File "Quy_PheroDoanCong.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Quy_PheroDoanCong.htm
File size: 22.43 KiB (22967 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Phêrô Ðoàn Công Quý (1826-1859)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Phêrô Ðoàn Công Quý (1826-1859)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/PheroDoanCongQuy.jpg" width="200" height="285"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<strong>Phêrô Ðoàn Công Quý,</strong> Sinh năm 1826 tại Búng, 
				Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 31/07/1859 tại Châu Ðốc dưới 
				đời vua Tự Ðức. Đức Piô X suy tôn Chân Phước cho cha Phêrô Đoàn 
				Công Quý ngày 02.05.1909. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II 
				suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 31/07.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Những năm 
				thơ ấu.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Antôn Đoàn 
				Công Miêng và bà Anrê Nguyễn Thị Thường sinh sống ở Bắc Việt cho 
				đến năm 1820. Cả gia đình di cư vào Nam ở tại họ Búng, làng Hưng 
				Thịnh, tổng Bình Thạnh, hạt Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình 
				Dương). Năm 1826, người con trai út, Phêrô Đoàn Công Qúi chào 
				đời. Đây là người con thứ sáu trong gia đình và là hy lễ của gia 
				đình ông Miêng hiến dâng cho Thiên Chúa. </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vì thấy cậu út rất 
				thông minh, nên ông Miêng cố lo liệu để cậu chuyên chăm theo 
				đường học vấn, với hi vọng mai sau nối dòng thi lễ, làm vẻ vang 
				cho cả gia tộc. Nhưng thiên Chúa muốn cho người con út này đi 
				theo con đường khác. Cậu Quý thường lui tới và học hỏi cha Tám ở 
				nhà thờ họ Búng. Một thời gian sau, cậu xin phép cha mẹ được ở 
				luôn với người, thỉnh thỏang mới về thăm gia đình.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Theo tiếng Chúa gọi</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1847, cha Tám 
				giới thiệu chàng trai 21 tuổi này với cha Gioan Miche Mịch để 
				được học hỏi tiếng la tinh và tiếp tục theo đuổi ơn gọi tu trì. 
				Sau khi học tiếng Latinh tại nhà cha Mịch, cậu Quý được học tại 
				chủng viện Thánh Giuse (Thị Nghè) do cha Borelle làm giám đốc. 
				Năm 1848, thày Quý du học tại đại chủng viện Hội Thừa Sai Paris 
				ở Pénang (Mã Lai). Tại đây, thày học triết lý và thần học, ngôn 
				ngữ, văn chương. Việc huấn luyện như thế được coi là khá đầy đủ 
				cho một linh mục thuộc miền truyền giáo trở về hoạt động tại quê 
				hương.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trên con đường xứ vụ</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1855, thày Quý 
				hồi hương vào thời kỳ vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo gắt gao. 
				Tháng 9.1855, vua Tự Đức ra chiếu chỉ thứ ba, trong đó không 
				những lùng bắt các đaô trưởng, mà còn bắt cả giáo hữu phải xuất 
				giáo, triệt hạ các thánh đường, phá hủy các cơ sở tôn giáo …</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Với hoàn cảnh bất 
				lợi này, Đức cha Lefèbvre Nghĩa trao cho thày nhiệm vụ săn sóc, 
				dạy dỗ, động viên các giáo hữu tại các họ đạo. Qua một thời gian 
				hoạt động, thày tỏ ra là người nhiều khả năng, nên Đức cha đã 
				truyền các chức nhỏ cho thày. Sau ba năm thi hành việc mục vụ 
				tại các giáo họ, tháng 9.1858, thày Quý đã được lãnh chức linh 
				mục tại nhà thờ Thủ Dầu Một. Sau một thời gian phục vụ tại các 
				giáo xứ Lái Thiêu, Gia Định và Kiến Hòa, Đức cha bổ nhiệm cha 
				Phêrô Quý làm phó xứ Cái Mơn (Vĩnh Long).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Phêrô Quý được 
				tuyển chọn vào cánh đồng truyền giáo trong giai đoạn đặc biệt 
				của đất nước : Pháp và Tây Ban Nha đem quân đánh phá ở Cửa Hàn 
				(Đà Nẵng) vào tháng 9.1858 làm cho vua Tự Đức càng thêm căm ghét 
				các giáo sĩ nước ngoài và Đạo Thiên Chúa. Do đó, cuộc bách hại 
				ngày càng khốc liệt hơn. Nhưng nhiệt tình truyền giáo đã làm cho 
				cha Quý vượt thắng mọi gian khổ, đe dọa, hiểm nguy. Chỉ ba tháng 
				sau khi cha về Cái Mơn, quân lính bao vây Dòng Mến Thánh Giá Cái 
				Mơn để lùng bắt giáo sĩ, nhưng không có vị nào ở đó, nên lính 
				bắt giam một tu sĩ nữ để tra tấn, khai thác các chị về chỗ ở của 
				các ngài. </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nghe tin các nữ tu 
				bị bắt, cha Quý muốn nộp mạng để lính tha cho chị em, nhưng giáo 
				hữu ngăn cản và không để cha thực hiện ý định này. Cha vẫn ao 
				ước sẵn sàng hy sinh tính mạng để thế cho các chị. Cha chỉ bỏ ý 
				định này khi có lệnh rõ ràng của cha bề trên giáo phận Borelle 
				Hòa. Từ đó cha cải trang thành thường dân, đi thăm viếng, an ủi 
				và ban các bí tích cho các giáo hữu.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Chặng đường khổ giá</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức cha bổ nhiệm 
				cha Quý về giáo họ Đầu Nước ở Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang ngày 
				27.12.1858 thì mười ngày sau (07.01.1859) quan Tổng đốc An Giang 
				được mật báo có Tây dương đạo trưởng trú ẩn tại nhà ông Lê văn 
				Phụng ở Đầu Nước. Quan sai 100 lính đến bao vây nhà ông Phụng. 
				Khi lính gần đến làng, giáo hữu tới báo tin cho gia đình ông 
				Phụng. Nghe tin này, cha Pernot Định đã đề nghị với cha Quý cùng 
				đi trốn, nhưng cha Quý bình tĩnh trả lời: </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Tôi là người bản 
				xứ chắc quan quân khó nhận ra, cha cứ đi trước, tôi ở lại thu 
				dọn đồ lễ khỏi gây phiền hà cho chủ nhà và giáo họ, rồi sẽ theo 
				sau&quot;. Sau khi cha Pernot ra khỏi thì quan quân ập tới. Cha Quý 
				chạy vào ẩn nấp dưới sàn nhà, quan ra lệnh cho ông Phụng phải 
				nộp đạo trưởng Tây như đã được mật báo. Ong Phụng cương quyết 
				trả lời là không có ai là đạo trưởng Tây cả. Quan dọa là nếu 
				không tuân lệnh thì sẽ bị đánh đòn. Thấy lính sắp đánh đòn chủ 
				nhà, cha Quý tự ra nhận mình là đạo trường. Lính không chịu nghe 
				và nói chắc chắn là có tên đạo trưởng Tây ở trong nhà này. Cha 
				Quý lại cương quyết khẳng định : &quot;Không có Tây dương đạo trưởng 
				nào ở đây, chỉ có tôi là đạo trưởng. Ai muốn theo đạo tôi sẵn 
				sàng chỉ dậy&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thấy cha Quý còn 
				rất trẻ, quan không tin ngay liền hỏi em nhỏ 10 tuổi, cháu nội 
				của ông Phụng xem đạo trưởng là ai. Nó chỉ vào cha Quý và thưa : 
				&quot;Bẩm, ông này ạ&quot;. Lính liền trói cha Quý, ông Phụng và 32 giáo 
				hữu, rồi xiềng xích giải về Châu Đốc. Đến Châu Đốc, lính áp giải 
				cha Quý đến quan tổng đốc. Quan thẩm vấn cha nhiều điều và hứa 
				sẽ tha cho cha nếu cha tuyên bố bỏ đạo, theo như chiếu chỉ nhà 
				vua. nhưng cha Quý vẫn kiên quyết nhận mình là đạo trưởng, không 
				bao giờ bỏ đạo Thiên Chúa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lần khác quan nói 
				với cha: &quot;Thày là người thanh liêm, nhân từ, đức hạnh, tại sao 
				lại mê theo tà đạo, hãy nghe ta mà bỏ đạo đó đi&quot;. Cha Quý trả 
				lời: &quot;Dạ, thưa quan tôi là người giảng dạy đạo này, sao lại có 
				thể bỏ đạo cho được ? Vả nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dậy điều 
				tốt lành, chứ khong phải là tà đạo như quan hiểu lầm đâu&quot;. Quan 
				ra lệnh tống giam cha và sau đó dùng nhiều phương kế dụ dỗ đe 
				nạt, tra tấn hòng làm thay đổi lập trường của cha. Nhưng cha vẫn 
				một lòng trung kiên với chính đạo. Sau cùng, quan thảo bản án 
				trảm quyết gửi về kinh đô. Bảy tháng trong ngục, cha Quý động 
				viên các bạn tù, cử hành bí tích, nguyện ngắm và đọc kinh Mân 
				Côi với họ. Một giáo hữu đến thăm cha, có cả linh mục bản quốc 
				cải trang để vào giải tội và cho cha rước Thánh Thể.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Tình thương với thân mẫu</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dù sống trong cảnh 
				tù ngục, cha Quý vẫn tưởng nhớ đến thân mẫu của mình (thân phụ 
				đã qua đời). Cha gởi thơ kính thăm và báo tin cho thân mẫu biết 
				tin mình sắp được phúc tử đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>Ký vụ thân mẫu 
				đôi chữ trưởng tri<br>
				Kể từ ngày con vâng lệnh ra đi<br>
				Lòng lã chã lệ rơi luồng lụy<br>
				Ngỡ tới đây hành công biện sự<br>
				Một hai tháng về viếng từ thân<br>
				Ai ngờ rầy sớm tách lìa phân<br>
				Trời cùng nước không hề vầy hiệp<br>
				Hễ đạo làm tôi đua giữ lời răn dậy<br>
				Cho nên con vâng lệnh chỉ sai<br>
				Đàng xa xôi cách trở lại chi nài<br>
				Miễn đặng tiếng vâng lời chịu lụy<br>
				Khi con tới An Giang tạm nghỉ<br>
				Gặp chân trời mở hội khoa thi<br>
				Nên con phải liều công ứng cử<br>
				Ay là Thiên Chúa chi sổ nhiên<br>
				Nhơn tất tùng chi, nhi dĩ hỉ.<br>
				Dầu trăng trói gông cùm tù rạc<br>
				Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề<br>
				Miễn vui lòng cam chịu một bề<br>
				Cho trọn đạo trung thần hiếu tử<br>
				Chí con dốc đến công ơn Chúa<br>
				Dạ con làm báo nghĩa mẹ cha<br>
				Xin mẫu từ chớ chút phiền hà<br>
				Một cam chịu cho danh cha cả sáng.</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">…</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nay thơ,<br>
				Thân tử Bá Đa Lộc Đoàn Công Quý,<br>
				Linh mục bản quốc&quot;</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Sau ba tiếng chuông ngân</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ước vọng hiến dâng 
				trọn vẹn cuộc đời cho Thiên Chúa của cha Phêrô Đoàn Công Quý đã 
				được chấp nhận. Ngày 30.07.1859, bản án trảm quyết cha được gởi 
				từ kinh đô về đến Châu Đốc cùng với bản án ông Emmanuel Lê Văn 
				Phụng. Sáng hôm sau (31.07), cha Quý và ông Phụng hớn hở đi ra 
				pháp trường ở xóm Chà Và cùng với quan quân và giáo hữu. Người 
				lính đi trước tay cầm tấm thẻ của cha Quý và thỉnh thoảng đọc 
				to:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Tự Đức thập tam, 
				An Giang tỉnh, kỷ vị niên, thất nguyệt, sơ nhị nhật.<br>
				Thẻ : Đạo trưởng Đoàn Công Quý, tùng gian đạo, tụ tập đạo đồ, 
				đạo chủng, đạo thư: Bất khẳng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật 
				hình trảm quyết&quot;. (1)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến nơi xử án, hai 
				vị chứng nhân Chúa Kitô: cha Quý và ông Phụng, cùng qùy xuống 
				cầu nguyện. Sau đó, cha Quý giải tội cho ông Phụng. Giờ hành xử 
				đã đến, ba tiếng chuông vang lên giữa pháp trường, lý hình chém 
				cha Quý ba nhát gươm, đầu cha lìa khỏi thân mình và rơi xuống 
				đất. Vị tử đạo già từ cõi đời trở về quê hương vĩnh cửu với tuổi 
				đời 33, sau một năm thi hành chức vụ linh mục. Thi hài vị tử đạo 
				được an táng tại nhà thờ Năng Gù, sau được cải táng về chủng 
				viện Cù Lao Giêng năm 1959, nhân dịp bách chu niên cuộc tử đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Piô X suy tôn 
				Chân Phước cho cha Phêrô Đoàn Công Quý ngày 02.05.1909. Ngày 
				19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">Nguồn từ thư 
				viện Đa Minh</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Linh mục Giuse 
				Ðoàn Công Quý <br>
				Sinh Bính Tuất (1826) tỉnh lỵ Bình Dương<br>
				Lớn lên được cha Tám thương<br>
				Tới lui gặp gỡ tìm đường đi tu<br>
				<br>
				Cha Tám đang quản khu giáo xứ<br>
				Ngài thương con con cứ ở đây<br>
				Con về xin phép Mẹ Thầy<br>
				Thời gian học hỏi tràn đầy ơn riêng<br>
				<br>
				Sau Cha Tám gởi liền chủng viện<br>
				Thánh Giuse dâng hiến đời tu<br>
				Ơn gọi Thiên Chúa hộ phù<br>
				Thầy được theo học viễn du nước ngoài<br>
				<br>
				Ở Pénang Thừa sai của hội<br>
				Học triết thần sau rồi văn chương<br>
				Bảy năm Thầy Quý hồi hương<br>
				Ðức Cha trao phó lên đường giảng rao<br>
				<br>
				Ðộng viên giáo hữu bao họ đạo<br>
				Thầy tỏ ra chu đáo khả năng<br>
				Thời gian phục vụ siêng chăm<br>
				Thụ phong Linh mục thưa rằng Ðức Cha<br>
				<br>
				Tân Linh mục đó là Cha Quý<br>
				Một thời gian giáo lý Lái Thiêu<br>
				Bài sai Giám Mục chuyển điều<br>
				Cái Mơn phó xứ sớm chiều chăm lo<br>
				<br>
				Sau tuyển chọn chuyên cho truyền giáo<br>
				Khắp đó đây loan báo Tin mừng<br>
				Cửa Hàn Pháp đã bất ưng<br>
				Xua quân bắn phá khắp vùng xung quanh<br>
				<br>
				Vua Tự Ðức đã dành oán ghét <br>
				Các Linh mục gán ghép theo Tây<br>
				Việt Nam giáo hữu bị lây<br>
				Tội theo tà giáo phương Tây đưa vào<br>
				<br>
				Ra chiếu chỉ truyền giao bắt đạo <br>
				Cứ mỗi ngày tàn bạo tấn tra<br>
				Truy lùng đạo trưởng quý Cha<br>
				Nhưng không bắt được chúng đà nổi xung<br>
				<br>
				Sau lính bắt truy lùng tu sĩ<br>
				Chúng dã man bắt bí nữ tu<br>
				Cha Quý ngài muốn thế tù<br>
				Giáo dân can gián, áo tu để nhà<br>
				<br>
				Giả dân thường để mà đi lại<br>
				Ngài viếng thăm con cái giáo dân<br>
				Trao ban Bí tích rất cần<br>
				Ðức Cha bổ nhiệm lãnh phần Cù Lao<br>
				<br>
				Quan về làng vây bao trăm lính<br>
				Ðến nhà ông Phụng tính bắt Tây<br>
				Ông liền nói nhà tôi đây<br>
				Không có đạo trưởng người Tây trong nhà<br>
				<br>
				Quan quát lớn tấn tra đòn đánh<br>
				Cha Quý ngài cứu tránh chủ nhà<br>
				Tôi đây đạo trưởng quê ta<br>
				Không tin quan hỏi sao mà trẻ trung<br>
				<br>
				Ðứa nhỏ chỉ trong vùng đạo trưởng<br>
				Lính bắt ngay vẫn tưởng là sai<br>
				Rồi xiềng xích trói tay ngài<br>
				Giải về Châu Ðốc cung khai truy tìm<br>
				<br>
				Quan dụ dỗ nghe tin đức hạnh<br>
				Hãy nghe ta mà tránh đạo tà<br>
				Thưởng tiền đạo trưởng được tha<br>
				Thanh liêm nổi tiếng gần xa người đồn<br>
				<br>
				Dạ thưa quan sớm hôm giảng đạo<br>
				Ðiều tốt lành sáng tạo niềm tin<br>
				Giêsu cứu độ kiếm tìm<br>
				Tôi là đạo trưởng giữ gìn đoàn chiên<br>
				<br>
				Xin quan lớn cảm phiền hiểu thấu<br>
				Chớ có lầm, nói xấu đạo trời<br>
				Tôi xin khẳng định nói lời<br>
				Sẵn sàng tử đạo nước trời Chúa ban<br>
				<br>
				Quan tức giận thảo bàn trảm quyết<br>
				Tại pháp trường ở miệt Năng Cù<br>
				Nghe chiêng ba tiếng vang du<br>
				Chém đầu Cha Quý, viễn du Nước Trời<br>
				<br>
				Thi hài an táng đời đau khổ<br>
				Mộ chôn ngay tại chỗ nhà thờ<br>
				Ngày cải táng mãi ước mơ<br>
				Cù Lao chủng viện, kính thờ Long Xuyên<br>
				<br>
				Năm Kỷ Mùi (1859) trung kiên tử đạo<br>
				Là chứng nhân tố cáo gian tà<br>
				Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh Roma<br>
				Suy tôn Chân Phước giờ ta đón mừng</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>Lời bất hủ: </b>
				Quân lính hỏi có Tây dương đạo trưởng trong nhà này. Cha Quý 
				khẳng định trả lời: &quot;Không có Tây dương đạo trưởng nào ở đây, 
				chỉ có tôi là đạo trưởng. Ai muốn theo đạo, tôi sẵn sàng chỉ 
				dạy&quot;. Quan tra hỏi và bắt bỏ đạo, cha trả lời: &quot;Dạ, thưa quan, 
				tôi là người giảng đạo này, sao lại có thể bỏ đạo cho được! Và 
				nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dạy những điều tốt lành, chứ không 
				phải là tà đạo như quan hiểu lầm đâu&quot;. </td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager