File "The_StephanoTheodoreCuenot.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/The_StephanoTheodoreCuenot.htm
File size: 30.19 KiB (30918 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Stêphanô Théodore Cuénot Thể</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Stêphanô Théodore Cuénot Thể</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/StephanoTheodoreCuenotThe.jpg" width="200" height="311"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Ðức Cha Thể (Etienne Théodore Cuénot), Sinh năm 1802 tại Belieu, 
				Besancon, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Ðông Ðàng 
				Trong, chết rũ tù ngày 14/11/1861 tại Bình Ðịnh dưới đời vua Tự 
				Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ 
				kínhvào ngày 14/11.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cuộc đời thánh 
				Giám mục Cuénot Thể với 32 năm phục vụ Giáo Hội Việt Nam, 26 năm 
				trong chức vụ Giám mục, gắn liền với những trang sử đẹp nhất, 
				giữa một giai đoạn khó khăn nhất thời bách hại. Nhiệt tâm truyền 
				giáo của ngài như ngọn thủy triều dâng tràn đến mọi nơi. Với tài 
				đức khéo léo, ngài đã đào tạo một đội ngũ linh mục xuất sắc và 
				hàng ngàn thày giảng, nữ tu hăng say. Với châm ngôn &quot;Để tín hữu 
				vững tin, phải đào tạo những tông đồ truyền giáo&quot;, nên dù cho 
				bao linh mục, tu sĩ, giáo dân của ngài bị tàn sát, giáo phận 
				Đàng Trong của ngài vẫn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tách làm bốn 
				giáo phận. Số linh mục, tu sĩ, tân tòng gia tăng nhanh mỗi năm, 
				sẽ mãi mãi là bằng chứng của nhiệt tâm và tài tổ chức của ngài.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Stêphanô Théodore 
				Cuénot sinh ngày 08.02.1802 tại Sous Réamont thuộc Bélieu nước 
				Pháp. Lớn lên cậu vào chủng viện Besancon, trung tâm huấn luyện 
				của cha Réceveur, và thụ phong linh mục ngày 24.09.1825. Tuy 
				thế, hoài bão chính của tân linh mục là đi truyền giáo. Năm 
				1828, cha Cuénot xin gia nhập hội Thừa Sai Paris, và năm sau 
				được cử đến Việt Nam. Ngày 31.5.1829, cha đến Kẻ Vĩnh, giáo phận 
				Đàng Ngoài. Ngày 24.7, cha vào Miền Nam.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mới đầu cha được 
				gửi đến Lái Thiêu để học thêm tiếng Việt, đồng thời dạy các 
				chủng sinh ở đó. Bốn năm dạy ở chủng viện, tuy là thời gian ngắn 
				ngủi, nhưng cũng đủ để cha hiểu nhiều về phong hóa địa phương, 
				gắn bó với các cộng tác viên trong tương lai. Năm 1833, vua Minh 
				Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc, triệt hạ các nhà thờ, 
				tập trung các thừa sai và bắt các tín hữu phải bỏ đạo. Vì mới 
				lần đầu va chạm với bách hại, các tín hữu khi đó chưa giám chứa 
				chấp các vị thừa sai. Đức cha Tabert Từ liền quyết định đưa các 
				vị di tản qua Thái Lan. Cha Thể phụ trách việc di tản 15 chủng 
				sinh. Sau hơn một tháng rưỡi hành trình vất vả, đoàn người đã 
				đến Thái Lan và được vua Thái tiếp đón lồng nhiệt.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thời gian đó, Thái 
				Lan và Việt Nam đang có chiến tranh, nên vua Thái Lan muốn nhờ 
				các vị thừa sai kêu gọi dân Công Giáo chống lại vua Minh Mạng. 
				Dĩ nhiên là Đức cha Tabert Từ không thể nào chấp nhận, nhài 
				cương quyết từ chối. Điều đó làm Thái Hoàng nổi giận và thay đổi 
				cách cư xử. Nhà vua ra lệnh bắt giam ba linh mục và các chủng 
				sinh Việt Nam. May là nhờ tài ăn nói thuyết phục của cha Thể, 
				vua mới nương tay và cho họ đến ẩn náu tại chủng viện Pénang (Mã 
				Lai) năm 1834. Cha nói:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Bằng mọi giá phải 
				lo cho họ. Như tôi (một thừa sai) chết, người ta có thể gửi 
				người khác thay thế chậm lắm là một năm. Một linh mục, chủng 
				sinh Việt Nam nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có người 
				thay thế được&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cũng năm đó, vì 
				không ủng hộ Thái Lan đánh Việt Nam, Đức cha Tabert Từ lại phải 
				chạy đến Singapour.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy sống cách xa 
				nghìn dặm, Đức cha, cha Thể và các vị thừa sai vẫn hướng tâm hồn 
				về Giáo Hội Việt Nam đang lâm cảnh máu chảy đầu rơi, vừa thương 
				xót vừa thán phục, các ngài tìm cách trở lại miền đất truyền 
				giáo này. Năm 1835, Đức cha Tabert có quyết định mới. Khi thấy 
				trên mảnh đất Lạc Hồng chỉ còn hai thừa sai và 10 linh mục Việt 
				Nam, Đức cha liền đáp tàu sang Pénang, truyền chức Giám mục cho 
				cha Thể, chọn làm phụ tá mình, và cử vị tân Giám mục cấp tốc trở 
				về giáo phận.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trở lại Việt Nam 
				trong những ngày bách hại khốc liệt, sự hiện diện của Đức cha 
				Thể quả là niềm an ủi lớn lao cho các tín hữu. Đặt trụ sở tại Gò 
				Thị, tỉnh Bình Định, Đức cha thấy mình không thể đi thăm hết các 
				họ đạo được, ngài liền việt thư luân lưu gửi đến khắp nơi để cổ 
				võ tinh thần đạo đức của giáo hữu. Từ nay tất cả các biến cố 
				trong giáo phận : Những cuộc càn quét của quân lính, những chứng 
				nhân bị bắt giam, những cuộc tử đạo, cho đến những thành quả 
				tông đồ, đều được người cha chung giáo phận cảm thông, viết thư 
				khen ngợi, ủy lao hay khích lệ. Nhờ đó, các linh mục và giáo hữu 
				đều thấy thêm can đảm.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Việc Đức cha bận 
				tâm nhất là số các linh mục phục vụ. Ngoài hai linh mục đã theo 
				ngài về từ Thái Lan, năm 1835, Đức cha truyền chức cho 10 thày 
				giảng. Năm sau, ngài xin Hội Thừa Sai thêm sáu linh mục. Là 
				người sáng suốt nhìn xa trông rộng, Đức cha cho tái lập hai 
				chủng viện, một hở Huế trao cho cha Candalh Kim và một ở miền 
				Nam trao cho cha Lefèbvre Nghĩa. Đồng thời Đức cha cũng gọi các 
				nữ tu Mến Thánh Giá trước đây đã phải phân tán về gia đình (250 
				dì) trở lại sống chung và hoạt động trong 18 nhà phước.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 31.7.1840, 
				Đức cha Tabert Từ qua đời tại Calcutta (Ấn Độ), Đức cha Thể 
				chính thức làm đại diện Tông tòa. Năm sau ngài tổ chức lễ tấn 
				phong cho tân Giám mục Lefèbvre Nghĩa làm phụ tá. Lợi dụng tình 
				hình lắng dịu hơn, ngài tổ chức Công Đồng Gò Thị (1841) gồm ba 
				thừa sai và 13 linh mục Việt trong giáo phận (1). Công Đồng dưới 
				sự điều khiển của Đức cha Thể, đã đưa ra những nguyên tắc sáng 
				suốt để đào tạo một lớp linh mục bản xứ đông đảo và nhiệt thành. 
				Nếu việc mở chủng viện khó khăn, mỗi thừa sai có trách nhiệm dạy 
				sáu bảy em, rồi gửi qua Pénang học bảy năm. Họ sẽ về Việt Nam 
				thụ phong linh mục và làm việc. Cách tổ chức ấy trong thực tế đã 
				cung cấp cho giáo phận Đàng Trong một số khá đông linh mục thông 
				thái và đạo đức.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dù hoàn cảnh khó 
				khăn, Đức cha vẫn quan tâm đến việc nâng cao kiến thức và nhân 
				đức cho hàng giáo sĩ, mỗi năm ngài gởi cho các linh mục những 
				bài học hỏi về tín lý, luân lý. Các cha sẽ việt bài nộp trong kỳ 
				tĩnh tâm hàng năm. Sau đó, chính Đức cha đọc, sửa bài và gửi thư 
				nhắn nhủ cho từng linh mục. Đối với giáo hữu, Đức cha chủ trương 
				rằng &quot;Phương pháp tốt nhất để đức tin của các giáo hữu vững vàng 
				là đào tạo họ thành những tông đồ truyền giáo&quot;. Thực vậy, nhờ 
				giải thích cho các khác về giáo lý, các giáo hữu ngày càng xác 
				tín hơn về niềm tin của mình. Hơn nữa, họ tự thấy nghĩa vụ làm 
				gương cho anh em tân tòng về đời sống đạo và tinh thần can đảm 
				giữ vững đức tin.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đối với những giáo 
				hữu vì sợ hãi đã xuất giáo, đạp lên Thánh Giá, Đức cha sẵn lòng 
				thay mặt Chúa tha thứ. nhưng ngài xin họ nhận một điều kiện là 
				hứa giúp cho một lương dân theo đạo Công Giáo. Bên cạnh đó, hàng 
				năm Đức cha làm thống kê báo tin xứ đạo nào có nhiều tân tòng 
				hơn, khiến các xứ thi đua làm việc tông đồ. Đặc biệt phải nói 
				đến lòng can đảm của các nữ tu Mến Thánh Giá. Các chị chia nhau, 
				cứ hai người một, đi hết các làng mạc, phát thuốc men cho bệnh 
				nhân, và khi có thể, rửa tội cho trẻ em sắp chết. Năm 1835, khi 
				Đức cha mới về Việt Nam, số trẻ em ngoại giáo được rửa tội là 
				133 em, thì năm 1841 là 1800 em và năm 1843 là 8273 em. Năm 
				1844, số trẻ em gia đình Công Giáo được rửa tội là 5056 thì số 
				người lớn trở lại và rửa tội là 1007, nghĩa là 20 phần trăm.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhiều giáo hữu sẵn 
				sàng bỏ tiền bạc, cong sức nuôi dùm trẻ em những người quá 
				nghèo, chỉ với điều kiện là cho em gia nhập đạo. Lòng bác ái sâu 
				xa ấy quả là bài giảng hùng hồn về sức sống của Giáo Hội. Nhiều 
				người thiện chí, và đôi khi cha mẹ các em cũng xin trở lại vì 
				những bài giảng sống này.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một công trình lớn 
				lao khác của Đức cha Thể là công cuộc truyền giáo cho các dân 
				tộc thiểu số miền Thượng du, đặc biệt là dân tộc Bahnar. Chính 
				Đức cha cử nhiều đợt người theo dõi, khích lệ và đưa ra những 
				chỉ đạo thích hợp để anh em Thượng nhận Anh Sáng Tin Mừng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Những thành công 
				lớn lao của Đức cha đã được Tòa Thánh công nhận năm 1844 khi 
				phân chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận Đông (Quy 
				Nhơn) và Tây (Sài Gòn). Tiếp theo đến năm 1850, lại chia làm bốn 
				là Nam Vang, Sài Gòn, Bắc (Huế) và Quy Nhơn. Từ đây Đức cha Thể 
				chỉ coi sóc giáo phận Đông Đàng Trong, nhưng lại ở trong tình 
				hình bách hại mới gay gắt hơn nhiều.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong 10 năm liền, 
				nhờ sự che chở của các tín hữu và các nữ tu Mến Thánh Giá, Đức 
				cha và các linh mục thoát khỏi cuộc truy lùng. Thế nhưng các 
				ngài phải thay đổi chỗ ở liên tục, nhiều đêm ngủ ngoài trời &quot;đêm 
				sao&quot;, có lúc phải vào rừng sâu hay đầm lầy, chịu đói chịu khát, 
				chịu khí hậu thất thường và nhiều lần suýt chết trong khi thăm 
				viếng bệnh nhân hay giải tội cho người hấp hối. Thế mà trong 
				thời gian này, Đức cha duy trì thường xuyên mối liên lạc với tòa 
				Thánh. Đặc biệt khi được hỏi về tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, ngài 
				đã trao đổi với các linh mục trong giáo phận, rồi gửi thư bày tỏ 
				lòng kính mến Đức Maria của dân Việt cho Tòa Thánh. Cuối thư Đức 
				cha viết :</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Xin Đức Thánh Cha 
				cho được hiệp thông trong lời cầu nguyện cùng với tất cả các 
				Giám mục khác trong ngày Đức Thánh Cha long trọng công bố tín 
				điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1861, chiếu 
				chỉ &quot;phân sáp&quot; của vua Tự Đức làm Giáo Hội Việt Nam một phen 
				điêu đứng. Đức cha Thể đã khuyên các thừa sai trong giáo phận đi 
				tản vào Sài Gòn, nhưng chính ngài tình nguyện ở lại, ngài đưa ra 
				một phương châm bất hủ : &quot;Dù chỉ còn một thừa sai chẳng làm được 
				gì ngoài việc đọc kinh thần vụ, thì nguyên việc hiện diện của vị 
				đó đủ để nâng đỡ niềm tin và sinh hoạt của tín hữu rồi&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Từ tháng 10, Đức 
				cha phải bỏ Gò Thị trốn từ nhà này sang nhà khác. Ngày 
				24.10.1861, ngài đang ẩn ở nhà bà Madalena Huỳnh Thị Lựu thì 
				quân lính bao vây nhà bà…</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức cha và hai chú 
				giúp lễ kịp trốn xuống hầm, nhưng vì vừa dâng lễ xong chưa kịp 
				cất giấu đồ lễ. Vì chứng cớ ấy mà quân lính thề phá nhà, nếu 
				không tìm thấy đạo trưởng Tây Dương. Mọi người trong nhà đều bị 
				tra tấn, bà Lựu bị đánh đòn 17 roi. Sau hai ngày và một đêm ở 
				dưới hầm, Đức cha và hai chú giúp lễ khát khô cả cổ. Vả lại vì 
				quân lính chẳng bỏ đi, nếu chưa bắt được Đức cha, nên ngài tự ra 
				nộp mình. Vừa thấy ngài, quân lính chồm tới trói tay chân ngài 
				lại như một con thú. Nhưng viên chỉ huy nhân đạo hơn, cho cởi 
				trói và mời ngài ngồi chiếu nói truyện với ông ta.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hôm sau, Đức cha 
				bị nhốt trong cũi đưa về tỉnh. Hai chú giúp lễ, bà Lựu và hai 
				người lân cận cũng bị mang gông giải đi (sau này tất cả cùng bị 
				xử tử tháng 12). Bà Lựu vừa cho con bú vừa ra pháp trường, rồi 
				hôn con lần cuối trao lại cho bà ngoại. Tháng 10 năm đó, miền 
				Trung bị lụt, nước dâng lên đến lưng, nên ngồi trong cũi chật 
				chội, Đức cha cũng bị ngập nước. Do đó, khi đến nhà giam thì Đức 
				cha lâm trọng bệnh. Chứng kiết lị làm sức khỏe ngài càng đuối 
				dần, vì thế ngài chỉ phải ra tòa một lần. Quan hỏi:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Tại sao ông sang 
				nước tôi?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thưa, để giảng 
				đạo Thiên Chúa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Ông ở đây bao 
				lâu rồi?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Ba mươi bốn năm.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Ông đã ở những 
				đâu?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thưa, trước hết 
				là Bình Định rồi Phú Yên, Bình Thuận và lại trở về Bình Định.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Ông biết gì về 
				chiến tranh không?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thưa, không biết 
				gì cả. Tôi đến đây chỉ để giảng đạo, khi nơi này khi nơi khác 
				thế thôi. Quan hành hạ thế nào tôi cũng đành chịu, chứ tin tức 
				chiến tranh tôi hoàn toàn không biết gì cả.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trở về với chiếc 
				cũi của mình, cơn bệnh khắc nghiệt chỉ trong vòng ba tuần lễ đã 
				làm Đức cha kiệt sức và thở hơi cuối cùng ngày 14.11.1861, kết 
				thúc 32 năm truyền giáo không một ngày bình an.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hôm sau, ngày Đức 
				cha qua đời, bản án trảm quyết từ Huế mới đến Bình Định. Thấy 
				ngài đã từ trần, quan Trấn thủ Bình Định không cho chém nữa, 
				truyền đem đi chôn, những tín hữu đang bị tù xin phép mua cho 
				Đức cha một áo quan xứng đáng, nhưng Trấn thủ không chấp thuận. 
				Nhưng sau đó, triều đình lại gửi ra một bản án mới ghi thế này : 
				&quot;Tây dương đạo trưởng Thể đã lấn lút trong nước ta 40 năm nay. Y 
				đã giảng đạo và lừa dối dân chúng. Bị bắt và tra hỏi, y đã thú 
				nhận mọi tội lỗi. Lẽ ra phải đem chém đầu y bêu lên giữa chợ, 
				nhưng vì y đã chết trong tù, ta truyền phải quăng xác y xuống 
				sông&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chiếu theo bản án 
				ấy, quan Trấn thủ cho đào mồ Đức cha lên để liệng thi hài Đức 
				cha xuống sông. Mặc dù Đức cha Cuénot Thể không đổ máu vì đức 
				tin, nhưng căn cứ vào bản án và muôn ngàn nỗi truân chuyên ngài 
				đã chịu vì đạo, Giáo Hội tôn kính Đức cha với tước hiệu tử đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 02.05.1909, 
				Đức Piô X nêu danh Đức cha Stêphanô Théodore Cuénot Thể đứng đầu 
				danh sách 20 vị tử đạo tại Việt Nam được suy tôn lên bậc Chân 
				Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên 
				hàng Hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right">
				<strong style="font-weight: 400"><em><font size="2">Nguồn từ tu 
				viện Đa Minh </font></em></strong><br>
&nbsp;</p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường Thi Tử Đạo </font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thánh Cuénot Thể 
				sinh năm Nhâm Tuất (1802)<br>
				Tại Réamont đẹp nhất Paris<br>
				Nhà tu là hướng cậu đi<br>
				Xin vào Chủng viện danh ghi hàng đầu<br>
				<br>
				Cha Récévent đỡ đầu thầy Thể<br>
				Học giỏi giang phải kể tên thầy<br>
				Tám năm Chủng viện đẹp thay<br>
				Lãnh chức linh mục năm thầy hăm ba (23 tuổi)<br>
				<br>
				Linh mục mới xin qua truyền giáo<br>
				Hội thừa sai giảng đạo Paris<br>
				Việt Nam tình nguyện xin đi<br>
				Kỷ Sửu (1829) cha đến Bắc Kỳ êm xuôi<br>
				<br>
				Ở đây tạm nghỉ ngơi học tiếng<br>
				Thỉnh thoảng ngài thăm viếng giáo dân<br>
				Làm quen tập quán dần dần<br>
				Miền Nam lúc đó đang cần cha đi<br>
				<br>
				Ðến Lái Thiêu đang khi Chủng viện<br>
				Cần giáo sư thực hiện triết thần<br>
				Ðây là một điểm dừng chân<br>
				Ðể cha hiểu rõ nguyên căn xứ người<br>
				<br>
				Ðược bốn năm tạm thời yên ổn<br>
				Bổng một ngày thương tổn tới mau<br>
				Vua Minh Mạng gieo thương đau<br>
				Cấm đạo toàn quốc đâu đâu thi hành<br>
				<br>
				Các thừa sai nay đành tạm lánh<br>
				Sang Thái Lan ở tránh ít lâu<br>
				Vua Thái Trọng đãi ban đầu<br>
				Lợi dụng chẳng được về sau phủ phàng<br>
				<br>
				Nhờ tài năng giỏi giang cha Thể<br>
				Về sau này họ để tạm yên<br>
				Cho về Chủng viện trong miền<br>
				Về sau lại chuyển láng giềng Gapo (Singapo)<br>
				<br>
				Chức Giám mục ban cho cha Thể<br>
				Về Việt Nam cốt để tăng cường<br>
				Chỉ huy Giáo hội địa phương<br>
				Yên ủi giáo hữu đảm đương Chánh toà<br>
				<br>
				Quả thật vậy khi cha nhận chức<br>
				Viết thư chung lập tức gởi đi<br>
				Các cha giáo hữu các dì<br>
				Thầy tu ngài dạy thực thi lúc này<br>
				<br>
				Việc truyền giáo thế thay linh mục<br>
				Các giáo dân phải thực hiện ngay<br>
				Một người con Chúa hôm nay<br>
				Làm sao lôi cuốn trong tay hai người<br>
				<br>
				Cũng năm ấy ngài thời truyền chức<br>
				Cho mười thầy linh mục tài ba<br>
				Chủ trương ngài rất sâu xa<br>
				Dòng tu giải tán nay là tập trung<br>
				<br>
				Cả Giáo phận như bừng tỉnh lại<br>
				Bổ sung vào thiệt hại vừa qua<br>
				Cha Kim Chủng viện Huế mà<br>
				Cha Nghĩa coi sóc ruột rà miền Nam<br>
				<br>
				Bao công việc đang làm dang dở<br>
				Ðức Cha Từ ngài nỡ chết đi<br>
				Ðức Cha Thể thế cấp kỳ<br>
				Năm sau Ðức (Cha) Phó cũng thì đăng quang<br>
				<br>
				Cộng đồng ngài lo toan tổ chức<br>
				Tại Gò Thị mặc sức thi tài<br>
				Bổn phận của các thừa sai<br>
				Mỗi vị bảy cháu tương lại dạy kèm<br>
				<br>
				Rồi sau đó ngài đem qua gởi<br>
				Tại Pénang học hỏi bảy năm<br>
				Về xứ linh mục tấn phong<br>
				Có đủ linh hướng trong vòng mười năm<br>
				<br>
				Việc truyền giáo chú tâm dân tộc<br>
				Người thượng du đơn độc Cờ-me<br>
				Giúp đỡ giáo dục chở che<br>
				Mở mang nước Chúa khuyên nghe điều lành<br>
				<br>
				Ðức Cha Thể nổi danh tài giỏi<br>
				Tại Rôma cũng gởi thư khen<br>
				Giáo hội ngày một đi lên<br>
				Dòng tu nam nữ ở bên giúp ngài<br>
				<br>
				Vẫn cứ tưởng tương lai Giáo hội<br>
				Nào ai ngờ vận hội đau thương<br>
				Vua Tự Ðức chọn con đường<br>
				Tiêu diệt Công giáo thảm thương quá chừng<br>
				<br>
				Lệnh phân sáp bỗng dưng ban xuống<br>
				Các thừa sai chạy hướng Sài Gòn<br>
				Miền Trung khi ấy chỉ còn<br>
				Mình Ðức Cha Thể sắt son đến cùng<br>
				<br>
				Hễ thấy chúng đi lùng lại trốn<br>
				Thoát vòng vây cũng bốn năm lần<br>
				Không nơi nào ở yên thân<br>
				Ngày kia cha định cuối tuần nghỉ ngơi<br>
				<br>
				Nhà bà Lựu là nơi kín đáo<br>
				Trong nhà còn cửa tháo hầm sâu<br>
				Ai ngờ một cảnh thương đau<br>
				Bủa quân vây kín đường đâu ra ngoài<br>
				<br>
				Khám xét mãi tìm ngài không thấy<br>
				Bà chủ nhà chịu mấy chục roi<br>
				Ðức Cha cầu nguyện than ôi<br>
				Thà rằng ta chết họ thôi đánh bà<br>
				<br>
				Trong hầm kín chui ra tự nạp<br>
				Chúng hò reo đàn áp trói ngay<br>
				Viên đội trưởng lại nương tay<br>
				Bắt quân cởi trói ngồi đây uống trà<br>
				<br>
				Giải về tỉnh nhốt (Ðức) Cha trong củi<br>
				Lúc tuổi già gặp buổi gian nan<br>
				Ðau bệnh không có thuốc thang<br>
				Cho nên sức khoẻ ngày càng giảm suy<br>
				<br>
				Ðức Cha Thể trong khi quan hỏi<br>
				Tại làm sao ông ở nước tôi<br>
				Tôi đi giảng đạo Chúa Trời<br>
				Là Ðấng tạo dựng mọi loài thế gian<br>
				<br>
				Ông gan hỏi việc quan không biết<br>
				Sức khoẻ ngài cạn kiệt tắt hơi<br>
				Ðức Cha Thể chết than ôi<br>
				Vào năm Tân Dậu (1861) muôn đời tiếc cha<br>
				<br>
				Lệnh chết chém ban ra đã muộn<br>
				Thấy chết rồi quan muốn cho chôn<br>
				Về sau ban tiếp lệnh luôn<br>
				Ðào lên đem xác quẳng liền giữa sông<br>
				<br>
				Ðức Cha Thể ghi công hạng nhất<br>
				Lãnh đạo ngài thật rất tài ba<br>
				Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh ban ra<br>
				Suy tôn Chân phước Ðức Cha tuyệt vời<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ: </b>Ðối với Giáo phận Ðức Cha chủ trương: &quot;Phương 
				pháp tốt nhất để đức tin của giáo hữu vững vàng là đào tạo họ 
				thành những tông đồ&quot;.. Chỗ khác Ngài lại nói: &quot;Bằng mọi giá phải 
				lo cho họ. Như tôi (một thừa sai) chết, người ta có thể gửi 
				người khác thay thế chậm lắm là một năm. Một linh mục, chủng 
				sinh Việt Nam nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có người 
				thay thế được&quot;. Vì sức khoẻ ngài yếu nên chỉ phải ra toà một lần 
				để quan tra hỏi:<br>
				Quan: Tại sao ông sang nước tôi?<br>
				Ð.Cha: Ðể giảng đạo Thiên Chúa.<br>
				Hỏi: Ông ở đây bao lâu rồi?<br>
				Ðáp: Ba mươi tư năm<br>
				Hỏi: Ổng đã ở những đâu?<br>
				Ðáp: Trước hết là Bình Ðịnh rồi Phú Yên, Bình Thuận và lại trở 
				về Bình Ðịnh.<br>
				Hỏi: Ông biết gì về chiến tranh không?<br>
				Ðáp: Không biết gì cả, tôi đến đây chỉ để giảng đạo, khi nơi này 
				khi nơi khác thế thôi. Quan hành hạ tôi thế nào tôi cũng đành 
				chịu, chứ tin tức chiến tranh tôi hoàn toàn không biết gì cả .<br>
				Trở về cũi, mọi sự khắc nghiệt, ngài kiệt sức và trút hơi thở 
				cuối cùng ngày 14-11-1861.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager