lấy thủ cấp đẫm máu của người con yêu quý, rồi đêm về
mai táng trong nhà.</p>
<h4 align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<font face="Arial" size="3">Tuổi xuân ước mơ.</font></h4>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Anrê Trần Văn Trông sinh năm 1814 trong một gia đình Công Giáo ở
Kim Long, Phú Xuân (Huế). Cậu là con trai duy nhất trong nhà,
thế mà năm 15 tuổi, người cha lại mất sớm, khiến gia đình lâm
cảnh mẹ góa con côi. Để giúp mẹ mưu sinh, Anrê Trông đành giã từ
sách đèn, theo chân bà con lối xóm về họ Thợ Đúc dệt tơ cho
hoàng gia. Là người ngay thật, cậu không ăn bớt của công, luôn
chăm chỉ làm việc và ưa những chuyện gây gỗ, bất hòa. Mỗi buổi
chiều, sau những giờ lao động mệt mỏi, cậu thường vác cần câu
đến ngồi bên bờ sông Hương xanh biếc, để được gần gũi với thiên
nhiên. </p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sử
gia Rodriguez đã diễn tả tâm trạng của cậu qua những vần thơ sau
(Martirologie III, pp. 158 – 159):</p>
<div align="justify">
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>"Ôi êm đềm
cảnh thiên nhiên trầm lặng,</em><br>
<em>Dưới ngàn cây râm mát thoảng hương hoa,</em><br>
<em>Nước lung linh nghe thanh thản tâm hồn,</em><br>
<em>Sông in dáng bóng non xanh xanh biếc…"</em></div>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nhưng cuộc đời êm ả đó không kéo dài được lâu mãi. Đồng lương ít
ỏi của người thợ dệt tơ không đủ nuôi sống gia đình. Năm 20
tuổi, Anrê Trông đành giã từ mẹ lên đường nhập ngũ.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b>Xông vào cuộc chiến</b></p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Sau tám tháng phục vụ trong quân đội, tháng 11.1834, triều đình
ra lệnh những binh sĩ Công Giáo phải ra trình diện. Không chút e
dè, Anrê Trông với 12 đồng đội cùng ở khu Thợ Đúc đến "ra mắt"
quan. Quan yêu cầu các anh phải tuân lệnh nhà vua bỏ đạo và đạp
lên Thánh Giá. Cả 13 chiến sĩ Công Giáo đều cương quyết khước
từ. Các quan bèn dùng biện pháp tra tấn dã man… lần lượt 12
người bỏ cuộc, chỉ còn mình Anrê Trông vẫn trung kiên đến cùng.
Quân lính trói anh lại khiêng qua Thánh Giá, nhưng anh co chân
lên quyết không xúc phạm đến ảnh Chúa. Thế là từ trại lính, anh
bị tống qua trại giam. Các quan kết án tử hình, nhưng còn giam
hậu, nghĩa là chưa xử ngay.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Suốt một năm bị giam trong ngục, Anrê Trông chịu nhiều điều cơ
cực khổ sở, nhưng niềm tin của anh qua những thử thách đó càng
ngày càng vững mạnh. Anrê sốt sắng cầu nguyện và đặc biệt phó
thác đời mình cho Đức Mẹ, xin Chúa vì lời Mẹ Maria chuyển cầu
ban cho ơn trung tín đến cùng. Những món qùa tiếp tế nhận được,
anh chia sẻ cho các bạn tù và lính canh ngục, nên được họ quý
mến. Cũng chính nhờ đó, anh có cơ hội đặc biệt để đi xưng tội,
rước lễ và thăm mẹ.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khi biết tin có cha Ngôn đang hoạt động ở Phú Xuân, anh Trông
liền xin viên cai ngục và được phép về nhà một ngày dưới sự giám
sát của một người lính. Nhờ đã dò hỏi rõ nơi ở của vị linh mục,
Anrê Trông và người lính chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa
trưa. Lúc đó, mọi người dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi.
Anh Trông liền bước qua thuyền của cha Ngôn, đẩy thuyền trôi nhẹ
ra giữa dòng. Hai người nhỏ to "Tâm sự" và anh quỳ xuống lãnh
phép lành tha tội. Xưng tội xong, anh ngỏ ý xin rước lễ, cha
Ngôn hẹn anh sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Thế rồi anh và người lính
tiếp tục chèo thuyền về Kim Long. Hai người lên bờ và ngủ tại
nhà mẹ một đêm. Tả sao cho siết niềm vui của hai mẹ con được tái
ngộ trong hoàn cảnh bất ngờ này. mẹ anh đã hết lời khích lệ động
viên anh kiên tâm vì đức tin.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Tảng sáng hôm sau, anh Trông và người lính gác vội vã chèo
thuyền đến điểm hẹn. Gặp lại vị "khách quý", anh liền quỳ xuống
lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Cha Ngôn chúc lành : "Ước gì Mình
Thánh Chúa Giêsu Kitô sẽ gìn giữ con đến cuộc sống muôn đời".
Anh thưa: "Amen". Rồi trong niềm hân hoan vì hồng phúc mới lãnh
nhận, anh vui vẻ trở về trại giam như lời hứa với viên cai ngục.</p>
<h4 align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<font face="Arial" size="3">Nỗi lòng hai mẹ con</font></h4>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Sau một năm tù, không hy vọng gì Anrê Trông thay đổi ý kiến, các
quan quyết định ngày xử là 28.11.1835. Sáng hôm đó, người chiến
sĩ đức tin gặp được người anh họ mình. Anh ta hỏi có muốn ăn gì
không ? Anrê Trông trả lời: "Em muốn ăn chay để dọn mình tử
đạo", rồi nói tiếp: "Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em,
mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: Đừng lo gì
cho em cả, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện, và sẽ hài lòng vì
con trai mình luôn trung thành với Chúa cho đến chết". </p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Nhưng thực tế, người anh họ chưa kịp nhắn lại. Bà mẹ Anrê Trông
khi hay tin con bị đem đi xử, liền vội vã ra đón con ở đầu chợ,
nơi con sắp đi qua, gặp con, bà chỉ hỏi một câu vắn tắt : "Bấy
lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần ai chăng, nếu có
thì cho mẹ hay, mẹ sẽ trả thay con". Tấm lòng người mẹ là thế
đấy. Bà biết rõ con của mình đủ can đảm chịu mọi đau đớn, giờ
đây bà chỉ lo cho con về đức công bình.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Khi được con cho biết không vướng gì với ai, bà tiếp tục đi sát
bên con, bình tĩnh thêm lời khích lệ. đến nơi xử, sau khi quân
lính tháo gông xiềng, người chiến sĩ đức tin liền đón lấy, trao
cho người lính cạnh bên và nói : "Xin nhờ anh đưa dùm cái này
cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm". Mẹ anh đứng gần nên nghe rất rõ,
nhưng bà chưa lấy kỷ vật đó làm đủ, bà còn muốn đón nhận chính
thủ cấp của con mình nữa.</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Chiêng trống nổi lên, lý hình vung gươm, dầu vị tử đạo 21 tuổi
rơi xuống. Bà mẹ anrê Trông chứng kiến ngay từ giây phút đầu tại
pháp trường, bà thỏa lòng dù rất khổ đau, bước ra đòi viên chỉ
huy trao thủ cấp con bà. Bọc trong vạt áo rồi ghì chặt vào lòng,
bà vừa hôn vừa lắp lại : "Ôi con yêu quý của mẹ, con nhớ cầu
nguyện cho mẹ nhé !".</p>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Ngày 27.5.1900, Đức Lêo XIII suy tôn người chiến sĩ anh hùng
Anrê Trông lên hàng Chân Phước. Ngài không ngớt lời ca ngợi mẫu
gương của bà mẹ hào hùng, đã họa lại gần trọn vẹn hình ảnh Đức
Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo xưa trên đỉnh Can-vê. </p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển
thánh.</p>
<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
<font face="Arial" size="3"><strong>Trường thi tử đạo</strong></font></h2>
<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
Anrê Trần Văn Trông binh sĩ<br>
Sinh Giáp Tuất (1814) địa chỉ Kim Long<br>
Gia đình nghèo khó trắng trong<br>
Người cha mất sớm phải vòng gian nan<br>
<br>
Cậu bỏ học lo toan giúp mẹ<br>
Theo bà con mau lẹ học nghề<br>
Dệt tơ thợ đúc say mê<br>
Gia công cơ sở thuộc về nhà vua<br>
<br>
Cậu chăm chỉ chẳng ưa lêu lổng<br>
Chiều đi câu bãi trống Sông Hương<br>
Làm nghề dệt ít đồng lương<br>
Trông từ giã mẹ lên đường tòng quân<br>
<br>
Sau tám tháng phong trần quân ngũ<br>
Bị Triều Ðình chụp mũ trái sai<br>
Ai người Công giáo phải khai<br>
Trông không sợ hãi ngày mai nhận liền<br>
<br>
Bạn đồng đội trong miền kéo tới<br>
Quan loan truyền lệnh mới vua ban<br>
Quân nhân đều phải sẵn sàng<br>
Bước qua Thánh giá khỏi sang lý hình<br>
<br>
Mười ba người chiến binh Công giáo<br>
Ðều tuyên xưng mạnh bạo đức tin<br>
Quan tra tấn cho đứng nhìn<br>
Mười hai bỏ cuộc sợ kìm kẹp gông<br>
<br>
Còn trụ lại Trần Trông anh dũng<br>
Qua Thánh giá Trông cũng co chân<br>
Tấn tra anh rất nhiều lần <br>
Nhốt anh vô trại lãnh phần khổ đau<br>
<br>
Cho thời hạn năm sau mới xử<br>
Anh cho là Chúa thử lòng mình<br>
Luôn luôn sốt sắng nguyện kinh<br>
Tâm hồn vững mạnh Thánh Linh hộ phù<br>
<br>
Anh chia sẻ bạn tù lính gác<br>
Ðược tiếp quà chia chác đệ huynh<br>
Lính canh trong chốn ngục hình<br>
Cũng đều quý mến nghĩa tình giúp anh<br>
<br>
Viên cai ngục đã dành ưu đãi<br>
Cho về nhà có phái lính theo<br>
Cha Ngôn ngồi ở thuyền chèo<br>
Anh Trông quỳ xuống ngước theo nhìn trời<br>
<br>
Lãnh phép lành nói lời tha tội<br>
Anh xin rước lễ vội về nhà<br>
Niềm vui hội ngộ thiết tha<br>
Mẹ con mừng rỡ như là tái sinh<br>
<br>
Một năm nhốt tính tình không đổi<br>
Anh Trần Trông thúc hối lý hình<br>
Tháo gươm đón nhận hy sinh<br>
Anh nhờ đưa hộ mẹ mình chiếc gông<br>
<br>
Làm kỷ niệm khi trông thấy nó<br>
Là mẹ hiền sẽ ngó thấy con<br>
Chiêng cồng vang tiếng kêu giòn<br>
Cùng hai trộm cướp đầu con lìa mình<br>
<br>
Lòng dũng cảm hy sinh tử đạo<br>
Năm Kỷ Mùi (1835) loan báo hồng ân<br>
Trao thủ cấp con, mẹ cầm<br>
Vừa hôn vừa khóc thì thầm tạ ơn<br>
<br>
Bà đã bọc giản đơn vạt áo<br>
Trên đường về mếu máo khóc thương<br>
Chôn con chính giữa từ đường<br>
Trong nhà ngôi mộ xác xương con mình<br>
<br>
Ai hiểu thấu được tình mẫu tử<br>
Khi con mình bị xử chém đầu <br>
Hồng ân Thiên Chúa nhiệm mầu<br>
Suy tôn Canh Tý (1900) lên chầu Thiên nhan<br>
<br>
<b>Lời bất hủ:</b> 13 quân nhân nhận mình có đạo, nhưng không
chịu được cực hình, 12 lính đã đầu hàng, còn lại một mình Anrê
Trông vẫn một lòng trung kiên không quá khoá. Khi sắp bị xử án,
anh Trông gặp người anh họ, anh nói: "Em muốn ăn chay để dọn
mình tử đạo, rồi nói tiếp: Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là
anh em, mẹ em cũng yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: đừng
lo gì cho em cả, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện, và sẽ hài lòng
vì con trai mình luôn trung thành với Chúa cho đến chết".<br>
Bà mẹ chờ đón con trên đường đi xử, gặp con bà chỉ hỏi một câu
vắn: "Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần ai chăng,
nếu có thì cho mẹ hay, mẹ sẽ trả thay cho". Bà theo con đến pháp
trường. Khi lính chém đầu Anrê Trông, bà kêu lớn trước mặt quan:
"Ðây là con tôi, đứa con mà tôi đã cưu mang dưỡng dục. Giờ này
nó vẫn là con tôi, xin các ông trả lại tôi cái đầu của con tôi".
Nói xong bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp đẫm máu của người
con yêu quý, rồi đem về mai táng trong nhà. </td>
</tr>
</table>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
</tr>
</table>
<p align="center"> </p>
</body>
</html>