File "Thanh_AneLeThi.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Thanh_AneLeThi.htm
File size: 22.4 KiB (22935 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
@font-face
{font-family:"Cambria Math";
panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
mso-font-charset:1;
mso-generic-font-family:roman;
mso-font-format:other;
mso-font-pitch:variable;
mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
{}
.MsoChpDefault
{font-size:10.0pt;
}
@page Section1
{size:612.0pt 792.0pt;
margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Anê Lê Thị Thành (1781-1841) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<!--[if !mso]>
<style>span.contents
{}
span.small
{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:18.0pt;
font-family:"Times New Roman";
font-weight:bold}
h1
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:24.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
}
span.submitted
{}
h4
{margin-top:12.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:3.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:14.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
font-weight:bold}
h3
{margin-top:10.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:0cm;
margin-left:0cm;
margin-bottom:.0001pt;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:11.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
color:#4F81BD;
font-weight:bold}
span.author
{}
span.longtext
{}
</style>
<![endif]-->
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" class="MsoNormal" align="right">
<b><font face="Arial" color="#0000FF">Anê Lê Thị Thành (1781-1841) </font></b></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tr>
<td width="200" valign="middle">
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
<img border="0" src="../_HinhAnh/AneLeThiThanh.jpg" width="200" height="301"></td>
<td width="270" valign="bottom">
<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê), Phụ nữ có chồng; sinh năm 1781 tại
Bái-Ðền, Thanh Hóa; chết rũ tù ngày 12 tháng 7 năm 1841, tại
Nam-Ðinh. Ngài sanh trưởng trong một gia đình công giáo và là mẹ
của 6 người con. Ngài bị bắt khi đem thư của các vị thừa sai bị
nhốt trong tù, và bị bắt. Phong Á Thánh 1909. Ngày Lễ: 12 tháng
7.</td>
</tr>
<tr>
<td colspan="2">
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
<b>Thánh nữ tiên khởi Việt Nam</b><br>
<br>
Nhìn lại lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, số chị em phụ nữ
góp phần xương máu làm chứng đức tin không phải là ít. Tuy nhiên
tinh thần kiên cường bất khuất vì Đức tin kitô giáo của thánh nữ
Anê Lê thị Thành là một mẫu gương hiếm có. Chính quan tổng đốc
Trịnh Quang Khanh nổi tiếng "hùm xám tỉnh Nam" (Nam Định) cùng
đành phải bất lực trong việc thuyết phục bà chối đạo. Quan áp
dụng nhiều phương thế, từ khuyên dụ ngon ngọtt đến tra tấn nhục
hình, gông xiềng, đòn đánh đến tan nát thân mình, cũng không thể
lung lạc đức tin trung kiên của thánh nữ. Những giọt máu tung
toé vì đòn vọt đã trở nên những bông hoa hồng kết thành triều
thiên tử đạo, phần thưởng tuyệt hảo Thiên Chúa trọng thưởng :
Anê Lê thị Thành, thánh nữ tiên khởi của Giáo Hội Công Giáo Việt
Nam.<br>
<br>
<b>Người mẹ gương mẫu</b><br>
<br>
Anê Lê thị Thành sinh khoảng 1781 tại làng Bái Điền, huyện Yên
Định, tỉnh Thanh Hoá. Ngay từ nhỏ, cô Thành đã theo Mẹ về quê
ngoại ở Phúc Nhạc, một giáo xứ lớn nay thuộc giáo phận Phát
Diệm, tỉnh Ninh Bình. Năm 17 tuổi cô kết hôn cùng anh nguyễn Văn
Nhất, người cùng xã, và sống với nhau rất hạnh phúc, thuận hoà
sinh hạ được hai con trai tên Đê và trân và bốn gái : Thu, Năm,
Nhiên, Nụ. Tục lệ địa phương thường gọi tên cha mẹ bằng tên
người con đầu lòng, vì thế mới có tên ông Đê, bà Đê. Hai ông bà
sống hiền lành đạo đức, rất quan tâm đến việc giáo dục con cái.
Cô Lucia Nụ, con gái út cung khai khi giáo quyền thẩm vấn trong
việc điều tra phong thánh như sau :<br>
<br>
"Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục chúng tôi. Chính
người dạy chúng tôi học chữ và giáo lý, sau dạy cách tham dự
thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng
nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc dục chúng
tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội con Đức Mẹ,
vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ".<br>
<br>
Một người con khác, cô Anna Năm cũng xác minh : "Song thân chúng
tôi chỉ gả con gái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi
kết hôn thân mẫu thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những
điều tốt lành. Có lần người dạy tôi : Tuân theo ý Chúa con lập
gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi
lời cha mẹ chồng. Hãy vui long đón nhận Thánh Giá chúa gởi cho.
Người cũng thong khuyên vợ chồng tôi : "Hai con hãy sống hòa
hợp, an vui, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ".<br>
<br>
Bà Anê Đê thật là tấm gương sáng về đạo hạnh cho các bà mẹ công
giáo.<br>
<br>
<b>Từ bác ái đến tử đạo</b><br>
<br>
Ông bà Đê có long bác ái hay thương giúp đỡ người, nhất là trọng
kính và sốt sắng giúp đỡ các linh mục gặp khó khăn trong thời
cấm đạo. Ông bà dành một khu nhà đặc biệt để các linh mục thừa
sai trú ẩn. Chính đức ái đó đã đưa bà Đê đến phúc Tử Đạo.<br>
<br>
Tháng 03.1841 đời vua Thiệu Trị, có bốn linh mục hiện diện tại
làng Phúc Nhạc. Cha Berneux Nhân ở nhà ông tổng Phaolô Thức, cha
Galy Lý ở nhà ông Trùm Cơ, cha Thành ở nhà bà Đê và cha Ngân ở
một nhà khác.<br>
<br>
Một người tên Đễ theo giúp cha Thành muốn lập công và tham tiền
đã mật báo tin các linh mục trú ẩn cho quan Tổng Đốc Trịnh Quang
Khanh. Chính quan Tổng Đốc đích thân chỉ huy 500 lính đột xuất
bao vây làng Phúc Nhạc vào đúng sáng ngày lễ phục sinh
(14.04.1841). Quan truyền tập trung giáo dân lại để quân lính
lục soát từng nhà. Hai cha Thành và Ngân trốn thoát kịp. Cha
Nhân vừa dâng lễ xong vội rời khỏi nhà trọ, sang trốn trên gác
bếp nhà phước Mến Thánh Giá, nhưng vô tình để gấu áo ra ngoài kẽ
ván nên bị bắt trứơc nhất. Cha Lý được ông Trùm Cơ đưa sang vườn
nhà bà Đê ở sát bên. Bà Đê chỉ cho cha đường mương khô ở sau
vườn cạnh một bụi tre : "Xin cha ẩn dưới rãnh này, Đức Chúa Trời
gìn giữ thì cha thoát, bằng không cha và con đều bị bắt".<br>
<br>
Nói xong bà cùng con gái Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ
lên, nhưng quân lính đã trông thấy cha chạy qua vườn nhà bà, nên
họ đến bắt cha Lý và Đê, chủ nhà. Ông Trùm Cơ, bốn hương chức
trong làng và hai nữ tu Mến Thánh Giá Anna Kiêm và Anê Thanh
cũng bị bắt. Tất cả bị trói mang gông điệu ra đình làng. Nhà bà
Đê bị lục soát, thóc lúa, đồ dùng, tiền bạc đều bị lính lấy hết.
Khi bị bắt, bà Đê rất sợ hãi, nhưng khi điệu bà ra đình làng thì
gương mặt bà vui tươi và không có vẻ gì là sợ sệt nữa.<br>
<br>
<b>Mặc áo hoa hồng</b><br>
<br>
Quân lính áp giải các nạn nhân về Gia Định. Họ phải đi suốt đêm
rất cực nhọc. Bà Đê sức yếu, không chịu nổi gông quá nặng, phải
có người nâng đỡ nhiều lần. Tới thành Nam bà bị giam chung với
hai nữ tu. Sáu ngày sau ra trước công đường, quan tòa bắt bà
chối đạo bà đáp : "Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa, không bao giờ tôi
bỏ đạo Chúa muôn đời…"<br>
<br>
Các quan truyền đánh đòn bà. Lúc đầu lính đánh bằng roi, sau
dùng củi lớn quật vào chân bà. Bà không nản lòng, khi chồng bà
đến thăm, bà giải thích vì sao bà kiên tâm như vậy : "Họ đánh
đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn không chịu nổi, nhưng
tôi đã được Đức mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn"<br>
<br>
Đến lần thẩm vấn thứ hai, thứ ba thấy bà Đê vẫn một long trung
kiên, quân lính được lệnh vừa đánh vừa lôi bà qua Thánh Gia.
Nhưng bà sấp mình xuống đất, kêu lớn tiếng rằng : "Lạy Chúa, xin
thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa,
nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để để
cưỡng bách con đạp lên Thập Giá"<br>
<br>
Lần tiếp theo ra trước tòa, quan cho túm tay áo lại rồi thả rắn
độc vào trong áo, nhưng bà Đê vẫn giữ được bình tĩnh cách lạ
lùng. Bà đứng yên không hề nhúc nhích nên rắn không cắn, chỉ
lượn vài vòng rồi bò ra. Các quan truyền đánh bà dữ hơn nữa rồi
giam trong ngục. Nhưng bà đã kiệt sức, đi không nổi, phải có
người dìu. Một nhân chứng tên Đang, về sau cho biết : "Bà Anê Đê
đã bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân mình đầy máu mủ. Tuy vậy bà
vẫn vui vẻ, và còn muốn chịu khó hơn nữa". Quả thật bà đã thể
hiện trọn vẹn mối phúc thứ tám:</p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
"Tin yêu Chúa Tể muôn trùng ,<br>
Tan vàng nát ngọc chữ trung một lòng".<br>
<br>
Cô Lucia Nụ, đến thăm Mẹ trong ngục, thấy y phục thân mẫu loang
lỗ máu, cô thương mẹ khóc nức nở, bà an ủi con bằng những lời
tràn trề lạc quan : "Con đừng khóc nữa, mẹ mặc áo hoa hồng đấy,
mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?"<br>
<br>
Bà còn khuyên : "Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con
coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu
nguyện cho mẹ vác Thánh Giá chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con
ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên Đàng"<br>
<br>
Ngoài những cực hình tra tấn nặng nề và ăn uống kham khổ, bà còn
chịu thêm đau đớn của bệnh kiết lỵ. Hai nữ tu tận tâm săn sóc
bà, các linh mục gởi thuốc đến thăm, ban bí tích giải tội, xức
dầu và giúp bà. Trong giờ hấp hối người ta thường nghe bà cầu
nguyện : "Lạy Chúa, chúa đã chịu chết vì con, con hết long theo
thánh ý Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con".<br>
<br>
Cuối cùng bà dâng lời sau hết : "Giêsu Maria Giuse! Con xin phó
linh hồn và thân xác con trong tay Chúa, xin ban ơn cho con được
tuân theo ý Chúa trong mọi sự".<br>
<br>
Bà Anê Đê đã về nhà cha trên trời trong tinh thần thánh thiện
ấy. Hôm đó là ngày 12.07.1841, sau ba tháng bị giam cầm hy sinh
vì đức tin. Bà hưởng thọ 60 tuổi.<br>
<br>
Theo tục lệ, người lính cho đốt ngón chân bà để cho biết nạn
nhân không còn sống. Họ tẩm liệm thi hài vào quan tài do nhà
chung đem tới, rồi an táng tại pháp trường Năm Mẫu. Sáu tháng
sau, giáo hữu cải táng về Phúc Nhạc.<br>
<br>
Ngày 02.05.1909, Đức Piô X đã suy tôn chân phước cho bà Anê Lê
Thị Thành. Bà thực xứng danh là gương mẫu và là các bổn mạng các
bà mẹ Công Giáo Việt Nam. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II
suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.<br>
<br>
<b>Trường thi tử Đạo.</b><br>
<br>
Lê Thị Thành sinh năm Tân Sửu (1781)<br>
Tại Bái Ðiền tiêu biểu tỉnh Thành<br>
Khi cấm đạo rất nhiệt thành<br>
Giấu nuôi cha Thị nhà mình vào ra<br>
<br>
Xứ Phúc Nhạc bốn cha hiện diện<br>
Riêng cha Thành ẩn hiện một nhà<br>
Bà Ðê quý mến mời cha<br>
Về nhà bà ở để mà tránh quan<br>
<br>
Nhưng có kẻ tiền ham tên Ðễ<br>
Một thanh niên theo để giúp cha<br>
Tên này phản bội gian tà<br>
Manh tâm xảo quyệt hắn đà tố quan<br>
<br>
Làng Phúc Nhạc có hàng đạo trưởng<br>
Hắn ham tiền muốn hưởng lập công<br>
Quang Khanh huy động quân đông<br>
Khoảng năm trăm lính chính ông điều hành<br>
<br>
Vào sáng sớm Phục sinh cứu thế<br>
Bắt tập trung toàn thể giáo dân<br>
Lính đi lục soát xa gần<br>
Hai cha may mắn lẹ chân Ngân, Thành<br>
<br>
Cha dâng thánh lễ nhanh rời vi<br>
Gác bếp kia máng xối chui lên<br>
Vội vàng cha lỡ để quên<br>
Vô tình gấu áo ló bên xối nhà<br>
<br>
Bọn lính thấy hò la tới bắt<br>
Còn cha Lý chạy tắt Trùm Cơ<br>
Vườn bên ẩn nấp nương nhờ<br>
Bà Ðê lấy lá che hờ phủ lên<br>
<br>
Nhưng một lính đứng bên nhìn thấy<br>
Có bóng người vườn ấy chạy sang<br>
Bụi cây chúng bắt quả tang<br>
Bắt ngay cha Lý liên can chủ nhà<br>
<br>
Bắt bà Ðê rất là sợ hãi<br>
Lính trói ngay chúng giải đình làng<br>
Nơi đây trình diện với quan<br>
Bà Ðê gương mặt vững vàng vui tươi<br>
<br>
Nạn nhân điệu về nơi thị xã<br>
Ði suốt đêm mệt lả rã rời<br>
Bà Ðê sức yếu hụt hơi<br>
Mang gông quá nặng phải người tiếp tay<br>
<br>
Về Nam Ðịnh đưa ngay vô nhốt<br>
Ðược giam chung dịp tốt nữ tu<br>
Cùng nhau trao đổi trong tù<br>
Thêm lòng can đảm đòn thù tấn tra<br>
<br>
Trước quan tòa bắt bà bỏ đạo<br>
Bà đáp lời Chúa tạo muôn loài<br>
Tôn vinh Thiên Chúa quản cai<br>
Tôi luôn kính trọng thờ Ngài Chí Tôn<br>
<br>
Quan tức giận lính dồn đòn đánh<br>
Lính dùng roi với thanh củi dài<br>
Vô cùng hung dữ trần ai<br>
Bà luôn khẩn nguyện kêu nài Nữ Trinh<br>
<br>
Xin Mẹ hãy thương tình giúp đỡ<br>
Ðược kiên tâm luôn ở trong Cha<br>
Vì con yếu đuối đàn bà<br>
Nhiều lần thẩm vấn trước tòa quan quân<br>
<br>
Bà sấp mình nhiều lần kêu tiếng<br>
Xin Chúa thương đến viếng cứu con<br>
Ðể con giữ đạo vuông tròn<br>
Chồng con thăm viếng héo hon u buồn<br>
<br>
Nhưng bà vẫn luôn luôn an ủi<br>
Vinh danh Cha chớ tủi nản lòng<br>
Quan quân bạo lực không xong<br>
Chúng dùng mưu độc muốn hòng thắng thua<br>
<br>
Quan Tổng Ðốc cho đùa với rắn<br>
Túm áo quần bỏ rắn vào trong<br>
Toàn loài rắn độc lòng vòng<br>
Bà Ðê bình tĩnh rắn không cắn người<br>
<br>
Trịnh Quang Khanh ngồi cười khoái chí<br>
Rắn lượn vòng tự ý bò ra<br>
Quan quân tức giận quá mà<br>
Liền cho lính đánh đập bà dữ hơn<br>
<br>
Bà kiệt sức cô đơn trong ngục<br>
Nhưng ý bà tiếp tục nguyện cầu<br>
Cho con chịu khó dài lâu<br>
Thân mình đầy máu từ đầu đến chân<br>
<br>
Lời khẩn nguyện là lần sau hết<br>
Xin cho con được chết trong Cha<br>
Cuối cùng bà thở hắt ra<br>
Linh hồn siêu thoát Nước Cha vĩnh hằng<br>
<br>
Lễ an táng đất bằng Bảy Mẫu<br>
Sáu tháng sau phối ngẫu, giáo dân<br>
Cháu con thân thuộc xa gần<br>
Ðem về Phúc Nhạc mộ phần thánh nhân<br>
<br>
Phúc tử đạo lãnh phần Tân Sửu (1841)<br>
Phận nữ nhi nặng trĩu niềm tin<br>
Roma Toà Thánh hướng nhìn<br>
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) đức tin vững vàng<br>
<br>
Viết đôi nét về đàng gia tộc<br>
Chồng tới thăm phút chốc nhà tù<br>
Bà khuyên hãy sống khiêm nhu<br>
Trông coi con cái hộ phù Chúa ban<br>
<br>
Con thương mẹ nhà giam khổ cực<br>
Bà lại khuyên phải thực là ngoan<br>
Chăm lo đạo đức vững vàng<br>
Giúp cha sớm tối xóm làng thân thương<br>
<br>
Bà sống đạo tấm gương hậu thế<br>
Nghĩa vợ chồng dâu rể cháu con<br>
Gia đình hạnh phúc sắt son<br>
Thánh Ðê tử đạo mãi còn khắc ghi<br>
<br>
Bà thánh Ðê quê nội ở làng Bái Ðiền, huyện Yên Ðịnh, tỉnh Thanh
Hóa. Quê Ngoại ở làng Phúc Nhạc, tỉnh Nam Ðịnh. Năm 17 tuổi lập
gia đình quê ngoại với anh Nguyễn Văn Nhất, hạ sanh được 2 trai
4 gái bà hưởng thọ 60 tuổi.<br>
<br>
<b>Lời bất hủ:</b> Bà thánh Ðê khuyên các con: "Con hãy về (tức
chị Lucia Nụ) chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc
nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho
mẹ vác Thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn
tụ trên nước Thiên đàng". Khi chị Nụ thăm mẹ trong tù thấy y
phục loang lổ máu, khóc thương, mẹ an ủi: "Con đừng khóc, mẹ mặc
áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu sao con lại
khóc?". Khi chồng bà vào thăm, bà giải thích vì sao bà được kiên
tâm như vậy: "Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn
không chịu nổi, nhưng tôi đã được Ðức Mẹ giúp sức, nên tôi không
cảm thấy đau đớn". Quân lính được lệnh vừa đánh vừa lôi qua
Thánh giá. Nhưng bà sấp mình xuống đất kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa
xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin
Chúa, nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để
cưỡng bức con đạp lên Thánh giá". Cuối cùng bà đã dâng lời cầu
sau hết: "Giêsu Maria Giuse! Con xin phó linh hồn và thân xác
con trong tay Chúa, xin ban ơn cho con được tuân theo ý Chúa
trong mọi sự". </td>
</tr>
</table>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
</tr>
</table>
<p align="center"> </p>
</body>
</html>