File "Quynh_AntonNguyenHuu.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Quynh_AntonNguyenHuu.htm
File size: 27.21 KiB (27859 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh(Năm) (1768-1840) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm) 
		(1768-1840) </font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/AntonNguyenHuuQuynh.jpg" width="200" height="308"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p align="justify" style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm) là một y sĩ và là thầy giảng; sinh 
				năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình; chết 10 tháng 7 năm 1840 tại 
				Ðồng Hới. Ngài bị bắt năm 1838 vì thuộc Hội Thừa Sai Balê. Trong 
				hai năm tù ngài chăm lo cho các tù nhân và chịu đựng nhiều cuộc 
				tra tấn. Bị xử giảo (thắt cổ) chết. Đức Lêo XIII suy tôn ông 
				Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh lên bậc chân phước ngày 27.05.1900. Ngày 
				19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển 
				thánh.Ngày Lễ kính 10 tháng 7.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2">
				<h3 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<font color="#000000" face="Arial" size="3">Vay mượn để giúp 
				người</font></h3>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				&quot;Nếu bà và các con không cho tôi lấy của nhà giúp người, tôi sẽ 
				đi vay mượn hoặc làm thuê, kiếm tiền giúp họ&quot;. Đó là một câu nói 
				đầy cương quyết nhưng chân thành của quan vệ uý, cũng là ông 
				lang và là ông trùm : Ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh. Câu nói đó cho 
				chúng tôi thấy và hiểu về một cuộc đời 72 năm phục vụ con người 
				để phục vụ Thiên Chúa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh sinh năm 1768 tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ 
				Thủy tỉnh Quảng Bình. Cha là Antôn Nguyễn Hữu Hiệp, mẹ là 
				Mađalêna Lộc. Theo gia phả ông Quỳnh là con cháu đời 15 của đệ 
				nhất Công Thần Nguyễn Trãi (1380-1442). Vì là con thứ năm, nên 
				thường được gọi là Năm Quỳnh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Thời niên thiếu, cậu xin làm đệ tử Đức Cha Labartette Bình có ý 
				học làm linh mục, nhưng vì hai người anh trai cũng xin đi tu nên 
				gia đình gọi cậu về để nối dõi tông đường. Năm 1800, theo việc 
				cắt cử của làng xã, anh gia nhập đội quân của Nguyễn Ánh, góp 
				phần chiến thắng quân Cảnh Thịnh và được thăng chức Vệ Uý. Đến 
				khi đất nước đã thống nhất (1802), Gia Long lên ngôi, ông thấy 
				đời quân ngũ không thích hợp, liền xin giải ngũ. Trở về quê nhà, 
				ông mua một thửa đất canh tác và buôn bán thêm để sinh sống. 
				Đồng thời ông dành nhiều giờ đọc thêm nghề thuốc, và dần dần trở 
				thành một lương y nổi tiếng khắp vùng. Nhờ đó kinh tế gia đình 
				ngày càng khá giả hơn.</p>
				<h3 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<font color="#000000" face="Arial" size="3">Gia đình, xã hội và 
				giáo hội</font></h3>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Thế nhưng đối với ông Quỳnh, tài sản khả năng Chúa ban cho là để 
				phục vụ mọi người, nên thay vì thu tích cho bản thân, ông quan 
				tâm phục vụ dân nghèo một cách tận tình. Đối với họ ông chữa 
				bệnh miễn phí, săn sóc và đôi khi còn tặng họ thêm tiền để làm 
				vốn nữa. Khi vợ con lên tiếng kỳ kèo, ông trả lời rằng : &quot;Tôi 
				chưa thấy những ai hay giúp đỡ người nghèo khó mà túng bấn bao 
				giờ. Kinh thánh chẳng dạy chúng ta phải coi họ như chi thể của 
				Chúa đó sao ? Chúa đã cho chúng ta sống tất sẽ quan phòng cho ta 
				đủ dùng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Khi các con khôn lớn, ông nói với chúng : &quot;Cha đã nuôi dưỡng các 
				con từ nhỏ, nay đã lớn khôn, các con sẽ lo tất cả cho gia đình. 
				Cha muốn để dành tiền bán thuốc để chia sẻ với bà con nghèo khổ&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Lòng thương người của ông được biểu hiện rõ rệt hơn khi làng ông 
				gặp thời kỳ dịch tả. Ông bỏ ra cả hàng trăm quan tiền để phát 
				thuốc nuôi dưỡng và chăm sóc các bệnh nhân cách tận tuỵ quên 
				mình. Thế nhưng tinh thần bác ái Kitô giáo đòi ông phải đi xa 
				hơn một bước nữa. Ông vâng lời Đức Cha Labartette Bình dạy giáo 
				lý trong hạt. Để phục vụ con người một cách trọn vẹn hơn cả xác 
				lẫn hồn, ông Năm Quỳnh nhận lời làng Mỹ Hương giữ chức trùm 
				trưởng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Trong thời cấm đạo các linh mục tu sĩ phải rút vào bóng tối, vai 
				trò của những người như ông rất cần thiết. Từ nay nhà ông biến 
				thành lớp giáo lý trong hạt, thành nơi tiếp nhận các thừa sai và 
				giáo sĩ. Từ nay ông đứng ra điều khiển tổ chức mọi sinh hoạt 
				kinh nguyện, tang lễ và bác ái trong vùng. Tuổi càng cao, ông 
				càng sắp xếp công việc một cách trọn vẹn và chín chắn hơn, do đó 
				ông càng được mọi người tin phục. Điều đáng lưu tâm là dầu bận 
				rộn với công việc tông đồ, ông vẫn khéo léo chăm sóc dạy dỗ con 
				cái sống Tin Mừng. Cô gái lớn gia nhập dòng mến Thánh Giá, sau 
				làm bà nhất toàn thể dòng mến Thánh Giá giáo phận. Những người 
				con khác cũng theo gương ông: trung kiên với niềm tin, và cùng 
				với ông quên lợi riêng để lo cho công ích.</p>
				<h3 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<font color="#000000" face="Arial" size="3">Hoa quả của đức tin</font></h3>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Năm 1838, vua Minh Mạng ra lệnh truy nã linh mục thừa sai 
				Candalh Kim. Ông Quỳnh thân hành đưa cha lên Kim Sen, một trang 
				trại cũ của tổ tiên mình, và đem theo một số sách vở cũ, ảng 
				tượng của xứ Mỹ Hương. Thấy ông đi vắng lâu ngày, quan sai lính 
				đến nhà ông khám xét. Họ lôi các đầy tớ ra đánh đập tra khảo, 
				một người sợ quá đã khai ra chỗ ở của chủ. Khi đó quan định bắt 
				luôn bà Quỳnh và hai cô con gái út, một cô 14 tuổi, một cô 10 
				tuổi đang ở nhà. Quan cưỡng bức ba mẹ con xuất giáo nhưng không 
				ai tuân lệnh. Tức giận quan cho lính đánh vào chân hai đứa bé để 
				ép buộc bước qua Thánh Giá, hai cô vẫn không chịu khuất phục. 
				Đám lính liền xông đến lôi kéo hai chị em bứơc qua. Dĩ nhiên với 
				tuổi nhỏ sức yếu, hai cô bé không thể chống cưỡng lại được, 
				nhưng một mực hai cô bé kêu khóc mình bị ép buộc, chứ lòng luôn 
				luôn tôn kính Thánh Giá. Quan không dấu được sự thán phục tấm 
				lòng son sắt, và đã tha cho cả ba mẹ con.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Tiếp đó quân lính đến vây trại Kim Sen. Sau khi bắt được ông 
				Quỳnh và thâu được một số sách đạo, họ liền áp giải ông về Đồng 
				Hới. Giữa đường ông nhắn tin một người con kín đáo đến gặp và 
				hối lộ cho lính 50 quan tiền để đốt sổ ghi tên những người tín 
				hữu trong xứ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Tại trại giam Đồng Hới, ông Quỳnh vui mừng vì gặp được linh mục 
				thừa sai Borie Cao, cha Điểm, cha Khoa cùng thày Tự. Nhiều lần 
				ông cũng bị tra tấn chung với các vị ấy. Nhưng bao giờ ông cũng 
				tuyên xưng: &quot;Thà chết không thà chối Chúa, dù chỉ trong giây 
				lát&quot;. Có lần quan cho lính lôi ông qua Thánh Giá, ôn liền lớn 
				tiếng phản kháng rằng : &quot;Việc này do quan lớn làm, nếu có tội là 
				quan phạm tội, chứ không phải tôi&quot;. Câu nói đó làm quan bực mình 
				truyền đóng gông giải ông về ngục. Mấy bữa sau quan hỏi cha Cao 
				tại sao ông Năm lại cứng cổ đến thế. Vị thừa sai trả lời: &quot;Các 
				giáo hữu bước qua Thánh Giá vì họ không hiểu rõ giáo lý và nhát 
				gan, còn ông Năm đã am tường lẽ đạo, lại mạnh mẽ đức tin, quan 
				lớn cưỡng bách mấy cũng vô ích, chẳng có lợi gì đâu&quot;. Thất vọng 
				quan gởi án về kinh đô. Đức Cha Cao bị án trảm quyết (chặt đầu), 
				hai cha Điểm, cha Khoa thì bị kết án xử giảo ngay, còn thày Tự 
				và ông Antôn cũng bị xử giảo nhưng &quot;giam hậu&quot;, nghĩa là lệnh xử 
				sẽ ban hành sau.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Thời gian trôi qua quá nhanh thấm thoát ông Quỳnh và Thày Tự đã 
				giam hai năm tròn. Trong thời gian đó quan sốt ruột gởi sớ về 
				kinh ba bốn lần xin xử tử, nhưng vua Minh Mạng cứ trì hoãn, viết 
				thư khuyên quan quân cứ từ từ kiên nhẫn. Trong một lá thư gởi về 
				hội Thừa Sai, cha Miche Mịch giải thích lý do như sau:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				&quot;Ông Antôn quen biết nhiều các quan, lại từng chữa bệnh cho 
				nhiều vị quan nữa. Rất nhiều người biết đến nhân đức và kiến 
				thức của ông nên trọng nể. Do đó, thái độ của ông có tầm ảnh 
				hưởng lớn trong dân. Đối với họ, cướp được con mồi lớn như thế 
				từ tay Đức Giêsu là một chiến thắng lớn lao. Thế nên chẳng lạ gì 
				&quot;hỏa ngục&quot; phải tìm trăm nghìn phương kế để dành lại phần thắng 
				sắp mất&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Phần ông Quỳnh dù đã 72 tuổi, vẫn biểu lộ đức can đảm và nhẫn 
				nại đáng khâm phục. Suốt ngày ông lo đọc kinh cầu nguyện, như 
				mọi giáo hữu ở ngoài, ông giữ chay và yêu thương giúp đỡ mọi 
				người. Nghề lang y của ông vẫn có cơ hội dùng đến, có lần ông 
				chữa cho một viên quan ở Đồng Hới, và nhất là chữa bệnh cho các 
				bạn tù đồng số phận.</p>
				<h3 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<font color="#000000" face="Arial" size="3">Lời trăn trối sau 
				cùng</font></h3>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Thấy thời gian cũng không làm nản lòng ông Quỳnh, vua Minh Mạng 
				chấp thuận cho quan tỉnh Quảng Bình xử giảo ông ngày 10-07-1840.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Bản tường trình cuối cùng của vị quan có nhiệm vụ xét xử các 
				ngài: &quot;Hạ thần Nguyễn Xuân Quang, quan án tỉnh Quảng Bình, thừa 
				hành theo lệnh của Hoàng Thượng xin tấu trình rằng: Vào tháng 9 
				năm Minh Mệnh thứ 19, quan tổng đốc có giao nộp một bản án nói 
				rằng đã bắt được tên Nguyễn Khắc Tự, đồ đệ của Thừa Sai Cao (Cha 
				Borie), và một người nữa tên là Nguyễn Hữu Năm đã thú nhận tội 
				cất giấu sách đạo. Quan án Phan Trư đã báo cáo như sau: Nguyễn 
				Hữu Năm có tội vì cất giấu sách đạo, không chịu đạp ảnh và cũng 
				không chịu bỏ đạo. Không phải là đạo trưởng nhưng hắn cũng cứng 
				đầu và có tội như đạo trưởng Khoa và Ðiểm. Vì thế hắn phải xử án 
				chém đầu. Nhưng án này đã được đổi lại ngày 28-11-1838. Còn về 
				tên Nguyễn Khắc Tự giúp việc cho Thừa Sai Cao, đã không chịu đạp 
				ảnh và thuộc hạng cố chấp và bất trị. Vì vậy thần kết án phải 
				đòn 100 roi và lưu đầy xa ba ngàn dặm, tức là đi Phú Yên, khắc 
				vào má bên trái hai chữ &#39;Tả Ðạo’ và má bên phải hai chữ &#39;Phú 
				Yên&#39;. Tờ trình của quan án Phan Trư đã được châu phê như sau: 
				Tên Nguyễn Hữu Năm đã cất giấu sách đạo, còn tên Nguyễn Khắc Tự 
				đã không biết hổ thẹn khi giúp việc cho tên mọi rợ (ám chỉ Cố 
				Cao) và cố chấp không đạp ảnh. Hiển nhiên cả hai tên phải xếp 
				vào hạng cố chấp và bất trị. Mặc dù chúng không phải là đạo 
				trưởng, nhưng chúng cũng không kém mù quáng và cố chấp, và vì 
				vậy phải liệt chúng vào số những người đáng ghét. Vậy cả hai 
				phải bị xử giảo giam hậu. Cứ thế mà thi hành.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Năm sau tức là Minh Mệnh nguyên niên thứ 20, theo lệnh Hoàng 
				Thượng hạ thần lại đòi hai tên Nguyễn Hữu Năm và Nguyễn Khắc Tự 
				ra trước sảnh đường hai ba lần, khuyên nhủ họ thức tỉnh trở về 
				đường ngay. Nhưng chúng vẫn cố chấp như trước, không chịu đạp 
				ảnh. Thần xin lập tờ bá cáo tâu trình Hoàng Thượng: Quả thật hai 
				tên Kitô này không phải là linh mục nhưng mù quáng và cố chấp 
				thật đáng ghét. Thần nghĩ không còn lý gì mà phải giam giữ họ 
				trong tù nữa. Ðó là tờ trình của thần, nhưng các thượng quan 
				trong tòa Tam Pháp lại xét rằng hai tên này phải xử giảo ngay. 
				Ðến tháng 10 thần lại nhận được thư của tòa Tam Pháp truyền rằng 
				theo lệnh của Hoàng Thượng phải hoãn lại việc hành quyết và 
				triệu tập hội đồng hàng tỉnh, thúc ép họ trong tòa xem có hối 
				cải không, rồi trình lại tất cả sự việc và chờ lệnh. Theo lệnh 
				vừa nói, thần lại gọi hai tên tín đồ Kitô ra trước tòa, khuyên 
				bảo và ra lệnh đạp ảnh, từ bỏ cố chấp. Chúng vẫn cương quyết 
				không tuân lệnh. Chứng tỏ chúng vẫn chìm đắm trong u mê mù 
				quáng. Vì vậy thần lập tờ trình này để trông thánh chỉ của Hoàng 
				Thượng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Lệnh cuối cùng của Vua Minh Mệnh: &quot;Chúng tôi, Võ Xuân Cẩn, Bùi 
				Ngọc Quí và Ðinh Văn Huy, vâng theo lệnh Hoàng Thượng, đã xét tờ 
				trình của quan vào ngày 21-5. Chúng tôi truyền lệnh như sau: Tên 
				Nguyễn Hữu Năm và Nguyễn Khắc Tự theo tà đạo, tội đáng chết. 
				Nhưng vì chúng thuộc hạng lê dân ngu dốt và vì lòng nhân từ của 
				Hoàng Thượng không muốn đối xử cay nghiệt nên đã không ngừng ra 
				lệnh cho các quan phải khuyên nhủ chúng sửa đổi để được ơn khoan 
				hồng. Thế nhưng hai tên tội phạm vẫn ngụp lặn trong u mê mù 
				quáng và cố chấp không chịu đạp ảnh. Vì vậy chúng đã tự chuốc 
				lấy án chết. Vậy hai tội phạm phải bị xử giảo không trì hoãn nữa 
				để cái chết của chúng răn bảo những kẻ còn cố chấp không biết tự 
				cải hóạ Cứ thế mà thi hành&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Khoảng 100 binh lính dẫn ông ra pháp trường chung với thày Tự. 
				Đến nơi hai vị hỏi chỗ xử Đức Cha Cao và hai linh mục Khoa và 
				Điểm năm trước, rồi dừng lại đúng chỗ đó mà cầu nguyện : &quot;Lạy 
				Chúa xin tạ ơn Chúa cho con được ân phúc như các ngài…&quot; Nguyện 
				cầu xong, ngồi xuống, ông Quỳnh bình tĩnh chậm rãi hút hết điếu 
				thuốc được quan trao cho.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Hai người con đến từ giã, ông nhắc họ qua giã biệt thấy Tự, xin 
				thày về bên Chúa nhớ khẩn cầu cho các con. Thế rồi ông nói những 
				lời sau cùng : &quot;Cha gởi lời chào các chức sắc và anh em giáo hữu 
				Mỹ Hương. Cầu chúc mọi người bình an, trung thành giữ đạo. Hãy 
				yêu thương nhau và sống đạo đức, các con sẽ gặp lại cha trên 
				Thiên Đường&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Nói xong ông nằm xuống trên chiếu trải sẵn, ông quỳnh giang tay 
				ra nói : &quot;Xưa Chúa cũng chịu giang tay như thế này để chịu đóng 
				đinh&quot;. Quân lính tròng dây qua cổ và giữa tiếng thanh la vang 
				rền. Họ mạnh tay xiết chặt hai đầu dây, đưa người tôi trung của 
				Đức Kitô về hưởng hạnh phúc trường sinh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Đức Lêo XIII suy tôn ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh lên bậc chân 
				phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy 
				tôn ngài lên bậc Hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Ngày nay mọi người vẫn còn cảm kích với hai câu thơ khắc trên 
				bia mộ ông Quỳnh ở xứ Kim Sen, nơi thi hài ông được an táng với 
				tổ tiên dòng họ :</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				&quot;Nghĩa khí nêu cao trên đất nước,<br>
				Oai linh phù hộ khắp non sông&quot;</p>
				<div align="right">
					<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
					<strong style="font-weight: 400"><em><font size="3">Nguồn St</font></em></strong><font size="3"><br>
&nbsp;</font></div>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử đạo</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Antôn Quỳnh sinh năm Mậu Tý (1768)<br>
				Làng Mỹ Hương tỉnh lỵ Quảng Bình<br>
				Hai anh tu học chủng sinh<br>
				Mẹ Cha bắt lập gia đình bản thân<br>
				<br>
				Khi tới tuổi vua cần bắt lính<br>
				Gia nhập vào có tính hiên ngang<br>
				Phú Xuân giặc giã dẹp tan<br>
				Anh thật can đảm phong hàm chức cai<br>
				<br>
				Hết loạn lạc anh khai xuất ngũ<br>
				Về gia đình bạn rủ học nghề<br>
				Bán buôn làm thuốc làm thuê<br>
				Mát tay thầy thuốc, hết chê tiếng đồn<br>
				<br>
				Coi người bệnh sớm hôm thăm viếng<br>
				Với tình thương thực hiện lòng nhân<br>
				Tiền bạc bác ái ân cần<br>
				Chỉ lo giúp đỡ xa gần bệnh nhân<br>
				<br>
				Làng Mỹ Hương đang cần trùm trưởng<br>
				Ðã chọn ông trọng thưởng công đầu<br>
				Ðức cha để ý ông lâu<br>
				Muốn phong Thầy giảng, phép mầu cho ông<br>
				<br>
				Vua Minh Mệnh tấn công bắt đạo<br>
				Rất gắt gao xục xạo khắp nơi<br>
				Thừa sai chạy trốn tơi bời<br>
				Việt Nam đạo trưởng, cũng thời trốn chui<br>
				<br>
				Cố Kim sai tới lui làng cũ<br>
				Lấy đồ dùng, ông Dụ gia nhân<br>
				Lính liền chận lại cầm chân<br>
				Trùm Quỳnh dấu Cố, xa gần nơi đâu<br>
				<br>
				Ông Dụ chối, hồi lâu thú nhận<br>
				Có đồ đạo ở tận Kim Sen<br>
				Quân quan vội vã đuốc đèn<br>
				Bao người có mặt, quan bèn bắt ngay<br>
				<br>
				Người con cả đem ngay tiền chuộc<br>
				Ðược tha ra chỉ buộc Trùm Năm<br>
				Chuyển về Ðồng Hới giam cầm<br>
				Giải đi khám lớn, trung tâm nhốt tù<br>
				<br>
				Tại khám lớn là khu đạo trưởng<br>
				Cùng Thừa sai được hưởng xiềng gông<br>
				Nơi đây nhốt cũng khá đông<br>
				Bao người thăm viếng, cộng đồng giáo dân<br>
				<br>
				Quan Lệ Thủy lại gần tra hỏi<br>
				Ông Trùm Năm chỉ nói mấy cha<br>
				Bắt giam bị nhốt trong nhà<br>
				Không khai vị khác, thật là khôn ngoan<br>
				<br>
				Ông bị tra dã man khổ cực<br>
				Nhưng vững lòng nhất mực không khai<br>
				Quan bộ tức giận tát tai<br>
				Ông không quá khóa, quan sai lính liền<br>
				<br>
				Khiêng qua ảnh, buồn phiền ông nói<br>
				Ðó quan làm theo lối bạo quyền<br>
				Trước mặt Chúa, tôi bình yên<br>
				Lòng tôi kiên vững, một niềm đức tin<br>
				<br>
				Con ông Năm đã tìm đến báo<br>
				Cho hai vị tử đạo biết ngay<br>
				Trối trăn mọi việc trao tay<br>
				Nhà tù đóng cửa chẳng tày tiếp ai<br>
				<br>
				Riêng hai vị kêu nài khẩn nguyện<br>
				Ra pháp trường trực diện sẵn sàng<br>
				Lý hình hống hách gươm mang<br>
				Tay vung một nhát nhẹ nhàng đầu rơi<br>
				<br>
				Quan cho phép vào thời lấy xác<br>
				Ðem về chôn phó thác nghĩa trang<br>
				Mồ êm mả ấm Nghệ An<br>
				Hồn về Thiên quốc Chúa ban phúc lành<br>
				<br>
				Phúc tử đạo ghi danh Canh Tý (1840)<br>
				Một danh y thiện chí thương người<br>
				Sáng danh Chúa cả trên Trời<br>
				Suy tôn Canh Tý (1900) tuyệt vời thánh nhân</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<b>Lời bất hủ:</b> Ông tuyên xưng đức tin trước các quan. &quot;Thà 
				chết không thà chối đạo, dù chỉ là trong giây lát&quot;. Quan cho 
				lính lôi ông qua Thập giá, ông lớn tiếng phản kháng: &quot;Việc này 
				do quan lớn làm, nếu có tội là quan phạm tội, chứ không phải 
				tôi&quot;. Thánh nhân khuyên các con: &quot;Cha đã nuôi dưỡng các con từ 
				nhỏ, nay đã lớn khôn, các con sẽ lo tất cả cho gia đình. Cha 
				muốn dành tiền bán thuốc để chia sẻ với bà con nghèo khó&quot;. </td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager