File "Moi_AugustinoNguyenVan.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Moi_AugustinoNguyenVan.htm
File size: 33.46 KiB (34265 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Augustinô Nguyễn Văn Mới (1806-1839) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Augustinô Nguyễn Văn Mới 
		(1806-1839) </font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/AugustinoNguyenVanMoi.jpg" width="200" height="276"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p align="justify" style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Augustinô Nguyễn Văn Mới là một nông dân, Dòng Ba Ða Minh; sinh 
				năm 1806 tại Phú Trang, Nam Ðịnh; tử vì đạo ngày 19 tháng 12 năm 
				1839, tại Cổ Mễ. Ngài nổi tiếng vì lòng sốt sắng, và bác ái mặc 
				dầu rất nghèo nàn. Ngài bị xử giảo (thắt cổ) chết vì từ chối 
				không bước qua thập giá. Ngày 27.5.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII 
				đã suy tôn năm vị anh hung tử đạo: Phanxicô Xavie Hà trọng Mậu, 
				Đaminh Bùi văn Úy, Augustinô Nguyễn văn Mới, Tôma Nguyễn văn Đệ 
				và Stêphanô Nguyễn văn Vinh lên bậc Chân Phước. Ngày 19.6.1988 
				Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong các vị lên bậc hiển 
				thánh. Ngày Lễ kính 19 tháng 12.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Đọc truyện các Thánh Tử đạo Việt Nam, không ai có thể quên được 
				một chứng tá tập thể của hai thầy giảng, ba giáo dân ở trong tù. 
				Năm vị cùng bị giam chung với cha Tự và ông trùm Cảnh, nhưng hai 
				vị này tử đạo trước (5.9.1838). Dù sống trong ngược đãi, dù bị 
				kiểm soát gắt gao, năm vị đã gắn bó với nhau trong tình anh em 
				tha thiết, cùng sống đức tin kiên vững và nỗ lực làm chứng cho 
				Thiên Chúa bằng lời nói, gương sáng và bằng chính mạng sống 
				mình.<br>
				<br>
				<b>1. Thánh Phanxicô Xavie HÀ TRỌNG MẬU, Thầy giảng dòng ba 
				Đaminh (1790-1839)</b><br>
				<br>
				Thầy giảng Phanxicô Xavie Mậu không những phải chọn lựa giữa cái 
				chết và cuộc sống, thầy còn phải chọn lựa giữa cái chết và việc 
				làm quan triều đình. Không một chút lưỡng lự, thầy trả lời vị 
				tổng đốc: &quot;Tôi không ham quyền, tôi chỉ muốn chết vì đạo.&quot;<br>
				<br>
				Phanxicô Xavie Hà Trọng Mậu cất tiếng chào đời năm 1790 tại làng 
				Kẻ Diền, tỉnh Thái Bình. Cậu được cha mẹ cho đi tu, trở thành 
				thầy giảng và đi giúp nhiều giáo xứ. Khi cha Phêrô Tự bị bắt, 
				thầy Mậu đang coi họ Nội, thuộc xứ Kẻ Mốt. Được tin cha và thầy 
				Úy bị đưa về Lương Tài, thầy liền đến đó nghe ngóng tin tức. 
				Giáo hữu gửi thầy trọ ở nhà một lương dân phía bên kia sông, vì 
				nghĩ rằng lính sẽ không khám xét đến. Ai ngờ, chính người chủ 
				nhà đi báo cho quan kiếm tiền thưởng, thế là thầy bị bắt.<br>
				<br>
				Thầy bị dẫn đến dinh quan Lương Tài. Có mặt cha Tự ở đó. Quan 
				hỏi thầy là ai, thầy đáp: &quot;Thưa quan, tôi là một môn đệ thân tín 
				của cha đây&quot;. Cha Tự ra dấu nhắc thầy đừng khai rõ, may ra có 
				thể chuộc về được chăng, nhưng thầy nói nhỏ với cha: &quot;Xin cha 
				thương nhận con là môn sinh, để con cũng được tử đạo với cha.&quot;<br>
				<br>
				Kể từ ngày cha Tự và ông trùm Cảnh bị đem đi xử trảm, thầy Mậu 
				trở thành cột trụ nâng đỡ bốn người còn sót lại, là thầy Úy, các 
				anh Mới, Vinh và Đệ. Thầy nhắc anh em sống huynh đệ, an ủi giúp 
				đỡ nhau. Thầy đại diện anh em viết thơ ra ngoài, hoặc trả lời 
				với các quan. Đặc biệt thầy động viên anh em hăng hái làm việc 
				tông đồ ngay trong nhà tù. Trong hồ sơ phong thánh, cha Huấn đã 
				dựa vào các thơ của thầy làm chứng rằng: &quot;Thầy Mậu vẫn dạy giáo 
				lý cho các tù nhân, và rửa tội được bốn mươi bốn người. Trong đó 
				có một tử tội tên Hưng mới học đạo một tháng thì đến ngày xử, 
				anh xin quan hoãn lại ít giờ để rửa tội, sau đó vui vẻ tiến ra 
				pháp trường...&quot;.<br>
				<br>
				Khi quan nói: &quot;Kẻ nào chết vì không chịu bước qua thập giá là 
				ngu dại, không biết thương cha mẹ già.&quot; Thầy giải thích: &quot;Thưa 
				quan, cha mẹ sinh chúng tôi, nhưng ngay cha mẹ chúng tôi có ở 
				trên đời, cũng là nhờ quyền năng của Chúa.&quot; Khi quan tuyên đọc 
				bản án xử tử, thầy bình tĩnh đáp lại: &quot;Thưa quan, chúng tôi mong 
				ước về với Chúa, như nai mong tìm thấy suối vậy. Xin quan cứ thi 
				hành án lệnh của Đức vua.&quot;<br>
				<br>
				<b>2. Thánh Đaminh BÙI VĂN ÚY Thầy giảng dòng ba Đaminh 
				(1812-1839)</b><br>
				<br>
				&quot;Nếu tôi cả gan bước lên thánh giá, thì tôi xúc phạm đến Chúa và 
				bất hiếu với cha mẹ. Vì song thân sinh ra tôi, đã dạy tôi trung 
				thành với niềm tin cho đến chết.&quot;<br>
				<br>
				Thầy Đaminh Úy đã đặt trọn niềm tin của mình trong truyền thống 
				tiên tổ. Không biết cha mẹ căn dặn thầy trung kiên dù phải tử 
				đạo vào lúc nào, khi mới có bách hại hay khi vào thăm trong tù? 
				Nhưng rõ rệt là với thầy, phản bội đức tin là phản lại những 
				người đã nhọc công vun trồng niềm tin cho mình.<br>
				<br>
				Đaminh Bùi văn Úy sinh năm 1812 tại họ Tiền Môn, làng Kẻ Rèm, 
				tỉnh Thái Bình. Từ bé cậu đã được gia đình gửi vào nhà xứ sống 
				với cha Tự. Sau khi học thành thầy giảng thầy luôn hoạt động bên 
				cha tại giáo xứ Kẻ Đanh rồi Kẻ Mốt (Bắc Ninh), thì bị bắt, lúc 
				đó thầy mới 26 tuổi. Bất cứ ai gặp thầy Úy đều công nhận thầy 
				hiền lành, có lòng yêu mến Chúa đặc biệt và là người trợ thủ đắc 
				lực của cha Tự trong công tác, nhất là khi cuộc bách hại của vua 
				Minh Mạng bùng nổ. Ước mơ lớn nhất của thầy là được đóng vai &quot;Lê 
				Lai thế mạng&quot; để cha Tự khỏi bị bắt. Khi đào hang trú ẩn, thầy 
				làm hai ngăn rồi tình nguyện ở ngăn bên ngoài. Thầy nói với mọi 
				người: &quot;Nếu các quan đến truy lùng, tôi sẽ ra trước nộp mình để 
				cha khỏi bị bắt, hầu cha có thể giúp anh chị em.&quot;<br>
				<br>
				Ngày 29.6.1838, lính đến vây làng Kẻ Mốt, đã bắt thầy Úy chung 
				với cha Tự. Cha dự định khai thầy chỉ là giáo hữu vào làm bếp để 
				đỡ nguy hiểm, nhưng thầy nói: &quot;Xin cha cứ nói con là thầy giảng, 
				may ra cùng được phúc tử đạo với cha&quot;<br>
				<br>
				Rồi thầy xin xưng tội để chuẩn bị tâm hồn. Một lần tương kế tựu 
				kế, quan nói dối thầy: &quot;Cha Tự xuất giáo rồi, sao anh còn cố 
				chấp thế?&quot; Thầy bình tĩnh trả lời: &quot;Vô lý, cha tôi không bao giờ 
				làm vậy, mà dù có thực như thế, tôi cũng không chịu xuất giáo 
				đâu.&quot;<br>
				<br>
				Lần khác, quan như muốn dạy khôn thầy: &quot;Anh còn trẻ, hãy nghĩ 
				lại và khôn hơn một chút, ta chỉ yêu cầu anh bước qua một khúc 
				gỗ mà.&quot; Thầy Úy đáp: &quot;Đúng là khúc gỗ, thưa quan, nhưng khúc gỗ 
				đó lại tượng trưng cho Chúa tôi thờ. Quan nghĩ sao nếu tôi giày 
				đạp lên ảnh vẽ hình cha mẹ tôi?&quot; Hôm khác, khi bị dụ dỗ bước qua 
				thánh giá, thầy khẳng khái nói: &quot;Thưa quan, quan có dám bước qua 
				mặt đức vua không, mà lại bảo tôi bước qua mặt Chúa tôi? Nhưng 
				dù quan có bước qua mặt vua, thì tôi cũng không bước qua mặt 
				Chúa tôi được.&quot;<br>
				<br>
				Quan nghiêm nghị phán: “Tên phạm thượng, ta sẽ chém đầu mi.&quot; 
				Người chiến sĩ đức tin vui vẻ reo lên:<br>
				&quot;Anh em ơi, tôi sắp được chém rồi&quot;.<br>
				<br>
				Nhưng phúc trường sinh đến với thầy không quá sớm như vậy.<br>
				<br>
				<b>3. Thánh Augustinô NGUYỄN VĂN MỚI Nông dân dòng ba Đaminh 
				(1806-1839)</b><br>
				<br>
				Tuy là một tân tòng mới theo đạo, anh Augustinô Mới đã biểu lộ 
				một đức tin kiên cường, không thua kém gì những Kitô hữu vững 
				tin nhất.<br>
				<br>
				Augustinô Nguyễn văn Mới sinh năm 1806 tại làng Bồ Trang tỉnh 
				Thái Bình, trong một gia đình nông dân ngoại giáo. Đến tuổi 
				trưởng thành, anh đến làng Đức Trai, xứ Kẻ Mốt (Bắc Ninh) để làm 
				thuê làm mướn. Tiếp xúc với giáo hữu ở đây, càng ngày càng thấy 
				mến đạo, và xin theo học giáo lý. Năm 31 tuổi, anh được cha Tự 
				rửa tội và đặt tên thánh bổn mạng là Augustinô.<br>
				<br>
				Mấy năm sau, cha Tự cũng chủ sự lễ thành hôn cho anh với một 
				thiếu nữ trong xứ. Theo các lời chứng trong hồ sơ phong thánh, 
				anh Augustinô Mới sống đạo rất tốt, đặc biệt là đọc kinh Mân Côi 
				mỗi tối. Dù có ngày lao động vất vả đến mãi khuya mới về, anh 
				cũng không quên kinh Mân Côi kính Đức Mẹ.<br>
				<br>
				Ngày 29-6-1838, khi quân lính bao vây làng Kẻ Mốt và bắt cha Tự, 
				họ buộc toàn dân phải ra đình điểm danh, rồi bước qua thánh giá. 
				Một số tín hữu nhanh chân lẫn tránh được, một số nhát gan thực 
				hiện lời yêu cầu của lính. Các anh Mới, Vinh và Đệ cương quyết 
				không chịu đạp lên thánh giá, nên bị bắt và áp giải chung với 
				cha Tự, ông trùm Cảnh và hai thầy Úy và Mậu lên giam tại Bắc 
				Ninh.<br>
				<br>
				<b>4. Thánh Tôma NGUYỄN VĂN ĐỆ Thợ may dòng ba Đaminh 
				(1811-1839)</b><br>
				<br>
				Hai mươi tám tuổi đời, một người vợ ba người con, đó là mối ưu 
				tư trắc trở của anh Tôma Đệ trong những ngày bị giam cầm. Không 
				thể bỏ đức tin, nhưng tương lai của người vợ trẻ và đàn con dại 
				sẽ ra sao? Trong nhiều ngày anh suy nghĩ và tha thiết cầu nguyện 
				xin Chúa soi sáng. Cuối cùng anh tìm được an bình trong tâm hồn, 
				phó thác tất cả trong bàn tay Chúa quan phòng. Anh nói với người 
				vợ đến thăm:<br>
				<br>
				&quot;Đừng khóc mình ạ. Mình về dạy dỗ các con nên người, dạy chúng 
				thờ phượng Chúa. Tôi đã dâng mình và các con cho Ngài. Nhớ cầu 
				xin Chúa cho tôi thêm sức mạnh để nhẫn nại đến cùng.&quot;<br>
				<br>
				Ra đời trong một gia đình Công giáo tại làng Bồ Trang, tỉnh Thái 
				Bình năm 1811, Tôma Nguyễn văn Đệ vì lý do sinh kế, theo cha mẹ 
				về xứ Kẻ Mốt (Bắc Ninh) và ở ngay gần nhà thờ. Lớn lên anh theo 
				nghề thợ may và được mọi người yêu chuộng. Anh rất nhiệt tình 
				với việc trong xứ trong họ. Hầu hết cờ quạt, đồ trang hoàng 
				trong nhà thờ và nhà xứ đều nhờ đến bàn tay khéo léo và sáng tạo 
				của anh. Khi kinh tế gia đình ổn định, anh lập gia đình, ra ở 
				riêng và sinh hạ được ba người con.<br>
				<br>
				Ngày 29.6.1838, quân lính vây làng Kẻ Mốt, và ép buộc mọi người 
				trên 18 tuổi phải đạp lên thánh giá. Anh lẩn trốn ra phía sau 
				nhà. Đến khi quân lính xồng xộc vào nhà lùng bắt, anh biết mình 
				không thể tránh được nữa, liền giã từ vợ, dặn đưa con về bên 
				ngoại, ôm hôn từng đứa rồi ra trình diện. Đến trước thánh giá, 
				anh Đệ quỳ xuống cầu nguyện lớn rằng: &quot;Lạy Chúa, sẽ không bao 
				giờ con bước qua mặt ngài.&quot;<br>
				<br>
				Quân lính áp giải anh Tôma Đệ cùng với cha Tự ông trùm Cảnh, hai 
				thầy Úy, Mậu và các anh Mới và Vinh về giam tại Bắc Ninh.<br>
				<br>
				<b>5. Thánh Stêphanô NGUYỄN VĂN VINH Tá điền dòng ba Đaminh 
				(1813-1839)</b><br>
				<br>
				Thánh Stêphanô Vinh là một trường hợp hy hữu, trong danh mục các 
				thánh tử đạo Việt Nam. Khi bị bắt, anh mới chỉ là dự tòng chưa 
				được rửa tội. Nhưng với những hiểu biết ít ỏi về đạo, anh đã 
				kiên trì làm chứng cho chân lý. Mặc dù khi vô tù anh mới chính 
				thức gia nhập đạo, rồi thành hội viên dòng ba Đaminh, nhưng anh 
				không thua kém ai về lòng can đảm tuyên xưng niềm tin vào Thiên 
				Chúa.<br>
				<br>
				Stêphanô Nguyễn văn Vinh sinh năm 1813 tại làng Bồ Trang tỉnh 
				Thái Bình. Sống trong một gia đình ngoại giáo rất nghèo, một 
				miếng đất cũng không có, anh Vinh quanh năm phải làm thuê làm 
				mướn cho các gia đình Kẻ Mốt (Bắc Ninh). Trường học duy nhất anh 
				ham thích và theo được là các lớp giáo lý, nơi anh tập đánh vần 
				và học truyền khẩu. Đặc biệt anh đem các điều học ở đó ra thực 
				hành trong cuộc sống. Có điều là người ta không biết vì sao anh 
				chưa được rửa tội. Mọi người đều mến thương anh vì anh đơn sơ, 
				chất phác, khỏe mạnh và thật thà. Trong công việc anh không bao 
				giờ làm cho qua loa chiếu lệ, ai thuê việc gì, anh cũng chu toàn 
				tốt đẹp không cần kiểm soát, không có gì để chê trách. Cho đến 
				khi bị bắt (lúc 26 tuổi) anh vẫn sống độc thân chưa lập gia 
				đình.<br>
				<br>
				Ngày 29.6.1838, khi quan quân vây bắt cha Tự ở Kẻ Mốt, và bắt 
				mọi người phải đạp qua thánh giá, chàng thanh niên 25 tuổi này 
				đã anh dũng nói thẳng với họ rằng: &quot;Tôi thà chết chứ không bao 
				giờ chịu đạp lên thánh giá, vì tôi biết đạo Chúa Giêsu là đạo 
				thật.&quot;<br>
				<br>
				Vì lời nói này, quan quân tưởng anh là người trong đạo, thế là 
				họ bắt anh Vinh và áp giải về trại giam Bắc Ninh chung với cha 
				Tự, ông trùm Cảnh, thầy Úy, thầy Mậu, anh Mới và anh Đệ. Chính 
				tại đây, anh Vinh được diễm phúc làm người Kitô hữu, được hân 
				hạnh làm con Cha Thánh Đaminh. Suốt hành trình tử đạo, anh là 
				một nhân chứng trầm lặng, chỉ đồng tình với các vị khác, nhưng 
				gông cùm, xiềng xích và tra tấn không lần nào có thể làm anh sa 
				ngã hay thối chí. Chọn quan thầy Stêphanô trong tù, anh cương 
				quyết noi theo vị tử đạo tiên khởi của Giáo hội đến hơi thở cuối 
				cùng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<b>Lời An Ủi Ấm Lòng<br>
				</b><br>
				Sau một tháng dọa nạt tra khảo bảy chiến sĩ đức tin nhưng vô 
				hiệu, ngày 27.7.1838, quan tỉnh Bắc Ninh đệ án vào triều xin xử 
				giáo cha Tự và ông trùm Cảnh, còn năm vị kia quan cho là nhẹ dạ 
				tin theo, nên xin đánh mỗi người một trăm roi rồi phát lưu vào 
				Bình Định. Luật vua thời đó xử giảo các phù thủy, đồng cốt, còn 
				những kẻ a dua chỉ bị đánh đòn và phát lưu ba trăm dặm. Thế 
				nhưng vua Minh Mạng cho rằng tội theo đạo Gia-tô thuộc loại nặng 
				hơn, nên quyết định xử chém hai vị trên ngay tức khắc, còn tất 
				cả sẽ bị xử giảo sau một năm nếu không chịu thay đổi ý kiến.<br>
				<br>
				Ngày 5.9.1838, khi biết tin cha Phêrô Tự và ông trùm Cảnh đã bị 
				chém tại pháp trường Kinh Bắc, năm vị trong ngục buồn bã nhớ 
				thương. Thầy Mậu kêu gọi anh em ngồi lại bên nhau cùng đọc kinh, 
				vừa khích lệ nhau, vừa ôn lại những lời khuyên của cha mình. Sau 
				đó ba buổi tối, như chính các vị thuật lại, trong lúc họ đang 
				cầu nguyện, thì bất ngờ tất cả đều thấy như cha Tự hiện ra ngay 
				bên an ủi họ: &quot;Các con đừng buồn, chắc chắn các con sẽ còn được 
				chết vì đạo. Tuy nhiên, các con sẽ còn phải qua một thời gian 
				thử thách nữa, để xứng đáng với phúc trọng này.&quot; Có thể đó chỉ 
				là giấc mơ chứ không phải sự thật, cũng có thể đó là lời nhắn 
				nhủ cuối cùng của vị linh mục, nhưng kể từ ngày đó họ hết sầu 
				buồn, tìm lại được can đảm để nêu gương ngay trong cảnh quẫn 
				bách ở trong trại giam.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<b>Tuyên Khấn Trong Ngục Tù<br>
				</b><br>
				Ấn tượng ghi nét sâu đậm vào lòng năm vị chứng nhân là lời cha 
				Tự trong ngày lãnh phúc tử đạo. Cha mặc áo dòng và nói với mọi 
				người về chiếc áo đó. Trước đây bốn vị, đến khi vào tù có thêm 
				anh Vinh, đã mặc áo dòng ba Thánh Đaminh, nhưng chưa ai khấn cả. 
				Thầy Mậu liền viết thơ cho cha Huấn dòng Đaminh để bày tỏ niềm 
				ước nguyện được hiệp thông với dòng cách trọn vẹn. Thầy viết:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				&quot;Chúng con tất cả là năm tập sinh của dòng ba Đaminh, nhưng 
				chúng con không thể giữ chay đủ các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ 
				Sáu và thứ Bảy được, nên chúng con xin cha thương rộng phép 
				chuẩn chước cho sự thiếu sót đó. Qua thơ này, chúng con xin 
				tuyên khấn trọn đời. Vì chúng con không thể đọc lời tuyên khấn 
				trong tay cha được, nên bằng những dòng viết này chúng con coi 
				như thực sự tuyên khấn trước mặt cha vậy, xin cha cho phép.&quot;<br>
				<br>
				&quot;Để tôn vinh và ngợi khen Thiên chúa toàn năng, Chúa Cha, Chúa 
				Con và Chúa Thánh Thần, chúng con là Phanxicô, Đaminh, 
				Augustinô, Tôma và Stêphanô, trước mặt cha Huấn, đại diện cha 
				Hermosilla, giám đốc dòng ba hãm mình Thánh Đaminh chúng con xin 
				hứa và ước ao giữ lề luật và tập tục của dòng cho đến chết.&quot;<br>
				<br>
				Những chữ &quot;cho đến chết&quot; trong ngục tù khi đó chắc hẳn phải có 
				âm vang đặc biệt đối với các vị. Được nối kết với truyền thống 
				hơn sáu trăm năm truyền giáo của Thánh Phụ và một dòng tu lớn 
				trong Giáo hội, từ nay năm anh em tích cực hơn với việc tông đồ. 
				Dưới sự điều hành của thầy Mậu, năm hội viên dòng ba chia nhau 
				tiếp xúc gặp gỡ các bạn tù, giới thiệu với họ về Thiên Chúa, cắt 
				nghĩa giáo lý, rồi dẫn họ đến thầy Mậu lãnh nhận bí tích rửa 
				tội. Ít ra các vị đã rửa tội được bốn mươi bốn người. Ngục tù 
				giờ đây trở thành nguyện đường, hằng ngày vang lên những lời 
				chúc tụng Thiên Chúa, lời cầu nguyện cho Giáo hội và cho mọi 
				người, mọi giới được đầy tràn ơn lành của Ngài.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<b>Làm Chứng Trước Quan Quyền</b><br>
				<br>
				Thấm thoát hơn một năm đã trôi quan, triều đình quyết định lại 
				việc xử giảo cả năm người. Ngày 19.8.1839 quan cho điệu tất cả 
				ra tòa, vẫn để thánh giá một bên, bên kia là dụng cụ tra tấn. 
				Quan nói: &quot;Các anh bị giam cầm đã lâu ngày, chịu khổ cũng đã 
				nhiều, vậy bỏ đạo đi, ta tha về với vợ con.&quot; Thầy Mậu đại diện 
				anh em trả lời: &quot;Chúng tôi đã quyết tâm trung thành với Chúa, 
				nếu quan ra lệnh chém đầu hay giết cách nào khác, chúng tôi đều 
				sẵn sàng.&quot;<br>
				<br>
				Rồi cả năm vị quỳ xuống bái lạy thánh giá và cầu nguyện: &quot;Lạy 
				Chúa, xin cứu chúng con, con xin phó thác hồn con trong tay 
				Chúa.&quot;<br>
				<br>
				Thất vọng, quan cho lính đưa tất cả về ngục và thốt lên: &quot;Bọn 
				này không thể tha thứ được, mà chúng có thèm được tha đâu.&quot;<br>
				<br>
				Ngày 24.11, năm vị phải ra toà một lần nữa. Quang cảnh vẫn như 
				lần trước, và các tôi tớ Chúa vẫn một mực cương quyết không chối 
				đạo. Thầy Mậu thay mặt anh em nói với quan: &quot;Chúng tôi chỉ tôn 
				thờ một Thiên Chúa là Cha chung muôn loài, là Vua trên hết các 
				vua, là Đấng chúng tôi mong được đổ máu ra để chứng tỏ lòng 
				trung thành và yêu mến.&quot;<br>
				<br>
				Như Nai Rừng Mong Mỏi Tìm Về Suối Nước Trong Ngày 19.12.1839, 
				trước khi đi xử, quan cho năm vị một cơ hội cuối cùng. Ông nói: 
				&quot;Chỉ cần đi ngang qua phía chân tượng, ta cũng tha.&quot; Sau ông lại 
				nói: &quot;Chỉ cần đi vòng quanh tượng ta cũng tha.&quot; Nhưng các vị 
				chứng nhân đức tin không dễ bị mắc lừa, họ bảo nhau quỳ xuống 
				đọc kinh Kính Danh Chúa Giêsu. Có lẽ do ảnh hưởng những lời kinh 
				Giáo hội trong mùa Vọng, đón chờ Chúa giáng sinh, thầy Mậu nói 
				với quan những lời kinh Thánh vịnh 41 (c 1-2): Thưa quan, chúng 
				tôi ước mong về Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy. Xin quan cứ 
				thi hành án lệnh của nhà vua.&quot;<br>
				<br>
				Biết không thể làm nao núng ý chí sắt đá của những con người này 
				được nữa, quan liền truyền đem đi xử với bản án như sau: &quot;Bọn 
				gian ác theo Gia-tô tả đạo, mặc dầu đã khuyên răn sửa phạt, vẫn 
				ngoan cố không chịu bước qua thập giá, nay chúng bị xử giảo&quot;<br>
				<br>
				Trên đường ra pháp trường, thầy Mậu rảo chân bước đi trước, các 
				anh khác bước theo sau, tất cả đều tỏ ra hân hoan kiên cường. 
				Dân chúng hiếu kỳ đi xem rất đông và xì xào với nhau là các vị 
				này bị giết oan. Theo gương thầy Mậu, các chứng nhân tươi cười 
				với mọi ngườỉ: &quot;Anh em chúng tôi đang tiến về thiên đàng đây.&quot; 
				Khi tới nơi xử, mỗi vị bị trói vào một cọc đã chôn sẵn. Rồi cùng 
				một lúc, lý hình xiết cổ các vị bằng giây thừng cho đến lúc tắt 
				thở. Các tín hữu đem thi thể các vị về an táng ở họ đạo mình. 
				Thánh Mậu ở Kẻ La, Thánh Úy ở Đồng Tiến, Thánh Mới ở Phượng Vĩ, 
				Thánh Đệ ở Phong Cốc và Thánh Vinh ở Hương La, tất cả đều thuộc 
				tỉnh Bắc Ninh.<br>
				<br>
				Ngày 27.5.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn năm vị anh 
				hung tử đạo: Phanxicô Xavie Hà trọng Mậu, Đaminh Bùi văn Úy, 
				Augustinô Nguyễn văn Mới, Tôma Nguyễn văn Đệ và Stêphanô Nguyễn 
				văn Vinh lên bậc Chân Phước.<br>
				Ngày 19.6.1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong các vị 
				lên bậc hiển thánh.<br>
				<br>
				Lễ Nhớ: Ngày 19 tháng 12</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><i>
				<font size="2">(ST)</font></i></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<b>Trường thi tử đạo</b><br>
				<br>
				Augustinô Nguyễn Văn Mới<br>
				Sinh Bính Dần (1806) xưa tới Bắc Ninh<br>
				Thuở nhỏ cùng với gia đình<br>
				Tha phương sinh sống xứ mình Ðức Trai<br>
				<br>
				Ðến quê mới miệt mài học đạo<br>
				Rất siêng chăm thông thạo bổn kinh<br>
				Ông cùng thôn nữ thân tình<br>
				Nên duyên chồng vợ gia đình mẫu gương<br>
				<br>
				Kinh sớm tối ông thường lần hạt<br>
				Vợ con hạnh phúc đạt điểm cao<br>
				Tân tòng giáo họ tự hào<br>
				Hiền lành đạo đức ra vào thân thương<br>
				<br>
				Một bữa nọ bất lương tố giác<br>
				Có Cụ đạo nơi khác về đây<br>
				Quan liền cho lính bổ vây<br>
				Bắt được Cha Tự dẫn ngay đình làng<br>
				<br>
				Quan truyền lệnh cả nam lẫn nữ<br>
				Phải tới ngay đông đủ điểm danh<br>
				Bước qua Thập giá đóng đanh<br>
				Nếu không tuân thủ chấp hành trói gông<br>
				<br>
				Ngay lúc đó số đông bỏ đạo<br>
				Ðến lượt ông táo bạo thưa không<br>
				Cha Tự rửa tội cho ông<br>
				Giảng rao lời Chúa quyết không chối từ<br>
				<br>
				Vua Minh Mệnh văn thư chiếu chỉ<br>
				Phải tấn tra tâm trí Cha, Thầy<br>
				Lòng gan, dạ chẳng đổi thay<br>
				Các quan lại chuyển trình bày về kinh<br>
				<br>
				Vua muốn ghép tội hình phù thủy<br>
				Phạt trăm roi, điểm chỉ xa quê<br>
				Chung thân không có ngày về<br>
				Hoàng Lương, Cha Tự vua phê chém đầu<br>
				<br>
				Rồi sau đó nghe đâu thay đổi<br>
				Lại tống giam thống hối mới tha<br>
				Nếu không xử giảo cả mà<br>
				Quan đem Thập giá bước qua cho về<br>
				<br>
				Ông Mới, quỳ hôn bê tượng nói<br>
				Bọn vua quan quen thói thế gian<br>
				Cấm đạo Chúa chúng làm càn<br>
				Con dù có chết, bỏ đàng quỷ ma<br>
				<br>
				Quan tức giận tống đà vào ngục<br>
				Cho lính vào tiếp tục tấn tra<br>
				Năm ông buồn bã quá mà<br>
				Chúa cho Cha Tự hiện ra trong tù<br>
				<br>
				Ngài khuyên nhủ cho dù kiệt sức<br>
				Hãy vui mừng tự lực hãm mình<br>
				Hồng ân tử đạo hy sinh<br>
				Ăn chay sám hối Thiên đình Chúa ban<br>
				<br>
				Gần năm nữa vua ban tái xử<br>
				Ai bỏ đạo sẽ thứ tha ngay<br>
				Không tuân sẽ chém đầu bay<br>
				Năm người chống đối lệnh này nhà vua<br>
				<br>
				Thấy tội nghiệp quan mua chuộc dụ<br>
				Bỏ đạo đi theo Cụ làm chi<br>
				Năm người cầu nguyện thầm thì<br>
				Ðược ơn Chúa xuống tử quy Nước Trời<br>
				<br>
				Theo án lệnh quan thời cứ xử<br>
				Cảm ơn quan nghĩa cử đề ra<br>
				Chúng tôi tôn kính Chúa Cha<br>
				Hy sinh mạng sống để mà hưởng công<br>
				<br>
				Ngày hành quyết năm ông một lượt<br>
				Mặc phẩm phục chức tước dòng ba<br>
				Cả năm vui vẻ được quà<br>
				Án ghi trên ván đạo tà Giatô<br>
				<br>
				Ðến pháp trường gần vô Cổ Mễ<br>
				Ngưng tại đây là để tháo gông<br>
				Buộc giây vào cổ các ông<br>
				Hai đầu kéo xiết tiếng cồng âm vang<br>
				<br>
				Vừa tắt thở Thiên đàng hưởng phúc<br>
				Linh hồn ngài được Chúa chúc lành<br>
				Giáo dân chạy lẹ tới nhanh<br>
				Nhà thờ an táng thuộc thành Bắc Ninh<br>
				<br>
				Phúc tử đạo giảo hình Kỷ Hợi (1839)<br>
				Ðiều mà ngài mong đợi từ lâu<br>
				Giáo dân ra sức nguyện cầu<br>
				Canh Tý (1900) phong thánh ngõ hầu hiển vinh</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<b>Lời bất hủ: </b>Trong hồ sơ phong thánh các đấng viết về anh 
				Mới như sau: &quot;Anh Augustinô sống đạo rất tốt, đặc biệt là đọc 
				kinh Mân Côi mỗi tối, dù có ngày lao động vất vả đến đêm khuya 
				mới về, anh cũng không quên đọc kinh Mân Côi kính Ðức Mẹ&quot;. Trong 
				làng có nhiều người nhát gan bước qua Thập Giá..nhưng anh Mới, 
				Vinh, Ðệ .cương quyết không bước qua đạp lên Thánh Giá, nên bị 
				bắt và áp giải chung với cha Tự, ông trùm Cảnh, và hai thầy Uý 
				và Mậu lên giam tại Bắc Ninh.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager