File "Minh_DaminhHenares.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Minh_DaminhHenares.htm
File size: 22.06 KiB (22594 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Ðaminh Henares Minh (1765-1838)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Ðaminh Henares Minh (1765-1838)</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/DaminhHenaresMinh.jpg" width="200" height="291"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Ðaminh Henares Minh; Giám mục phụ tá Ða Minh; sinh 1765 tại 
				Baena, Cordova, Tây Ban Nha; chết 25 tháng 6, 1838, tại Nam 
				Ðịnh. Ngài được phong làm giám mục phụ tá năm cho Thánh Ignatius 
				Delgado, Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa Bắc Hà. Sau khi hoạt động 50 
				năm tại Việt Nam, Ðức Cha Henares phải trốn tại làng Kiên-lao 
				cùng với Ðức Giám chính tòa trong thời gian bách hại nặng nề.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Lời kinh 
				và ước vọng</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lậy Chúa Giêsu rất 
				dịu hiền là cha của lòng con. Xin Chúa vì cuộc tử nạn thánh, vì 
				công nghiệp và lời Đức Mẹ chuyển cầu, xin đoái thương đến bác 
				của con, Đưc Giám mục Đaminh. Xin gìn giữ bác khỏ mọi sự dữ. Xin 
				cho bác yêu Chúa thiết tha, trung thành phục vụ Chúa suốt cuộc 
				đời. Và nếu cần để tôn vinh và làm hiển danh Chúa hơn, xin cho 
				bac được phúc đổ máu mình và hiến dâng mạng sống cho tình yêu 
				Chúa để làm chứng cho đức tin. Amen”(1).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đó là lời kinh mà 
				Đức Cha Minh từ miền truyền giáo Việt Nam đã soạn gửi về quê nhà 
				cho cháu mới năm tuổi đọc cầu cho bác. Cô bé đã dâng lời nguyện 
				đó hằng ngày, dù em biết rất ít về người bác mình. Khi bà con 
				lối xóm hởi em về ông bác giám mục, em chỉ biết thưa: “Bác tên 
				Đaminh, tu dòng Đaminh, đang truyền giáo ở xa, thật xa, nơi mà 
				người ta đang tàn sát các Kitô Hữu”. Và chúa đã nhận lời khẩn 
				xin tha thiết của hai bác cháu tại hai phương trời xa xăm đó.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Theo tiếng 
				gọi truyền giáo.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đaminh Henares 
				sinh ngày 19.12.1765 tại làng Baena, giáo phận Cordoda, nước Tây 
				Ban Nha. Một vài năm sau, gia đình dọn về Granada, nơi cậu đã 
				lớn lên và theo học các lớp phổ thông, các phụ huynh thường nhắc 
				đến cậu như một mẫu gương cho con cái mình. Còn bản thân cậu, 
				càng ngày càng sôi sục trong lòng tiếng Chúa kêu gọi vào đời 
				sống tu trì. Năm 16 tuổi, Henares xin nhập dòng tu Đaminh ở tỉnh 
				Granada. Nhưng mãi đến ngày 30.08.1783, cậu mới được lãnh tu 
				phục dòng tại tu viện Guadix (18 tuổi), năm sau thì tuyên khấn 
				và theo học triết học. Ngay từ niên khóa đầu, thày Henares đã tỏ 
				ra là một sinh viên xuất sắc, nên cuối năm đó, khi thày xin phép 
				chuyển qua tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi để được truyền giáo ở 
				Việt Nam, các bề trên đều tiếc nhớ. Thày Đaminh đã nhận ra tiếng 
				Chúa kêu mời qua lời cổ động khẩn thiết của Đức cha Obelar Khâm, 
				giáo phận Đông đàng Ngoài: Đã 15 năm giáo phận chưa thêm được 
				một thừa sai nào cả.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thế là thày 
				Henares liền tham gia một nhóm tu sĩ trẻ lên đường đến Phi Luật 
				Tân dưới sự dẫn dắt của tu sĩ Delgado. Kể từ nay cuộc đời hai vị 
				gắn liền với nhau cách khăng khít. Sau hơn một năm lênh đênh 
				trên biển cả, vượt Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, phái đoàn 
				đã cập bến Manila ngày 09.07.1786. tại đây thày Henares vừa tiếp 
				tục học thần học, vừa dạy văn chương cho học sinh trường Santo 
				Tomas. Ngày 20.09.1789 thày thụ phong linh mục và được gửi đi 
				truyền giáo tại Bắc Việt. Khi đến Macao, cha Henares gặp lại 
				linh mục Delgado đã khởi hành trước một năm nhưng vẫn chưa tới 
				Việt Nam. Hai cha cùng với hai thừa sai khác là Vidal và 
				Gatillepa, cả bốn vị đã vào lãnh thổ giáo phận Đông Đàng Ngoài 
				ngày 29.10.1790, trong niềm hân hoan của cả giáo phận, vì khi đó 
				chỉ còn ba vị thừa sai, mà tất cả đều đã cao niên.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Riêng cha Henares 
				Minh, với tuổi trẻ 25, cha học tiếng Việt rất nhanh chóng. Sau 
				sáu tháng, cha đã được trao phó việc coi sóc chủng viện Tiên 
				Chu. Trong nhiều năm, cha kiên trì dạy các chủng sinh học tiếng 
				Latinh và giúp họ rèn luyện các nhân đức. Từ năm 1789, giữa cơn 
				bách hại của vua Cảnh Thịnh, cha được tỉnh dòng ủy nhiệm làm bề 
				trên phụ tỉnh (cha chính) các cha dòng Đaminh tại Việt Nam. Năm 
				sau, khi đức cha Alonso Phê qua đời, Đức cha Delgado Y lên kế 
				vị, cha Minh được đặt làm cha chính của giáo phận. Ngày 
				09.09.1800, Đức cha Piô VII bổ nhiệm cha làm giám mục hiệu tòa 
				Fez và Giám mục Phó có quyền kế vị của Đức cha Delgado Y. Nhưng 
				tình hình Việt Nam căng thẳng, sau hai năm sắc phong mới tới xứ 
				truyền giáo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Vị mục tử 
				nhân hiền</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 09.01.1803 là 
				ngày hội lớn của toàn giáo phận Đông Đàng Ngoài. Các thừa sai 
				ngoại quốc, hơn 30 linh mục Việt Nam, hàng chục ngàn giáo dân từ 
				các nơi tuốn về Phú Nhai tham dự lễ tấn phong Giám mục phó 
				Henares Minh, khởi đầu một giai đoạn bình an kéo dài hơn 20 năm. 
				Hai vị giám mục Delgado Y và Henares Minh, hai anh em “sinh đôi” 
				như một số người quen gọi, cùng mang những thao thức như nhau, 
				cùng được đào tạo một nơi, cùng đến đất Việt một ngày. từ nay 
				luôn tâm đầu ý hợp, cùng nhau đưa giáo phận đến giai đoạn cực 
				thịnh. Hai vị chia nhau đến thăm từng họ đạo nhỏ nhất. Đức cha 
				Minh với tinh thần phục vụ cao, thường chọn cho mình những họ 
				đạo xa hơn, thuộc trấn Kinh Bắc, nơi rừng sâu nước độc mà trước 
				đó ít năm, Đức cha Phê đã bỏ mạng vì bệnh sốt rét rừng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Linh mục 
				Hermosilla Vọng đã viết về Đức cha Minh như sau: “Ngài là một 
				thủ lãnh thanh khiết trong đời sống, là vị mục tử nhiệt tâm 
				không hề mỏi mệt vì ơn cứu độ các linh hồn và là đấng khao khát 
				mãnh liệt phúc tử đạo. Ngài sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào 
				trách nhiệm đòi hỏi, dù đang nửa đêm khuya vắng. Ngài có lòng 
				đạo đức trổi vượt, biểu lộ qua việc cầu nguyện không ngừng, đồng 
				thời siêng năng nghiên cứu các giáo phụ. Ngài sống nghèo khó Tin 
				Mừng thực sự, và như một người cha hiền dịu, ngài quảng đại với 
				những người xấu số nhất. Đó là những nhân đức chính mà ngài luôn 
				nêu gương”.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Với lòng khiêm 
				tốn, bác ái, Đức cha Minh nhiệm nhặt với mình, nhưng lại rộng 
				lượng với mọi người. Tuy bận rộn với bao công việc của giáo 
				phận, ngài vẫn tự may vá lấy y phục của mình, và cố gắng sửa lại 
				những quần áo cũ để phân phát cho người nghèo. Nhờ biết chút ít 
				về nghề thuốc, Đức cha là ân nhân của nhiều người bệnh tật. Đi 
				dâu ngài cũng mang theo một hộp nhỏ đựng thuốc phát cho bệnh 
				nhân nan y, mọi người đều cho là họ được khỏi do lời cầu nguyện 
				và chúc lành hơn là nhờ thuốc.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Nếu giờ 
				chưa đến.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chính tráp đựng 
				thuốc bác ái đó một lần kia đã cứu ngài thoát chết. Khi ngài 
				đang ở họ Thượng Hộ thuộc Sơn Nam Hạ thì bị một nhóm cướp bắt 
				cóc để tống tiền. Giữa đêm chúng lẻn vào nhà, bắt và dẫn Đức cha 
				vào rừng. Bỗng tên cướp ôm chiếc tráp thuốc vấp ngã, những chai 
				lọ đổ lỏng chỏng ra ngoài, một vài dụng cụ kim loại lấp lánh 
				trong đêm, khiến chúng tưởng là vàng bạc xô lại trang giành, Đức 
				cha liền nhanh chân láu mình trong một bụi cây rậm rạp gần đó. 
				Đám cướp sục sạo một lát thì trời tảng sáng và nghe dân làng 
				đánh kẻng báo động đi tìm Đức cha, họ ùa nhau bỏ chạy.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Theo ý Tổng trấn 
				Hà Nội Nguyễn Văn Thành, ông muốn tổ chức một buổi trao đổi công 
				khai về tôn giáo. Đức cha Minh cùng đức cha Longer Gia giáo phận 
				Tây Đàng Ngoài nhận lời và đưa ra đề tài: “Không ai được bắt ép 
				người Công Giáo làm việc dị đoan”. Nhưng vì tổng trấn không chấp 
				nhận đề tài đó, nên cuộc trao đổi phải bãi bỏ. Đức cha Minh thấy 
				vậy đã nhận định rằng: “Bao lâu còn thiếu ánh sáng bởi trời thì 
				lý luận mấy cũng vô ích”.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi vua Minh Mạng 
				lên ngôi được vài năm, miền bắc có nhiều cuộc khởi nghĩa: Lê Duy 
				Lương, Nùng Văn Vân. Ở Nam Định và Hải Dương có Phan Bá Vành. 
				Nói chung dân Bắc Hà vẫn còn hoài nhớ triều Lê, chứ không ưa 
				triều Nguyễn. Chính
				Gia Long phải mượn cớ phò Lê để thống nhất cả nước. Lúc đó, 
				thế lực nhóm Phan Bá Vành ngày càng lớn, năm 1862, vua Minh mạng 
				phải cử Lê Văn Duyệt và Nguyễn Công Trứ ra đánh dẹp. Quân của 
				Vành thua rút vào làng Trà Lũ, cầm cự được ba tháng, mới bị bắt, 
				cuộc chiến thắng này có phần đóng góp của hơn 300 giáo hữu, thế 
				nhưng vì trong số tù nhân cũng có những người Công Giáo, họ khai 
				là có biết Đức cha Minh và 10 cha dòng người Việt, khiến từ đó 
				Đức cha bị ghi vào “sổ đen” của nhà vua.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 13.05.1827, 
				Tổng đốc Nam Định thừa lệnh nhà vua đem 800 quân và voi trận đến 
				vay Trà Lũ bắt Đức cha, nhưng ngài đã kịp biết tránh đi nơi 
				khác. Dù rất mong mỏi được đổ máu làm chứng cho tình yêu Chúa, 
				Đức cha thường tâm sự rằng tử đạo là ơn phúc trọng đại, không ai 
				được tự tiện liều lĩnh ngoài thánh ý Chúa. Tiếp theo đó là 10 
				năm phục vụ, tuy có phần khó khăm âm thầm hơn, nhưng nói chung 
				giáo phận Đông Đàng Ngoài vẫn tương đối được bình an. Cho đến 
				tháng 04.1838, vì phát hiện sáu lá thư của cha Viên gởi cho giám 
				mục và bốn linh mục, nhà vua biết có sự hiện diện của các ngài. 
				Vua đã khiển trách Tổng đốc Trịnh Quang Khanh nặng lời, và phái 
				thêm 2000 lính kinh đô ra tăng viện, quyết lùng bắt hết các giáo 
				sĩ. Đức cha Minh và thày Chiểu phải bỏ Tiên Chu đi ẩn tại Kiên 
				Lao, gần chỗ Đức cha Y và hai vị thừa sai khác. Ngày 28.05, khi 
				Đức cha Y bị bắt, Đức cha Minh đang lánh thân trong nhà bà Tư, 
				giả bộ xay lúa, mỗi khi quân lính đi ngang, bà Tư lấy nong che 
				mặt cho ngài.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Bản án 
				phải được sửa lại.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tối hôm đó, Đức 
				cha Minh bỏ nhà bà Tư đi sang làng Trung Thành, rồi làng Quần 
				Anh và Xương Điền. Khi thấy quân triều đình lảng vảng theo dõi, 
				Đức cha và thày Chiểu xuống thuyền đi ngược ra biển. Một ngư phủ 
				ngoại giáo nói với các tín hữu: “Coi chiếc thuyền ngược gió kia, 
				tôi đóan là một thừa sai chạy trốn cuộc bách hại mà chưa biết về 
				đâu. Các bác tìm cách đưa ngài vào đây, tôi sẽ lo liệu chỗ trọ 
				và che dấu giùm cho”. Quá tin vào ông ta, các tín hữu ra mời 
				ngài trở lại, ai ngờ ông ta đi báo quan quân đến bắt đức cha và 
				thày Chiểu tại nhà mình.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan phủ Xuân 
				Trường đối đãi với Đức cha khá tử tế, nhưng vì sợ nhà vua, ông 
				đành phải đóng cũi và ván ép giải lên Nam Định ngày 11.06.1838. 
				tại đinh Tổng đốc, có hai chiếc cũi của ngài và của đức cha Y 
				được đặt gần nhau, hai vị nói truyện với nhau bằng tiếng Tây Ban 
				Nha. Không rõ các vị nói những gì, nhưng chắc chắn quả là niềm 
				an ủi lớn lao, khi được chia sẻ với nhau những tâm sự thầm kín. 
				Gần nửa thế kỷ sát cánh bên nhau trên đường về Thiên Quốc. Mọi 
				người thấy rõ niềm vui lộ trên khuôn mặt của hai vị.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi quan tòa đòi 
				Đức cha Minh phải ký vào bản án đã viết sẵn, ngài yêu cầu cho 
				nghe trước rồi mới ký. Vừa nghe đọc hai chữ “Tả Đạo”, Đức cha 
				cắt ngang: “Xin quan sửa lại chữ đó thành đạo Đức Chúa Trời”. 
				Quan đồng ý và sửa lại. Khi đọc đến chữ “.lừa đảo ngu dân”, Đức 
				cha lại lên tiếng: “Không đúng, chúng tôi không lừa đảo ai, 
				chúng tôi chỉ đến đây giảng đạo chân chính”. Đức cha không chịu 
				ký vào cho đến khi quan ông ý sửa bản văn lại. Ngày 12.06, bản 
				án được gửi về kinh đô, nhà vua châu phê và gởi lại Nam Định 
				ngày 25.06, Đức cha còn được một ngày để chuẩn bị tâm hồn lãnh 
				phúc tử đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Chứng tá 
				cuối cùng.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một số binh sĩ 
				Công Giáo giữ đạo cách bí mật đã bỏ tiền ra xin được vinh dự 
				khiêng cũi Đức cha. Và trước khi khởi hành ra pháp trường, nhiều 
				binh sĩ đã trót nhát sợ đạp lên Thánh Giá, đến quỳ khóc lóc 
				trước cũi, xin Đức cha cầu nguyện và tha thứ. Đức cha đã nhân ái 
				an ủi họ và giúp họ thống hối đền tội. Trên đường đến Bảy Mẫu, 
				Đức cha Minh trong cũi với nét mặt hân hoan, miệng thầm thĩ 
				nguyện kinh và giơ tay ban phép lành cho các tín hữu đang khóc 
				thương hai bên đường. Thày Chiểu mang gông đi phíaa sau. Cuối 
				cùng là năm binh sĩ không chịu bước qua Thánh Giá, trong đó có 
				ba vị tử đạo sau này là Augustinô Huy, Nicolas Thể và Đaminh 
				Đinh Đạt, nhưng hôm ấy đến nửa đường, cả năm binh sĩ đều được 
				đưa trở về ngục.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tại pháp trường, 
				Đức cha Minh muốn chứng kiến cái chết kiên trung anh dũng của 
				người môn đệ quý yêu: thày Phanxicô Chiểu, Đức cha xin xử trảm 
				thày trước. Viên quan đồng ý. Thế là quân lính xử chém và trao 
				đầu thày cho vị Giám Mục. Ngài trân trọng đón lấy, rồi ngửa mặt 
				lên trời cầu nguyện trang nghiêm như đang dâng lễ vật đẫm máu 
				lên Thiên Chúa. Đến lượt mình, Đức cha nghiêng đầu cho lý hình 
				thi hành quân sự. Hôm đó là ngày 26.06.1838, Thiên Chúa đã gọi 
				Đức cha Henares Minh về trời lãnh ngành thiên tuế tử đạo, chấm 
				dứt 73 năm trên dương thế với 43 năm phục vụ tại Việt Nam, 38 
				năm giám mục.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thi hài Đức cha 
				được lý hình an táng ngay tại pháp trường, nửa tháng sau các tín 
				hữu cải về Lục Thủy. Đầu của ngài bị treo ở cổng thành ba ngày, 
				rồi ném xuống sông Vị Hoàng, vài ngày sau một dân chài Công Giáo 
				may mắn vớt được, các tín hữu đưa về táng chung với thi hài. Về 
				sau khi ngưng bách hại, họ long trọng đưa hài cốt Đức cha về tòa 
				Giám mục Bùi Chu.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Giáo Hoàng Lêo 
				XIII suy tôn Giám mục Henares Minh lên bậc Chân Phước ngày 
				27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài 
				lên bậc Hiển thánh.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager