File "Te_Phanxico.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Te_Phanxico.htm
File size: 43.35 KiB (44388 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Phanxicô Tế (1702-1745)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Phanxicô Tế (1702-1745)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/PhanxicoTe.jpg" width="200" height="300"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<strong>Phanxicô Tế</strong> (Francois Gil de Federich), Sinh 
				1702 tại Tortosa, Catalunha, Tây Ban Nha, Linh mục thừa sai dòng 
				Ða Minh, thuộc địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 
				22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa Trịnh Doanh, được phong 
				Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/01.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Các lệnh 
				cấm đạo năm 1750, 1754, và 1765</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cuối năm 1748, 
				Trịnh Doanh đi thăm các trại lính thấy khẩu đại bác có chữ Âu 
				Châu muốn biết xem là chữ gì liền ra lệnh tìm người Âu Châu. Cha 
				Paleceuk Dòng Tên được đưa đến để giải thích các chữ viết, đồng 
				thời khuyến khích chúa Trịnh tin dùng người Âu Châu làm cố vấn. 
				Ngay lúc đó Trịnh Doanh ra lệnh phóng thích 7 người Công Giáo 
				đang bị giam giữ ở Kinh Ðô và xin Cha Paleceuk tìm các chuyên 
				viên toán học và thiên văn. Bề trên Dòng Tên ở Macao sai Cha 
				Simonelli và 6 vị thừa sai với đầy đử dụng cụ thiên văn và toán 
				học đến. Trong thời gian này giáo dân bắt đầu tổ chức lễ lạy 
				công khai, nhiều quan trở lại đạo và lương dân thân thiện với 
				Công Giáo như trước.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhưng không biết 
				vì lẽ gì Trịnh Doanh lại đổi ý, ngày 3-7-1750 lập lại các lệnh 
				cấm đạo cũ. Năm 1751 khi đòan thừa sai từ Macao đến để làm việc 
				theo lời yêu cầu đã bị từ chối không cho phép xuống đất. Sau cha 
				Dòng Tên đã lẻn xuống được, còn cha trưởng đoàn phải trở về 
				Macao.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 26-10-1754, 
				Trịnh Doanh công bố một lệnh cấm đạo mới. Nội dung như sau: &quot;Hội 
				đồng các quan truyền lệnh cho các huyện như sau: Ðạo &#39;Hoa Lang&#39; 
				lầm lạc nghịch lại lý trí, mê hoặc lòng dân và còn truyền bá lan 
				rộng đạo lý sai lầm. Các năm trước hội đồng đã gửi các sắc lệnh 
				ngăn cấm để chặn sự xâm nhập của đạo này, nhưng vẫn còn có người 
				tiếp tục làm hư hại người khác. Vì vậy quan trấn các phủ huyện 
				phải bí mật điều tra. Nếu bắt được đạo trưởng thì phải giải họ 
				về kinh, các tín hữu thì phải trừng phạt, hoặc lưu đầy, hoặc tạp 
				dịch trong các chuồng thú vật, hoặc đánh đòn. Nếu các quan chểnh 
				mảng nhiệm vụ này sẽ bị trừng phát, ai nhiệt thành sẽ được trọng 
				thưởng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lệnh trên được bí 
				mật gửi cho các quan, nhưng khi các vị thừa sai biết được đã ra 
				lệnh ngưng các buổi hội họp, sửa đổi nhà thờ thành nhà ở, treo 
				cờ, dựng cây nêu... Còn các vị thừa sai thì tạm thời trốn tránh. 
				Kết quả Cha Ðóa bị bắt với 4 người nhà. Cha Cai và 4 người nhà 
				khác cũng bị bắt tại Bố Chính, các chủng sinh tại Thanh Hóa một 
				số bị bắt. Ðịa phận Ðông Ký có một thầy giảng bị bắt tại Xứ Bắc 
				và Cha Alonso dòng Ða Minh cũng bị bắt.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 15-9-1765, 
				Trịnh Doanh kết án một nhà sư và ra lệnh giải tán một số chùa 
				chiền, nhưng vì sợ dân chúng phản loạn cho là bắt đạo Phật nên 
				Trịnh Doanh ra lệnh cấm luôn cả đạo Công Giáo. Các vị thừa sai 
				chỉ nhắc đến những vụ bắt bớ do quan lại muốn làm tiền, không có 
				ghi lại sắc lệnh. Kết quả là Cha Orta người Ý thuộc Dòng Tên và 
				Cha Ðóa Dòng Ða Minh bị bắt tại Thanh Hóa. Ngoài ra Cha Gioan 
				Hiên và nhiều cha khác đi làm lễ Phục Sinh cũng bị bắt. Khi 
				Trịnh Doanh chết cuộc bắt bớ mới tạm yên.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Linh Mục 
				Francis Gil de Federich Tế</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðứng đầu sổ 117 
				Thánh Tử Vì Ðạo Việt Nam là Cha Tế và Cha Ðậu, hai linh mục thừa 
				sai người Tây Ban Nha thuộc Dòng Ða Minh. Cha Tế có tên Tây Ban 
				Nha là Gil De Federich, sinh năm 1702 tại Tortosa trong một gia 
				đình đạo đức. Khi được rửa tội, cha mẹ đặt cho nhiều tên thánh 
				khác nhau, tên trong sổ bộ là Francis. Năm 15 tuổi, cậu Gil gia 
				nhập tu viện Ða-Minh tại Tortosa và năm sau, 1718, được tuyên 
				khấn. Thầy Gil tiếp tục học thần học và thụ phong linh mục năm 
				1727, lúc 25 tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hai năm trước khi 
				làm linh mục, Cha Gil đã ghi tên xin đi sang tu viện của dòng ở 
				Phi Luật Tân nhưng bề trên không chấp nhận. Qua năm 1729, Cha 
				Gil lại xin một lần nữa, đơn của ngài được chuyển về Rôma để cứu 
				xét. Ý nguyện của cha được bề trên chấp thuận. Cha cùng với 24 
				người khác tới Manilla tháng 11-1730. Mặc dù đang cơn bắt đạo, 
				Cha Gil vẫn mong muốn được truyền giáo tại Trung Hoa hay Việt 
				Nam. Cha được bề trên gửi đi Bắc Kỳ và tới nơi ngày 28-8-1735.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau 4 tháng học 
				tiếng Việt tại Lục Thủy, Cha Gil được đặt cho một tên Việt Nam 
				là Tế, với nhiệm vụ coi sóc 40 họ đạo trong ba huyện Giao Thủy, 
				Chân Ðinh và Vụ Tiên thuộc trấn Xứ Nam. Tên mà bề trên đặt cho 
				ngài đã trở thành điềm báo cuộc tử đạo, tế hiến chính mạng sống 
				mình cho Thiên Chúa. Trong thời gian làm việc truyền giáo Cha Tế 
				tỏ ra rất nhiệt thành, đặc biệt về lòng bác ái. Mỗi khi có người 
				mời đi kẻ liệt, dù ốm đau hay nguy hiểm, ngài cũng đi ngay.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 3-8-1737, Cha 
				Tế làm lễ kính thánh Ða Minh tại Lục Thủy Hạ, đang khi còn cám 
				ơn thì có một toán người ập đến lục soát. Giáo dân không kịp 
				giúp cha chạy trốn. Cha bảo họ trốn đi, còn ngài thì ra nộp mình 
				với lòng tin tưởng là Thánh Giuse sẽ giúp. Ngài nói với bọn 
				người đến bắt: - &quot;Các ông tìm ai? Chính tôi đây là người các ông 
				muốn.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sư Tình ra lệnh 
				trói cha lại đem xuống thuyền. Tại bờ sông họ còn thấy mấy giáo 
				hữu liền bắt đem theo. Cha Tế nói với sư Tình: &quot;Các ông đã bắt 
				tôi rồi, tại sao còn bắt giữ những người này? Xin hãy thả họ 
				ra&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Như một mệnh lệnh, 
				bọn sư Tình liền cởi trói và trả tự do cho mấy người giáo dân. 
				Sư Tình đem Cha Tế về giam tại nhà mình ở Thủy Nhai Thượng, chờ 
				giáo dân mang món tiền kếch sù đến chuộc. Sư Tình hỏi Cha Tế: 
				&quot;Ngươi có sợ không?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngài bình thản trả 
				lời: &quot;Tôi không sợ mà chỉ lo cho giáo dân&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðể có thể bóc lột 
				số tiền của giáo dân, sư Tình làm cho họ hoảng sợ bằng cách sai 
				hai tên lính cầm giáo đi hai bên đến nhà giam trói ngài vào cột 
				và đặt bản án ngay bên cạnh như là tội nhân bị hành quyết. Một 
				lần khác ông cho điệu Cha Tế đi đến nhà hội của làng, cho nhiều 
				người giả làm triều đình xét xử. Cha Tế không chút sợ hãi, bình 
				thản lợi dụng cơ hội để giảng đạo cho lương dân. Con trai của sư 
				Tình là Tri Bá đến nhạo cười: &quot;Tôi là một người Công Giáo xấu, 
				tên là Dominic, vụ của cha sẽ ổn thỏa với giá 500 lượng bạc&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Giáo dân thấy vậy 
				thì quyết định đi thẳng với quan trên bằng món tiền lớn hơn. 
				Quan tỉnh là người quỉ quyệt, muốn làm tiền cả đôi bên. Ông nhận 
				tiền của giáo dân, hứa sẽ thả Cha Tế trên đường đưa về phủ. 
				Chính quan đến nhà sư Tình để dẫn giải cha, đồng thời bắt cả cha 
				con đầy tớ sư Tình vì tội chứa chấp đạo trưởng. Quan phủ đã giải 
				các tù nhân về kinh đô để lấy công trạng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Những ngày bị giam 
				giữ khổ sở và cuộc hành trình đã làm Cha Tế ốm nặng, quan phải 
				kiếm thuốc và cho phép người nhà của cha săn sóc. Ngày 23-8 họ 
				tới kinh đô Hà Nội. Sau đây là cuộc thẩm vấn của các quan: &quot;Ông 
				có biết đạo Kitô bị cấm trong nước không? Sao còn đến đây?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Tôi đến để giải 
				thoát các linh hồn khỏi hư mất&quot;.<br>
				- &quot;Nếu vua ra lệnh chém đầu thì ông còn làm gì được?&quot;<br>
				- &quot;Tôi sẵn sàng chịu sự khổ đó&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó cha bị giao 
				cho lính canh, họ để cha nằm dưới đất cả lúc trời mưa. Một người 
				y tá Công Giáo từ Lục Thủy đến thăm cha, thấy vậy đi mua cho cha 
				một trái dưa để uống lấy sức. Các gia nhân tại phủ tỏ ra tử tế 
				và săn sóc cha. Ðể trả công, cha giảng đạo cho họ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tại đây cha viết 
				vội mấy lời gửi bề trên: &quot;Con tin rằng Chúa đã để con bị sốt 
				nặng để chia sẻ với cuộc thương khó của Chúa. Những khốn khổ của 
				nhà tù con coi là nhỏ mọn. Thay vì buồn, con cảm thấy vui và sẵn 
				sàng đón nhận những cực khổ như là hồng ơn Chúa gửi đến cho 
				riêng con&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 30-8, cha 
				được chuyển sang ngục Ðông. Trên đường sang ngục Ðông, trẻ con 
				lấy cành tre làm thánh giá, ném dưới chân ngài để chế diễu. Cha 
				Tế chỉ sốt sắng lượm lên hôn kính. Tại ngục Ðông cha cũng chịu 
				nhiều khốn khó. Các tù nhân cũng tàn bạo với ngài. Tưởng chừng 
				ngài sắp chết, bà Kinh, một người Công Giáo thường săn sóc cha, 
				liền đi mời Cha Ngai, giả làm thầy thuốc và đút tiền để được vào 
				thăm cha. Mấy tên lính canh tù muốn làm tiền giáo hữu nên đeo 
				thêm gông và xích cho cha rồi bảo họ nếu muốn cha được miễn trừ 
				thì phải cho tiền. Khi cha khỏe lại đã cấm các giáo dân đừng làm 
				thế nữa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lính coi ngục làm 
				khó dễ, các giáo dân phải cậy nhờ một bà người lương tên là Gạo, 
				nhà ở gần đó, săn sóc cha. Sau này bà được ơn trở lại và rửa 
				tội, lấy tên thánh là Rosa. Trong lời khai trước ủy ban điều tra 
				phong chân phúc, bà đã nói: &quot;Chị của tôi đã phải tha nợ cho mấy 
				tên lính để họ tử tế với cha và cho phép cha ra nhà. Lần khác 
				khi mang thức ăn cho cha họ đã không chịu cho tới khi tôi đưa 
				cho họ món tiền&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Việc to tát bà Gạo 
				có thể giúp cha là cung cấp giấy tờ viết thư và chuyển thư của 
				cha cho bề trên. Sau hai tháng bị giam cha được phép ra nhà bà 
				Gạo để dùng cơm, và tiếp xúc với giáo dân tại kinh đô. Suốt 
				trong 7 năm bị giam cầm, Cha Tế vẫn tiếp tục giúp các giáo dân.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cuối tháng 
				10-1737, tòa án bắt đầu xét xử cha công khai. Cha bị dẫn đi, tay 
				mang xích, cổ đeo gông. Trên đường đi, trẻ con lại vất những 
				thánh giá bằng lá tre vào ngài và cười chế nhạo. Một đứa lớn hô 
				to: &quot;Xem kìa, ông cha sẽ chối đạo để giữ cái đầu khỏi bị chém&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Tế liền quay 
				mặt lại nhìn nó và nói: &quot;Không đâu con, cha đã không và sẽ không 
				bao giờ chối bỏ đức tin đâu. Chỉ có chúng con mới làm những điều 
				trái nghịch là đi hành hạ người tù nhân ốm yếu không bao giờ làm 
				hại ai. Hơn nữa chúng con còn chế diễu thánh giá là dấu chỉ ơn 
				cứu rỗi cho mọi người&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Tế và ba người 
				giáo dân cùng với sư Tình bị điệu ra trước tòa án. Quan án bắt 
				đầu thẩm vấn Cha Tế: &quot;Ông bị bắt tại nhà của ai trong 4 người 
				này?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Tại nhà sư 
				Tình. Tôi không hề vào nhà ba người kia&quot;.<br>
				- &quot;Ông từ đâu đến?&quot;<br>
				- &quot;Từ Tây Ban Nha&quot;.<br>
				- &quot;Ðã bao lâu ông ở tại Bắc Kỳ?&quot;<br>
				- &quot;Khoảng chừng hai năm&quot;.<br>
				- &quot;Ai đã mang ông vào?&quot;<br>
				- &quot;Tôi không còn nhớ tên&quot;.<br>
				- &quot;Vậy ông đã ở những đâu trong hai năm qua?&quot;<br>
				- &quot;Tôi không có nơi ở nhất định. Tôi thường đi từ nơi này sang 
				nơi khác&quot;.<br>
				- &quot;Ai đã nộp ông cho tòa án này?&quot;<br>
				- &quot;Ông quan&quot;.<br>
				- &quot;Ông quan đã bắt ông tại nhà ai?&quot;<br>
				- &quot;Tại nhà sư Tình&quot;.<br>
				- &quot;Ông đã ở nhà ấy bao nhiêu ngày?&quot;<br>
				- &quot;Mười hay mười một ngày gì đó&quot;.<br>
				- &quot;Ông có dậy đạo cho người ấy không?&quot;<br>
				- &quot;Không&quot;.<br>
				- &quot;Vậy ông đã làm những gì?&quot;<br>
				- &quot;Tôi làm những việc không liên quan gì tới quan tòa cả&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Viên ký lục đã làm 
				sai lạc lời khai của ngài mà nói là cha đã ở nhà sư Tình hai 
				năm. Sau đó cha được dẫn về nhà tù và hôm sau lại bị dẫn đến 
				nhưng quan án lại cho ngài về tù vì là ngày lễ nghỉ. Trên đường 
				về, họ dẫn cha qua đền thờ tổ tiên của quan và bắt cha lạy. Cha 
				từ chối nên bị họ đánh đập bất tỉnh. Cha lên cơn sốt 15 ngày vì 
				những vết thương hành hạ. Sau đó giáo dân cho lính canh nhiều 
				tiền để cha được ở cả ngày đêm tại nhà bà Gạo. Khi khỏe lại, cha 
				liền bị dẫn đến tòa án.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vào cuối năm theo 
				niên lịch Bắc Việt, các quan có thói quen giải quyết hết các vụ 
				kiện, nhưng năm đó vì có sứ Trung Hoa sang nên họ không xét vụ 
				của cha. Ðến tháng 10, một cha Việt Nam đến nhà bà Gạo dâng lễ. 
				Sau đó chính ngài xin bề trên gửi các đồ lễ đến để dâng lễ. Năm 
				ấy các quan viết án cho ngài như sau: Cha Tế bị bắt tại Xứ Ðông 
				và bị lên án chém đầu. Còn sư Tình và con trai bị án phát lưu 
				chăn voi cho chúa Trịnh 6 năm. Án được viết ngày 10-7-1738, vua 
				châu phê ngày 12 và ấn định ngày thi hành án lệnh là ngày 22-7. 
				Sư Tình bỏ tiền mua chuộc các quan để xét xử lại. Nhưng án không 
				thay đổi. Sư Tình tiếp tục kháng cáo và tìm ra được lẽ để thanh 
				minh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 20-7-1739, 
				cha lại bị đem ra tòa lần nữa: &quot;Dựa vào quyền gì mà ông đến nhà 
				sư Tình? Trước đó ông ở đâu?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Tôi đến nước 
				này đã 4 năm, hai năm bị giam tù, hai năm khác thì đi nơi này 
				nơi nọ để rao giảng đạo Kitô. Còn nói đã đi những đâu thì tôi 
				không muốn nói&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Vậy những lời 
				khai năm trước là đúng?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Những gì tôi đã 
				nói là đúng như vậy. Bây giờ tôi không nói gì thêm&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Ông là một 
				người phản bội, nói láo, bây giờ không muốn nói lại?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Không đúng như 
				vậy, nhưng tôi không buộc phải khai lại&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngay lúc ấy, sư 
				Tình chụp cơ hội xin nói. Ông đã tóm lược lại các việc xẩy ra 
				nhưng bỏ hẳn phần cha Tế bị giam giữ tại nhà ông.<br>
				<br>
				Ðể tránh rắc rối cho những người ở Lục Thủy Hạ, Cha Tế nói: 
				&quot;Những gì tôi khai năm ngoái là thực và tôi không buộc phải khai 
				là sư Tình đã bắt tôi tại Lục Thủy Hạ. Bởi vì các ông chỉ muốn 
				trừng phạt những người đã tiếp tôi và thưởng công cho kẻ bắt 
				tôi. Ðiều ấy bất công và vô lý&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Như vậy chém 
				đầu ông cũng là nghịch công lý?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Hiển nhiên là 
				như vậy. Nhưng nếu quí quan ra lệnh chém đầu tôi vì đức tin thì 
				tôi rất hài lòng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan án ra lệnh 
				nếu Cha Tế không khai thêm sẽ cho đánh 30 đòn. Cha Tế muốn chịu 
				đòn hơn là nói gì thêm. Quan cho đặt thánh giá dưới đất rồi ra 
				lệnh cho mọi người đạp lên. Dù phản đối, họ cũng khiêng ngài 
				qua. Nhưng cha đã nhấc thánh giá lên và hôn kính. Sư Tình thì 
				lợi dụng cơ hội này để nhục mạ ảnh đạo, nhảy nhót trên tượng và 
				đồng thời tố cáo ngài còn giữ nhiều đồ đạo tại nhà tù. Trong 
				phiên xử hai hôm sau, ngày 22-7, quan ép buộc cha Tế cung khai 
				mấy người giáo dân, nhưng cha nhất định không chịu. Sau đó quan 
				liền hỏi về các ảnh đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan cầm tượng 
				thánh giá lên hỏi: &quot;Người trên thánh giá này là ai?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Ðó là hình ảnh 
				của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, đã làm người và chịu chết trên 
				thánh giá để chuộc tội nhân loại&quot;.<br>
				- &quot;Còn hình kia là gì?&quot;<br>
				- &quot;Ðó là ảnh Mẹ Thiên Chúa, đã cưu mang đấng chịu đóng đinh&quot;.<br>
				- &quot;Người ta đi đâu sau khi chết?&quot;<br>
				- &quot;Khi chết rồi, xác ở dưới phần mộ, còn hồn thì hoặc lên trời 
				hoặc phải xuống địa ngục tùy theo công trạng trong đời sống&quot;.<br>
				- &quot;Ðiều ông nói về linh hồn chỉ là tưởng tượng. Ai nói rằng sự 
				vật qua đi như thế?&quot;<br>
				- &quot;Thiên Chúa đã nói vậy&quot;.<br>
				- &quot;Thật vậy ư? Ông đã nghe thấy tiếng Chúa chưa?&quot;<br>
				- &quot;Mặc dù không nghe chính Thiên Chúa nói, nhưng chắc chắn là 
				ngài đã dậy như vậy&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một tên lính hầu 
				mang tới một cái gậy, đặt ngay trước mặt cha Tế, cha lại tưởng 
				họ đánh mình nên đưa đầu gối ra, nhưng quan lại nói: &quot;Gậy không 
				phải để tra tấn. Ta ra lệnh cho ông cầm lấy và đánh vào những 
				tượng ảnh này&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Tế rùng mình 
				vội cầm gậy vất đi thật xa. Tên hầu lại lấy về và đặt trước mặt 
				sư Tình. Ông liền cầm ngay lấy và giơ gậy đánh vào bức ảnh Ðức 
				Mẹ bằng ngà voi. Cha Tế chạy vội lại, dùng thân mình làm thuẫn 
				cản lại, lấy tay che lên đầu Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong ảnh 
				rồi nói: &quot;Sư Tình, hãy đánh lên tay tôi&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan thấy vậy thì 
				cười và nói: &quot;Các người Kitô bị lừa dối bởi những tượng ảnh 
				này&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thế là có cuộc 
				giằng co giữa Cha Tế và sư Tình. Quan cho lệnh ngừng cuộc giằng 
				co lại và nói: &quot;Thế thì tượng phải đau vì những cái đánh này lắm 
				nhỉ?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Ðức Bà Maria và 
				Con của Ngài ở một nơi không còn đau đớn nữa. Nếu chúng tôi tôn 
				kính ảnh tượng này cũng chỉ vì đó là hình ảnh nhắc nhở chúng tôi 
				đến các Ngài&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phiên tòa chấm 
				dứt. Tên lính canh ngục đòi tiền ngài để đưa cho tóan lính áp 
				giải. Một người giáo dân nói ngài chỉ nên đưa một phần ba. Vì 
				thế tên lính canh nghiệt ngã cấm mọi người đến thăm ngài trong 
				ba ngày. May nhờ có người lương mang gạo đến. Thấy sức khỏe ngài 
				yếu liệt, bề trên sai Cha Minh đến ban các bí tích cuối cho 
				ngài. Tuy nhiên Cha Tế lại khỏe lại.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các quan thấy khó 
				giải quyết, không biết phải xử thế nào đối với ba người giáo dân 
				ở Lục Thủy Hạ. Vua cho một quan khác đến xử vụ kiện dai dẳng 
				này. Ngày 20-9, cha lại bị đưa ra trước tòa để tra hỏi: &quot;Ông ở 
				nước này bao nhiêu năm rồi? Có phải ông bị bắt khi mới tới 
				không? Ông có rao giảng đạo Kitô không?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Tôi đã ở đây 
				bốn năm và giảng đạo hai năm&quot;.<br>
				- &quot;Có thật ông đã ở trong nhà sư Tình 10 ngày?&quot;<br>
				- &quot;Tôi đi đây đó để giảng đạo, nơi thì 10 ngày, nơi khác 15 
				ngày. Tôi chỉ ở nhà sư Tình có 10 ngày&quot;.<br>
				- &quot;Ðạo đã bị cấm, tại sao ông còn đến đây?&quot;<br>
				- &quot;Vua chúa không có quyền cấm như thế, vì vua chúa không có 
				quyền tuyệt đối ra lệnh như ý thích&quot;.<br>
				- &quot;Ông có học biết thiên văn không?&quot;<br>
				- &quot;Không&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngài bị đem ra đem 
				vào nhiều lần và hỏi đi hỏi lại để có bằng chứng là cha bị bắt 
				tại nhà mấy giáo dân, và như thế có lý do để tha sư Tình. Cha Tế 
				từ chối không nói gì thêm mà chỉ xin trả tự do cho các giáo dân. 
				Họ yêu cầu cha ký vào biên bản. Ðọc trong bản án thấy viết là bị 
				tố cáo vì rao giảng tà đạo, cha không chịu ký. Họ cho sửa lại là 
				đạo &#39;Hoa Lang&#39; nghịch với luật, cha mới ký vào.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thế rồi nội chiến 
				xẩy ra và người ta quên bẵng vụ án của ngài. Lúc đó Cha Tế là 
				người duy nhất có mặt ở Hà Nội để giúp giáo dân. Trong thời gian 
				bị giam tù, Cha Tế đã rửa tội được 122 người. Nội chiến kéo dài 
				ba năm. Một hôm chúa Trịnh chợt có ý muốn hỏi Cha Tế có cách nào 
				chấm dứt được loạn lạc, với ẩn ý muốn cha nói với người tây 
				phương giúp. Cuối tháng 9, cậu của vua cho lệnh đưa Cha Tế đến 
				và hỏi: &quot;Tôi thấy đạo của cha hợp lý, những điều tôi nghe rất 
				phù hợp với sách tôi đã đọc. Chỉ có điều là đạo không chấp nhận 
				những tôn giáo khác. Ngày mai cha mang đến cho tôi xem cuốn sách 
				về đức tin Kitô để tôi thấu đáo và có thể nói với chúa Trịnh cho 
				cha. Cha cũng mang đến một học giả người Việt để có thể giải 
				nghĩa được các chữ Việt&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trở lại nhà giam, 
				cha được giáo dân cho biết là quan chỉ muốn xem đạo có cách nào 
				diệt được giặc không thôi. Ngày hôm sau, cha viết thư cho ông 
				hoàng: &quot;Theo đức tin của chúng tôi, chỉ có một phương thế duy 
				nhất chữa trị các cái xấu đó là cầu xin Thiên Chúa cho hòa bình 
				và hứa rằng chính quyền sẽ không bao giờ bắt bớ đạo thật nữa. 
				Nếu vua muốn chấm dứt chiến tranh thì hãy thôi bắt bớ giáo dân 
				và đạo thật, vì đấy chính là nguồn gốc của mọi sự dữ trong 
				nước&quot;. Ông hoàng có nói lại với ba quan và họ hứa sẽ nói với 
				chúa Trịnh để cho phép tự do hành đạo. Ngay lúc đó có tin đồn là 
				giáo dân tỉnh Nam đi theo giặc, dự tính trên lại rơi vào tình 
				trạng cũ. Riêng giáo dân Hà Nội nhất định chuộc cha ra bằng mọi 
				cách. Họ đem tiền đến bà dì của chúa Trịnh để xin trả tự do cho 
				cha. Ðọc bản khiếu nại, Cha Tế không hài lòng về lời lẽ nói cha 
				chỉ là thương gia bị gán ghép tội theo đạo Kitô.... Suốt trong 
				năm đó cha rửa tội thêm được 31 người lớn và 23 trẻ em.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1744, hồ sơ 
				của cha được xét lại và họ giam cha ngặt hơn. Ngày 3-3-1744, cha 
				và 4 giáo dân được đưa ra tòa án. Trên đường đi, viên ký lục đòi 
				lấy cỗ tràng hạt của cha. Tại tòa án, các quan xem xét cỗ tràng 
				hạt rất kỹ lưỡng. Quan hỏi hai ảnh mắc vào đó là gì. Cha thưa là 
				hình hai vị tử vì đạo. Quan bắt ép cha dầy đạp tràng hạt dưới 
				chân. Cha đã mạnh mẽ nói là không khi nào cha làm điều lầm lỗi 
				ấy. Lúc ấy quan hỏi sư Tình có làm điều ấy không? Sư Tình chỉ 
				chờ có thế đã vội vã cầm lấy tràng hạt ném xuống đất, sửa soạn 
				đạp lên, tức thì Cha Tế lăn xả vào để lấy lại. Một tên lính hầu 
				túm lấy tóc cha lôi ra. Không làm gì được, Cha Tế hét lên: &quot;Tại 
				sao các ngươi bách hại đạo Chúa Kitô? Chính các ngươi là căn cớ 
				của bao nhiêu tai họa giáng xuống trên nước này&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các quan liền viết 
				án xử trảm cha Tế, còn các giáo dân được trả tự do, cha con sư 
				Tình được tha bổng. Cha Tế được đưa về nhà tù, lòng đầy niềm hy 
				vọng giờ lãnh triều thiên tử đạo đã tới gần.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 30-5-1744, 
				lính canh áp giải một tù nhân khác, đó là Cha Ðậu, người cùng 
				Dòng với Cha Tế. Hai người lính dũng cảm của đức tin hân hoan 
				được gặp nhau, nâng đỡ nhau bằng các bí tích và cầu nguyện. 
				Trong hai năm ấy cha rửa tội được 32 người lớn và 41 trẻ em.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tháng 8 năm sau vì 
				có hạn hán nên chúa Trịnh cho rước Phật Bà Quan Âm, đồng thời ân 
				xá cho nhiều tù nhân, nhưng vẫn giam giữ hai cha trong tù. Lợi 
				dụng thời gian này, hai cha biến nhà tù thành nơi giảng đạo. 
				Giáo dân lại nói với cha về đề nghị của quan cai ngục là sẽ trả 
				tự do cho cha bằng giá tiền mua chuộc. Cha Tế cương quyết không 
				để cho giáo dân phải tốn một xu.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một tín hữu báo 
				tin là các quan đã làm án ngày 19-1-1745, ngày 21 sẽ công bố, và 
				ngày hôm sau hành quyết. Giáo dân tính cử đại diện đến gặp chúa 
				Trịnh. Cha Tế rất buồn nói với các thầy giảng: &quot;Chúng ta phải 
				khuyên bảo giáo dân trở lại và trung thành với đức tin, nếu 
				trong hoàn cảnh này chúng ta tỏ ra khiếp sợ để cho họ sửa án và 
				mua chuộc mạng sống bằng tiền bạc thì lương dân họ sẽ thêm tin 
				vào đạo của họ hơn và giáo dân sẽ không còn muốn chịu khổ vì đức 
				tin nữa&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vì vậy cha truyền 
				lệnh cho họ hủy bỏ toan tính đó. Dân chúng rất đau buồn, nhưng 
				cha Tế lại vui mừng hớn hở. Ngài dùng những ngày còn lại để cầu 
				nguyện và sửa soạn tâm hồn. Sau khi lần hạt chung với họ lần 
				cuối, cha khuyên nhủ: &quot;Anh chị em quí mến, cũng như Chúa Kitô 
				trong bữa tiệc ly, tôi muốn khuyên anh chị em theo lời của Chúa, 
				anh chị em hãy yêu thương nhau như ruột thịt, hãy vững mạnh 
				trong đức tin mà anh chị em tuyên xưng và hãy sẵn sàng chịu mọi 
				sự khó và nhất là đặt niềm cậy trông vào một Chúa mà thôi. Hãy 
				ước ao những sự trên trời và hãy khinh chê những của cải vui 
				sướng chóng qua đời này&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mọi người cúi mình 
				hôn xiềng xích của ngài. Ngài lại nói với họ: &quot;Tử đạo là một ơn 
				đặc biệt do Chúa ban nhưng không, chứ không phải do công trạng 
				hay xứng đáng gì&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khoảng ba giờ 
				sáng, hai cha dâng lễ, rồi đến chào các lính coi tù cũng như các 
				bạn tù. Giáo dân được phép vào rất đông để thăm cha lần cuối. 
				Cha Ðậu không được chung một vinh dự nhưng đã xin quan cho theo 
				ra tới pháp trường. Theo lẽ các tù nhân khi đi ra nơi hành quyết 
				thường được dẫn qua phủ chúa để có thể kháng cáo lần chót. Lợi 
				dụng cơ hội này giáo dân làm một bản kiến nghị nhờ Cha Ðậu mang 
				theo đưa cho quan khi tới phủ chúa. Mặc dù Cha Tế không đồng ý 
				nhưng Cha Ðậu vẫn làm theo ý của giáo dân.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Tế hân hoan đi 
				đầu vì được giống Chúa Kitô. Trong đám tù nhân có người xin cha 
				tha tội. Ði ngang qua phủ chúa, Cha Ðậu liền đưa bản kiến nghị. 
				Chúa Trịnh thấy Cha Ðậu dám bạo gan như thế thì nổi giận ra lệnh 
				xử trảm ngài luôn một lúc với Cha Tế. Khoảng sau trưa, đoàn 
				người đến Ðồng Mơ, nơi hành quyết. Vừa tới nơi, hai cha quì 
				xuống hôn mảnh đất. Cha Tế vì yếu sức nên ngồi xuống đất chờ 
				đợi, trong khi lính sửa soạn việc hành quyết. Hai cha nói giáo 
				dân cho mỗi người lính đao phủ một số tiền. Hằng ngàn người im 
				lặng đứng xung quanh. Quan giám sát lên tiếng: &quot;Cụ Tế, tôi rất 
				kính trọng cụ và rất đau buồn phải làm việc này như quan án đã 
				ra lệnh, xin cụ hiểu cho, tôi không làm gì khác hơn được. Xin cụ 
				quì thẳng lên để tôi trói vào cọc&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Giây và xích ở tay 
				chân được cởi ra. Hai tên lính cầm gươm đồng loạt chém đầu hai 
				vị tử đạo. Hôm ấy là ngày thứ Sáu, 22-1-1745.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thông thường mỗi 
				khi có vụ xử tử, lúc chém đầu mọi người chạy mất vì sợ hồn kẻ 
				chết nhập vào, nhưng lần này trái lại họ đến gần hơn và ngay sau 
				đó tuốn vào thấm máu đào, lấy những vật dụng và xiềng xích của 
				hai vị làm kỉ niệm. Giáo dân phải canh chừng để không ai lấy 
				trộm thi thể hai đấng thánh. Tối hôm đó, Cha Phêrô Xavier tắm 
				rửa xác các đấng và an táng tại Lục Thủy Hạ, mặc dầu các xứ khác 
				như xứ Kẻ Bùi, Trung Linh, và Trung Lễ đòi quyền được cất xác 
				các ngài. Một tuần sau, mộ của các ngài được mở ra để táng trong 
				nhà thờ theo lệnh của đức giám mục, nhưng lạ thay, xác các ngài 
				không bốc mùi thối gì, giáo dân còn ngửi thấy thoang thoảng một 
				mùi thơm lạ lùng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 20-05-1906, 
				các Ngài được Đức Piô X suy tôn lên bậc chân phước. Ngày 
				19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn lên hàng Hiển Thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><i>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">(ST)</font></strong></i></p>
				<h2 style="margin-left: 0; margin-right: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cuộc tử đạo linh mục Federich Tế<br>
				Tại Việt Nam phải kể đầu tiên<br>
				Mười lăm tuổi nhập tu liền<br>
				Thụ phong linh mục qua miền nước Phi<br>
				<br>
				Thừa sai Pháp xin đi rao giảng<br>
				Nhưng bề trên ngăn cản không cho<br>
				Rôma thuyên chuyển thăm dò<br>
				Nơi đây cứu xét thuận cho lên đường<br>
				<br>
				Cha được gởi quê hương miền Bắc<br>
				Nước Việt Nam dìu dắt đoàn chiên<br>
				Ngài lo tiếng Việt học liền <br>
				Ở làng Lục Thủy thuộc miền tỉnh Nam<br>
				<br>
				Cùng Cha Tế cộng đoàn dâng lễ<br>
				Ðang cám ơn như thể chia tay<br>
				Toán người ập đến bao vây<br>
				Xông vào lục soát chốn này hung hăng<br>
				<br>
				Cha liền bảo thưa rằng chạy trốn<br>
				Còn phần Cha khiêm tốn nạp mình<br>
				Giuse khẩn nguyện cầu kinh<br>
				Xin Ngài phù hộ an bình cho Cha<br>
				<br>
				Nhìn bọn chúng Ngài đà liền hỏi<br>
				Ði tìm ai Người nói ta đây<br>
				Sư Tình ra lệnh lấy giây<br>
				Bắt Cha trói lại đưa ngay xuống thuyền <br>
				<br>
				Mấy giáo hữu theo liền đứng ngó<br>
				Tại bờ sông chúng nó bắt luôn<br>
				Lòng Cha Tế rất u buồn<br>
				Bắt tôi là đủ tha luôn mấy người<br>
				<br>
				Như mệnh lệnh chúng thời cởi trói<br>
				Trả tự do tiếng nói Sư Tình<br>
				Ðem Cha Tế giam một mình<br>
				Thủy Nhai Thượng để Sư Tình hỏi Cha<br>
				<br>
				Ngươi bị bắt gặp ta có sợ<br>
				Ngài trả lời giúp đỡ giáo dân<br>
				Riêng ta vì Chúa đâu cần<br>
				Sư Tình sai lính tay cầm gươm đao<br>
				<br>
				Cột nhà hội trói vào Cha Tế<br>
				Án tử hình chúng để ngay bên<br>
				Triều đình ban lệnh nói lên<br>
				Nhưng Cha đâu sợ ngày đêm rao truyền<br>
				<br>
				Chúng móc nối đòi tiền để chuộc<br>
				Thả Cha ra bắt buộc khó khăn<br>
				Năm trăm lượng đổi Chủ chăn<br>
				Giáo dân thấy vậy thưa rằng quan trên<br>
				<br>
				Cử đại diện thưa lên thượng đỉnh<br>
				Quỷ quyệt thay sẵn tính bạo tàn<br>
				Cấp cao lại quá tham lam<br>
				Thả câu nước đục liên can Sư Tình<br>
				<br>
				Giữ đạo trưởng nhà mình trái phép<br>
				Phải lo tiền khỏi ghép tội oan<br>
				Quan trên lợi cả đôi đàng<br>
				Kinh đô đem nộp Thượng Hoàng thưởng công<br>
				<br>
				Tội Cha Tế đeo gông khổ cực<br>
				Tại trại giam nóng nực khổ đau<br>
				Quan lo tìm thuốc chữa mau<br>
				Người nhà săn sóc ngõ hầu hỏi cung<br>
				<br>
				Tại Phủ Chúa quyền dùng kháng cáo<br>
				Cơ hội này loan báo giáo dân<br>
				Cử Cha Ðậu đóng góp phần<br>
				Ði qua Phủ Chúa tới gần đưa Quan<br>
				<br>
				Chúa Trịnh thấy Cha gan can đảm<br>
				Tại Ðồng Mơ xử trảm hai Cha<br>
				Pháp trường giáo hữu gần xa<br>
				Ðọc kinh tin kính tiễn Cha lên đường<br>
				<br>
				Linh mục Tế sinh năm Nhâm Ngọ (1702)<br>
				Tại Tostosa nước họ (Tây) Ban Nha<br>
				Ất Sửu (1745) tử đạo nước ta<br>
				Bính Ngọ (1906) phong thánh hoan ca Nước Trời<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ: </b>Cha trả lời quan tra hỏi: &quot;Chẳng ai có quyền 
				cấm giảng đạo Thiên Chúa đã truyền loan báo cho mọi dân mọi 
				nước. Ai cấm, tức là cướp quyền của Thiên Chúa&quot;.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager