File "My_PhaoloNguyenVan.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/My_PhaoloNguyenVan.htm
File size: 24.32 KiB (24908 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Phaolô Nguyễn Văn Mỹ (1798 – 1838)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Phaolô Nguyễn Văn Mỹ (1798 – 1838)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/PhaoloNguyenVanMy.jpg" width="200" height="133"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Sinh năm 1798 tại Kẻ Non, Hà Nam, Thầy 
				giảng, bị xử giảo ngày 18 tháng 12 năm 1838 tại Sơn Tây dưới đời 
				vua Minh Mạng. Đức Lêô XIII suy tôn ba thày Phaolô Nguyễn Văn 
				Mỹ, Phêrô Trương Văn Đường và Phêrô Vũ Truật lên bậc chân phước 
				ngày 27-05-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn 
				các ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 18/12</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ba thày giảng cùng 
				bị bắt một ngày, cùng bị giam một nơi, cùng tử đạo một giờ, cùng 
				được suy tôn Chân Phước và Hiển Thánh một lượt là các thày: 
				Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, 40 tuổi; Phêrô Trương Văn Đường, 30 tuổi 
				và Phêrô Vũ Truật, 21 tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thánh 
				Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ - </strong>Thày giảng - (1798 – 1838)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Là người lớn tuổi 
				nhất, thày Phaolô Mỹ như người anh cả, và là chỗ dựa cho hai 
				thày giảng cùng bị giam chung. Trong một lá thư gửi cho thừa sai 
				Marette, thày Đường viết : &quot;… Từ ngày được diễm phúc chịu khó vì 
				đức tin, thày Mỹ thay chúng con vẫn viết thư cho cha. Vì chúng 
				con coi thày như thay mặt cha ở giữa chúng con…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phaolô Nguyễn Văn 
				Mỹ chào đời năm 1798 ở làng Kẻ Non, còn gọi là Sơn Nga, huyện 
				Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tên thật của cậu là Nguyễn Văn Hữu. Năm 
				13 tuổi, được phép cha mẹ, cậu Mỹ theo giúp việc Đức cha Giacôbê 
				Longer Gia rồi sau giúp cha Luật xứ Kẻ Đầm bốn năm. Đến năm 19 
				tuổi, cậu theo học tại chủng viện Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi làm thày giảng 
				thực thụ, thày Mỹ được gửi đến giúp thừa sai Marette. Ít lâu 
				sau, Đức cha Harvard Du giám quản giáo phận Tây Đàng Ngoài, đã 
				chọn thày phụ giúp linh mục Cornay Tân, xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây. 
				Nhiều kinh nghiệm và khả năng, thày Mỹ đã hỗ trợ đắc lực cho vị 
				thừa sai trẻ tuổi nhiệt thành, nhưng thường đau ốm nặng nề này. 
				thày Mỹ luôn hoàn thành công tác mục vụ một cách chu đáo: Từ 
				giảng lý tân tòng và trẻ em, đến khuyên bảo tội nhân hối cải. 
				Khi tình hình cấm đạo lên cao độ, thày là vị tông đồ nhiệt thành 
				và hữu hiệu, đi thăm từng gia đình để khích lệ các tín hữu sống 
				đức tin, và còn hơn thế, được nhiều người ngoại giáo về đón nhận 
				niềm tin Kitô giáo.<strong> </strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thánh 
				Phêrô TRƯƠNG VĂN ĐƯỜNG</strong> - Thày giảng - (1808 – 1838)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>&quot;Nhất định 
				chúng tôi không đạp lên ảnh chuộc tội, vì như vậy là chọn cái 
				chết đời đời cả linh hồn lẫn xác&quot;.</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lời nói trên cho 
				ta thấy tâm tình của thánh Phêrô Đường, vị thày giảng đã hơn 20 
				năm dâng mình cho Chúa, để tìm kiếm hạnh phúc đích thực cho 
				chính mình và ta nhân.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sinh năm 1808 ở 
				làng Kẻ Sở, xã Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Gia đình 
				Phêrô Đường tuy nghèo nhưng nổi tiếng thánh thiện. Được cậu là 
				linh mục Trương Văn Thi phụ trách xứ Sông Chảy đỡ đầu, nên ngay 
				khi chú Đường mới 9 tuổi, cha Phương xứ Yên Tập đã nhận khai tâm 
				cho chú vào đời sống tu trì. 15 tuổi, anh Phêrô Đường đã được 
				gủi đến giúp xứ Bầu Nọ dưới quyền thừa sai Marette. Với sự khích 
				lệ của cha, anh chuyên tâm học chữ Hán và Latinh để chuẩn bị cho 
				tương lai.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khả năng và nhân 
				cách của anh Phêrô đường được xác nhận ngay năm sau. Anh được 
				Đức cha Havard Du nhận vào bậc thày giảng dù mới 16 tuổi, thày 
				giảng trẻ tuổi nhất. Thày tiếp tục giúp xứ Bầu Nọ thời cha 
				Cornay Tân, cho đến ngày bị bắt. Tính tình vui tươi, hiền lành, 
				thày được mọi người trong xứ mến chuộng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thánh 
				Phêrô VŨ TRUẬT - </strong>Thày giảng - (1817 – 1838)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thày Phêrô Vũ 
				Truật, 21 tuổi, đáng lưu danh muôn thuở cho câu nói bất hủ, trả 
				lời lại những viên quan chê dại dột lãng phí tuổi thanh xuân : 
				&quot;Chưa chắc là tôi dại. Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, 
				để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phêrô Vũ Truật 
				sinh năm 1817 ở làng Hà Thạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Sơn Vy, trấn 
				Sơn Tây. Gia đình anh rất nghèo, cha chết sớm, vốn liếng lại 
				chẳng có, mẹ anh phải đầu tắt mặt tối suốt ngày,để nuôi ba con 
				dại, nên Phêrô Truật không được đi học và gầy yếu xanh xao.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy nhiên, anh 
				Truật có lòng đạo đức, thường lui tới nhà thờ kinh lễ, nên được 
				cha Tân chánh xứ Bầu Nọ chọn vào phục vụ những việc nhẹ trong xứ 
				và tạo điều kiện cho ăn học. Dầu thế mặc lòng, anh Truật cũng 
				chẳng bằng ai, phần trí khôn hơi chậm, phần hay bị đau ốm luôn, 
				anh chỉ có thể biết đọc biết viết sơ sơ. Bù lại, anh rất thuộc 
				kinh, nên đặc trách việc dạy kinh truyền khẩu cho các thiếu nhi 
				nhỏ tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mãi đến khi bị bắt 
				giam trong ngục tù rồi, Đức cha Havard Du mới chứng nhận anh là 
				thày giảng, vừa để lòng tin làm chứng cho đức tin. Thày Truật 
				tuy không còn cơ hội để giảng bằng lời nói, nhưng thái độ kiên 
				tín của thày chính là lời giảng có sức thuyết phục hơn nhiều.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Ba tấm 
				lòng vàng</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ở Bầu Nọ có người 
				ngoại giáo tên Đức cầm đầu một băng cướp đã bị bắt. Để nhẹ tội, 
				y nói với vợ là Yến vu oan cho cha Cornay Tân tội tổ chức phản 
				loạn. Chị ta liền giả vờ đến xin học đạo để dò xét những nơi cha 
				thường trú ẩn. Khi biết được, chị ta liền giấu vũ khí trong vườn 
				nhà cha, rồi đi mật báo cho các quan tỉnh Sơn Tây.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 20-6-1837, 
				quan Sơn Tây phái 1500 quân lính đến làng Bầu Nọ, bắt linh mục 
				Tân. Hai thày Mỹ và Đường cũng như anh Truật ngồi lẫn vào đám 
				đông dân chúng bị tập trung nơi đình làng. Lính lục soát từ sáng 
				tới trưa vẫn không thấy cha Tân đâu cả. Bà Yến liền bày cho họ 
				bắt anh Truật và hai thày Mỹ, Đường, là những người thân thiết 
				với cha xứ để tra hỏi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chiều hôm đó, lính 
				phát hiện được cha đang ẩn trong bụi rậm. Nhưng để có thêm nhân 
				chứng ghép tội cha, ba vị phụ tá này cũng bị áp giải với ngài 
				hơn sáu dặm đường, về nhà lao tỉnh Sơn Tây. Tại công đường, ba 
				vị đã khéo léo minh chứng cha xứ không theo giặc nổi loạn, và 
				giải thích những lời đồn đại sai về đạo. Thí dụ quan hỏi : &quot;Sao 
				các ông móc mắt người chết để luyện bùa phép ?&quot; Thày Mỹ trả lời 
				: &quot;Không lẽ quan tin những lời đồn đãi vô lý đó sao ? Bởi nếu 
				chúng tôi làm như thế, cha mẹ vợ con họ đâu để cho chúng tôi 
				yên. Vậy mà chúng tôi vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui 
				vẻ&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các cuộc thẩm vấn 
				thường đi liền với những tra tấn dã man. Đây là chứng thư của 
				thày Mỹ: &quot;Lính lột áo chúng tôi ra, bắt chúng tôi nằm xuống lấy 
				dây thừng cột tay chân, rồi kéo căng cột vào bốn góc, nguyên sự 
				căng nọc cũng làm chúng tôi đau đớn vô cùng, thế rồi họ bắt đầu 
				đánh đòn… Cuối cùng họ không đánh bằng một chiếc roi nữa mà là 
				cả bó. Mỗi lần đánh hằng trăm đầu roi mây in lằn trên da thịt 
				chúng tôi, tạo nên nhiều vết thương đẫm máu…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Riêng thày Truật 
				vì ốm yếu nên được đeo gông nhẹ hơn và bị ít đòn hơn. Nhưng sau 
				mỗi kỳ tra tấn cả ba người đều bị kiệt sức, phải khiêng về ngục 
				thất. Ngày 20-9, lính canh tù loan tin cha Tân đã bị trảm quyết, 
				và khuyên các thày bỏ đạo cả ba vị cùng nói : &quot;Chúng tôi mừng vì 
				thày chúng tôi được tử đạo, chúng tôi nguyện theo gương Ngài.&quot;
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Giai đoạn này thày 
				Mỹ ghi lại một lá thư : &quot;Suốt bốn tháng liền chúng tôi bị gông 
				cùm xiềng xích, chịu lính canh ngược đãi, phòng giam ẩm thấp hôi 
				hám, ruồi muỗi tự do hoành hành, trên người thì đầy những vết 
				thương bị tra tấn.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tháng 10 bản án 
				tỉnh Sơn Tây tâu vua Minh Mạng được chuẩn phê và gởi về. Nhưng 
				thay vì giết ngay bản án quyết định &quot;giam hậu&quot; nghĩa là khoan xử 
				chờ quyết định mới, bề ngoài có vẻ nhân đạo, nhưng thật ra bên 
				trong rất thâm độc. Với thời gian nhiệt tình ban đầu có nguy cơ 
				phai nhạt, vì tử tội luôn bị ám ảnh đến chuyện phải ngồi tù 
				không biết đến bao giờ. Đàng khác sự chịu đựng con người có hạn, 
				quá khổ đau, quá mòn mỏi, quá thất vọng, con người dễ bị lung 
				lạc và dễ bị thay đổi ý định. Thực tế ba thày giảng phải chờ 
				thêm 14 tháng, vị chi tất cả là một năm rưỡi bị giam cầm. Nhưng 
				suốt thời gian bị giam cầm thử thách lâu dài đó, ba thày vẫn gắn 
				bó với nhau trong nhẫn nại, can đảm và giữ mãi phúc tử đạo, mỗi 
				sáng cũng như mỗi tối, các thày lớn tiếng đọc kinh Mân Côi 
				chung, cầu nguyện chung, các đồ ăn thức uống, thuốc men nhận 
				được ba vị chia sẻ cho lính canh, ai đến thăm đều được khuyên 
				nhủ : &quot;Anh em hãy sống hòa thuận với mọi người trong gia đình, 
				làng nước, hãy là giáo hữu nhiệt thành, vì đời sống trần gian 
				chẳng là bao. Chúng tôi đã vâng theo ý Chúa định đoạt, hy vọng 
				mai này chúng ta sẽ đoàn tụ trên Nước trời&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Triệu giả làm 
				thường dân mang Mình Thánh Chúa cho các thày, đó quả là hồng 
				phúc lớn lao. Ta thử đọc tâm sự của thày Đường gởi cho cha 
				Marette trong thư : &quot;Hôm nay là ngày trọng đại chúng con được 
				rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi 
				nhẹ những xiềng xích của chúng con… cửa Thiên Đàng đã gần kề, 
				nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước ao sự 
				gì khác nữa…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Cùng Chiến 
				Thắng Vinh Quang</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1838, triều 
				đình duyệt lại bản án và chỉ thị cho quan tỉnh Sơn Tây thi hành. 
				Ngày 18-12 ba chứng nhân anh dũng bị điệu ra pháp trường ở Gò 
				Vôi làng Mông Phụ, tỉnh Sơn Tây. Mỗi người mang trên ngực tấm 
				thẻ ghi tên họ, nguyên quán, tội theo đạo Giatô, đã thú nhận, 
				truyền xử trảm. Trên đường đến nơi hành quyết, như đã hẹn trước 
				ba thày cùng làm dấu khi thấy cha Triệu đứng giữa dân chúng ban 
				phép lành tha tội. Một người lính cho các Ngài uống rượu, ba vị 
				cám ơn, uống nước trà và nói : &quot;Thày giảng chúng tôi kiêng rượu 
				như kiêng sắc dục và kiêng phản bội.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến nơi xử, ba 
				thày nằm dài trên chiếu, quân lính quây thành một vòng tròn lớn, 
				để ngăn cản dân chúng. Từng vị một bị trói chân vào cột và trói 
				chéo tay ra sau lưng. Dây thừng tròng sẵn vào cổ. Giữa tiếng 
				chiêng trống vang rền, theo lệnh quan mỗi tên lính nắm chặt đầu 
				dây xiết thật căng, chờ tới khi tất cả tắt thở, máu ứa ra miệng. 
				Sau đó lấy lửa đốt gan bàn chân để xác nhận các tử tội đã chết 
				thật rồi. Cha Marette và giáo dân đưa thi hài ba thày về họ Kẻ 
				Măng gần đấy tẩm liệm. Ngài dâng lễ cầu hồn tạ ơn Chúa đã cho 
				các bậc tôi trung thắng trận khải hoàn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Lêô XIII suy 
				tôn ba thày Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Phêrô Trương Văn Đường và 
				Phêrô Vũ Truật lên bậc chân phước ngày 27-05-1900. Ngày 
				19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển 
				thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">Nguồn từ thư 
				viện Đa Minh</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-left: 0; margin-right: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thầy giảng Phaolô 
				Nguyễn Văn Mỹ<br>
				Sinh Mậu Ngọ (1798) tỉnh lỵ Hà Nam<br>
				Giúp cha chu đáo thầy làm<br>
				Giảng rao lời Chúa toạ đàm tuyên xưng<br>
				<br>
				Phaolô Mỹ Tin mừng rao giảng<br>
				Dám cả gan bội phản lệnh vua<br>
				Thừa sai Tây đến vào hùa<br>
				Trên đường lẩn trốn lính lùa bắt giam<br>
				<br>
				Thầy được chọn lên làm Linh mục<br>
				Chúa quan phòng lãnh phúc hy sinh<br>
				Lệnh vua kết án tử hình<br>
				Thầy là Kẻ giảng gia đình trưởng nam<br>
				<br>
				Khi quân lính vây làng Bầu Nọ<br>
				Báo cho nhà Cố trọ trốn đi<br>
				Mang đồ đạo giấu cấp kỳ<br>
				Các Thầy Kẻ giảng cùng đi đình làng<br>
				<br>
				Xét lý lịch nghi can lục soát<br>
				Ðã tưởng chừng như thoát lưới thưa<br>
				Có bà tên Yến đứng thưa<br>
				Chỉ mặt Thầy Mỹ, dây dưa Truật, Ðường<br>
				<br>
				Ba Thầy bị đả thương dở chết<br>
				Dù đòn roi bê bết không khai<br>
				Ðến chiều lính bắt Cố Ngài<br>
				Thầy trao đồ đạo một vài món thôi<br>
				<br>
				Các Thầy phải liên hồi phơi nắng<br>
				Suốt ba ngày mang nặng gông xiềng<br>
				Sơn Tây đi bộ triền miên<br>
				Trên đường đói khát tối liền cùm chân<br>
				<br>
				Nhốt ngục tối nhiều lần tra hỏi<br>
				Cả ba Thầy chẳng nói điều chi<br>
				Giảng rao lời Chúa thực thi<br>
				Chúng tôi cương quyết không gì đổi thay<br>
				<br>
				Quan tức giận lột ngay quần áo<br>
				Trói giang tay nằm ráo dưới nhà<br>
				Ðánh đòn dọa nạt khảo tra<br>
				Bằng roi có móc thật là dã man<br>
				<br>
				Sau trận đánh thịt tan xương nát<br>
				Nát như tương chẳng khác tổ ong<br>
				Ngón tay co rút cong cong<br>
				Lính khiêng bỏ lại nhốt trong nhà tù<br>
				<br>
				Không tiếng nói êm ru ngục thất<br>
				Mở miệng ra chẳng nấc nên lời<br>
				Khò khè thở chẳng ra hơi<br>
				Quan quân ép buộc nhận lời trái sai<br>
				<br>
				Chúng dụ dỗ nói hoài không đạt<br>
				Ðã đổi chiều bài bác Thánh Kinh<br>
				Hỏi han thế giới vô hình<br>
				Mai sau hỏa ngục luyện hình thấy chưa<br>
				<br>
				Ðang khốn khổ sớm trưa liên tục<br>
				Có phải đây hỏa ngục trần gian<br>
				Chốn nào là nước Thiên Ðàng<br>
				Vua quan đang ngự huy hoàng phải không<br>
				<br>
				Ðâu có thưởng kẻ gông đeo cổ<br>
				Chết nát thây chôn chỗ pháp trường<br>
				Theo tả đạo chốn viễn phương<br>
				Cải tà quy chánh pháp trường quan tha<br>
				<br>
				Ba Thầy nói quan đà vô phúc<br>
				Phá đạo trời hỏa ngục trầm luân<br>
				Vua quan xuống đấy lãnh phần<br>
				Lý hình cứ xử chẳng cần thứ tha<br>
				<br>
				Giữa pháp trường ta là lính Chúa<br>
				Người Tông đồ chan chứa ơn lành<br>
				Sẵn sàng vì Chúa vinh danh<br>
				Lệnh vua xử giảo nguyên lành xác thân<br>
				<br>
				Lễ an táng thuộc phần giáo xứ<br>
				Tại Cao Mại nghĩa cử hương trầm<br>
				Các Cha tham dự âm thầm<br>
				Chôn gian nhà cuối thành tâm gia đình<br>
				<br>
				Một bà góa nghĩa tình tên Tín<br>
				Bảy tháng sau thầm kín về Non<br>
				Như lời trăn trối lúc còn<br>
				Hồng ân tử đạo là con dân làng<br>
				<br>
				Năm Mậu Tuất (1838) vẻ vang tử đạo<br>
				Ba chứng nhân giữ đạo đến cùng<br>
				Linh hồn về chốn thiên cung<br>
				Suy tôn Canh Tý (1900) vui chung Nước Trời<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ: </b>Thầy Mỹ luôn hoàn thành công tác mục vụ một 
				cách chu đáo, từ dạy giáo lý cho các tân tòng và trẻ em, đến 
				khuyên bảo các tội nhân ăn năn hối cải.Nói về Thầy Mỹ, thầy 
				Ðường viết: &quot;Từ khi được diễm phúc chịu khó vì Ðức Tin, thầy Mỹ 
				vẫn thay chúng con viết thư cho Cha (thừa sai Marette). Vì chúng 
				con coi thầy Mỹ như thay mặt Cha ở giữa chúng con&quot;. Lần khác, 
				quan tra hỏi và vu khống cho đạo, thầy Mỹ trả lời: &quot;Không lẽ 
				quan tin những lời đồn đại vô lý đó sao? Bởi vì chúng tôi làm 
				như thế, cha mẹ, vợ con họ đâu để chúng tôi yên. Vậy mà chúng 
				tôi vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui vẻ&quot;. </td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager