File "Liem_GieronimoHermosilla.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Liem_GieronimoHermosilla.htm
File size: 35.15 KiB (35996 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Giêrônimô Hermosilla Liêm (1800-1861) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Giêrônimô Hermosilla Liêm 
		(1800-1861) </font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/JeronimoHermosillaVong.jpg" width="200" height="265"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Jêrônimô Hermosilla Liêm, Giám mục Ða Minh; sinh 1800 tại Santo 
				Domingo de la Calzada, Old Castile, Tây Ban Nha; chết 1, 11, 
				1861, Hải Dương. Sau khi khấn dòng Ða Minh, ngài được gửi đi 
				Manila, nơi đây được thụ phong linh mục. Năm 1828, ngài được bổ 
				nhiệm sang Việt Nam . Tháng Tư 1841, ngài thay thế Thánh 
				Ignatius Delgado làm Ðại Diện Tông Tòa và được tấn phong Giám 
				mục, điều này khiến cho ngài bị bách hại. Lễ kính ngày 01 tháng 
				11</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Cột trụ 
				giáo hội Việt Nam</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thánh Hermosilla 
				Liêm là một trong ba vị thừa sai lỗi lạc và can đảm nhất trong 
				lịch sử Giáo Hội Việt Nam, sánh bước với Đức cha Cuénot Thể 
				(1835-61 giáo phận Đàng Trong) và đức cha Retord Liêu (1940-58, 
				giáo phận Đàng Ngoài), ba cột trụ chống đỡ giáo hội Việt Nam 
				trong những giai đoạn khó khăn thời bách hại. Riêng Thánh Giám 
				mục Liêm luôn luôn đứng đầu sổ truy nã của ba triều vua và các 
				Tổng đốc Nam Định, đã khéo léo khi ẩn khi hiện, hoàn thành trách 
				nhiệm một cách tuyệt vời.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">33 năm thừa sai 
				không một ngày yên ổn. 20 năm Giám mục chứng kiến bao cảnh tang 
				thương, nhưng chính ngài đã chủ phong cho bốn Giám mục (Đức cha 
				Jimenô Lâm, Marti Gia, Alcazar Hy và Sanjurjo An), và truyền 
				chức cho nhiều linh mục bản xứ, đã điều khiển giáo phận Đông 
				Đàng Ngoài phát triển vững chắc, đủ khả năng tách làm hai, và 
				khi gục ngã dưới lưỡi gươm của lý hình thì theo sử gia 
				Rodriguez: Ngón tay phải ngài vẫn chỉ lối cho nhân loại hướng 
				đến một vì sao.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thỏa niềm 
				ước mong</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thánh Jeronimô 
				Hermosilla sinh ngày 30.9.1800 tại Santo Domingo de la Calzada 
				trong một gia đình tuy nghèo nhưng đạo đức (nước Tây Ban Nha). 
				Từ nhỏ, cậu được theo học với các cha dòng Biển Đức và có ý định 
				xin vào dòng này năm 15 tuổi. thời đó, nước Tây Ban Nha đang 
				chịu sự thống trị của Napoléon I, các dòng tu không được nhận 
				người. Hermosilla được giới thiệu qua học tại chủng viện giáo 
				phận Valencia do các cha dòng Đaminh điều hành. Duyên kỳ ngộ này 
				đã đưa cậu đến dòng Thuyết Giáo và lãnh tu phục năm 19 tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm sau (1820), 
				nước Tây Ban Nha có loạn, một số tu viện phải giải tán, tài sản 
				giáo Hội bị xung công, các giáo sĩ không tuyên thệ trung thành 
				với hiến pháp mới đều bị bắt giam, bị lưu đầy hoặc bị giết. 
				Hermosilla đành phải rời nhà Dòng, đăng ký vào quân đội cho đến 
				năm 1823. Khi vua Fernando khôi phục lại quyền bính, cậu xin vào 
				nhà tập và khấn dòng ngày 29.10.1823. Ba năm quân ngũ đã mãi mãi 
				lưu lại với vị tu sĩ này tính xông pha, lòng gan dạ, và đức kiên 
				nhẫn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1824 khi đọc 
				thư kêu mời của tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi Manila, thày 
				Hermosilla và 11 người khác liền tình nguyện đi truyền giáo ở 
				Viễn Đông. Sau sáu tháng lênh đênh trên biển, ngày 02.03 năm 
				sau, 12 tu sĩ này đã đến Manila quỳ phục dưới chân cha Giám Tỉnh 
				và thưa : &quot;Này con đây xin hãy sai con&quot;. Quả là niềm vui lớn lao 
				của tỉnh dòng, vì 20 năm qua, tỉnh dòng chỉ nhận được 27 người, 
				bên cạnh con số 86 vị đã qua đời vì tuổi già. Năm 1826, thày 
				Hermosilla lãnh chức linh mục và làm giám đốc Hội Mân Côi</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1828, cha tình 
				nguyện đến Việt Nam cùng với ba thừa sai Pháp, khởi hành từ 
				Macao đến Bắc Việt ngày 02.05.1929, 9 giờ tối, cha tới trụ cha 
				chính Amandi Chiêu và sáng hôm sau cha tới trình diện Đức cha 
				Delgado Y.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tả sao cho xiết 
				niềm vui của vị Giám mục. Cả giáo phận Đông Đàng Ngoài chỉ có ba 
				vị thừa sai, gồm hai Đức cha Y và Hernares Minh, cha chính hiền, 
				nhưng cả ba vị đều già và bệnh tật. Vừa thấy vị thừa sai mới, 
				Đức cha đã chạy ra và vui sướng : &quot;Vọng! Vọng! Ước Vọng!&quot;. Và từ 
				đó, Vọng trở thành tên gọi chính thức của cha Hermosilla.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau vài tháng miệt 
				mài họctiếng Việt, cha Vọng đã không phụ lòng mong đợi của các 
				bậc đàn anh. Cha hòa mình rất nhanh với các tín hữu cũng như 
				người ngoại giáo, tất cả là hy sinh và yêu thương. Không hề mệt 
				mỏi, vị thừa sai 30 tuổi không ngừng di chuyển thăm viếng các họ 
				đạo, giảng dạy, rửa tội, và giải tội. Nỗi buồn duy nhất của cha 
				là việc nhiều quá mà làm không xuể. Cha liền viết thư xin bề 
				trên gởi thêm những tu sĩ trẻ, khỏe mạnh và hăng hái khác.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Danh &quot;Trùm 
				Vọng&quot; thời vua Minh Mạng.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">11 năm thừa sai 
				đầu tiên, cha Vọng là linh hồn các hoạt động truyền giáo của 
				dòngh Đaminh trong giáo phận : Bốn năm phụ tá cha chính Amandi 
				Chiêu, ba năm bề trên dòng, một năm phụ tá cha chính Hiền, rồi 
				thay thế ngài từ năm 1838. Nhưng thực tế, những khi làm phụ tá, 
				vì cha chính già yếu, mọi công việc đều do cha Vọng điều hành. 
				Cha đã nâng số linh mục bản xứ lên đến 40, đủ sức đương đầu với 
				cơn bách hại sắp tới.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Bão tố đã thực sự 
				bừng lên trên giáo phận Đông đàng Ngoài từ năm 1838, khởi từ sau 
				lá thư gửi cho bốn thừa sai và hai linh mục Việt Nam của cha 
				Viên bị phát hiện. Hai Giám mục và cha Chính chịu tử đạo, nhiều 
				linh mục, tu sĩ, giáo dân đổ máu vì đức tin. Cũng vì một trong 
				sáu lá thư gửi cho cha Vọng, nên&quot;danh trùm Vọng&quot; được ghi vào 
				đầu sổ bộ truy lùng của vua Minh Mạng và quan Tổng đốc Trịnh 
				Quang Khanh. Chiếu chỉ ngày 18.01.1839 dành một đoạn nói về cha 
				: &quot;Hãy còn danh trùm Vọng chưa bắt được, dù quan truyền, dù thứ 
				dân, chẳng kỳ ai, hễ bắt được sẽ lãnh thưởng mười ngàn quan 
				tiền…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Để giúp dân dễ 
				nhận diện, vô tình vua Minh Mạng lại cho chúng ta biết đôi điều 
				về chân dung vị thừa sai này : &quot;Người cao lớn, mũi dài, râu rậm, 
				cặp mắt tinh anh và hơi xám, nước da trắng trẻo, khuôn mặt 
				phương phi…&quot; Đúng là chân dung của một con người nghị lực không 
				bao giờ chịu lùi bước. Quả thực, trong giai đọan này tuy rất 
				thận trọng, cha Vọng vẫn đi khắp nơi an ủi người này, khích lệ 
				kẻ kia, và trao ban các bí tích như coi thường cơn giận dữ của 
				&quot;Hỏa ngục&quot;. Dĩ nhiên là không phải không có những giây phút hồi 
				hộp, khi thì suýt bị bắt với Đức cha Y khi bị cắm đầu cắm cổ 
				vượt vòng vây chạy trốn. Có những lần, một mình đi giữa đêm tối 
				trên những đoạn đường quanh co xa lạ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>Thoát chết 
				trong đường tơ kẽ tóc</b></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chúa gìn giữ cha 
				Vọng trong nhiều trường hợp kỳ lạ. Lần kia, tại xứ Liễu Dinh, 
				một người lính đã thấy cha trong phòng, liền gọi đồng đội ra 
				tiếp sức. Đến khi họ vào, cha ngồi sau màn cầu nguyện : &quot;Xin cho 
				ý Chúa được thể hiện …&quot; Thế mà lính không thấy gì cả, cho đến 
				khi họ nhìn thấy một cụ già có râu ngoài sân, liền nhào ra bắt 
				nhầm, và cha có thời giờ chạy trốn thoát.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lần khác, quan 
				Tổng đốc Trịnh Quang Khanh dẫn 800 lính với hàng chục chiếc 
				thuyền bao vây làng cha đang ẩn trốn, bỗng trời nổi dông bão, 
				thế là quan quân hoàn toàn thất bại : hai thuyền bị đắm và nhiều 
				chiếc bị trôi dạt kéo theo ba sĩ quan và các lính thủy.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vào cuối thời vua 
				Minh Mạng, giáo phận chịu thiệt hại đáng kể. Trên 1.000 nhà thờ 
				bị rỡ xuống, có nơi phải nộp gỗ ván cho quan tỉnh. Các chủng 
				viện, 40 nhà chung, 60 họ đạo, 22 nhà phước Đaminh, 3 nhà phước 
				Mến Thánh Giá, đều bị triệt hạ và giải tán mỗi người mỗi nơi, 
				giáo dân thì bơ vơ, hai Giám mục và cha chính chịu tử đạo, mọi 
				gánh nặng đổ trên vai cha Vọng. Tuy nhiên, với sự cộng tác của 
				hai thừa sai, 37 cha dòng Việt và một số linh mục triều, năm 
				1840, giáo phận đã rửa tội thêm 143 người lớn, hơn 1.000 trẻ em, 
				giải tội 118.000 người và chứng hôn 1.630 đôi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thời gian 
				này có hai mẩu chuyện về cha Vọng.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thứ nhất về lá thư 
				cha báo cáo về tình hình Bắc Việt cho Bề trên tỉnh về sự kiên 
				cường của các vị tử đạo và &quot;sức sống ngầm&quot; của Giáo Hội Việt Nam 
				trong những năm giông tố. Lá thư đã làm cho cả tỉnh dòng vui 
				mừng. Tại nhà thờ thánh Đaminh ở Manila, cộng đoàn tu sĩ đã sốt 
				sắng hát kinh &quot;Te Deum&quot; và cử hành một lễ tạ ơn. Lá thư này được 
				phổ biến khắp nơi, làm cả thế giới ngạc nhiên và khâm phục. Đức 
				Grêgoriô XIV viết cho Giáo Hội Việt Nam một lá thư mục vụ khích 
				lệ, ngài họp hội đồng cơ mật trù liệu việc phong thánh cho các 
				vị tử đạo Việt Nam.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chuyện thứ hai là 
				chuyện thừa sai Marti Gia đã đến Yên Trì được gần một năm mà 
				không có cách nào trình diện để tuyên thệ theo luật bấy giờ (sắc 
				Ex Quo). Lúc ấy, cha Vọng đang làm Bề trên phải bỏ chỗ ẩn an 
				toàn để đến gặp người bề dưới tiến hành việc tuyên thệ này, cũng 
				như đưa ra những lời khuyên thực tiễn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dưới thời vua 
				Thiệu Trị, cuộc bách hại tuy lắng dịu, nhưng vẫn còn xảy ra ở 
				một vài nơi. Tòa thánh đặt cha Vọng làm Đại diện Tông tòa thay 
				thế hai Đức cha Y và Minh đã tử đạo. Theo dự định, lễ tấn phong 
				cử hành vào ngày 14.4.1841 tại Vĩnh Trị, Phúc Nhạc, nơi Đức cha 
				Retordd Liêu ẩn trú. Tổng đốc Trịnh Quang Khanh được mật báo đem 
				quân bao vây bắt lầm được hai vị thừa sai Pháp là Berneux Nhân 
				và Galy Lý. Trên đường áp giải về dinh, dân chúng kháo với nhau: 
				&quot;Kìa ! Đó là danh Trùm vọng !&quot;. Tổng đốc Trịnh Quang Khanh cũng 
				không giấu được vui mừng cho đến khi biết mình đã lầm, liền tức 
				giận, cho đóng cũi, tra tấn dã man và lột trần cả hai vị, trói 
				ngoài công đường cho mọi người sỉ nhục. Về sau nhờ áp lực của 
				quân Pháp, nhà vua cho lệnh tha hai vị về (1843) (xem thêm hạnh 
				bà Thánh Annê Đê).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hai ngày sau, cha 
				Vọng mới khởi hành từ Hải Dương đến Vĩnh Trị. Vì đã biết vụ hai 
				vị thừa sai bị bắt, cha nhờ giáo hữu dẫn đi đường khác. Tất cả 
				chỉ có thể đi vào ban đêm, băng rừng, lội suối, có khi đi thuyền 
				nhưng thường là đi bộ, còn ban ngày thì ẩn nấp trong bụi cây, 
				ngoài đồng lúc hoặc bụi tre. Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã cho 
				đặt các tram canh khắp nơi. Đặc biệt có một trạm canh rất cẩn 
				mật, cha phải hối lộ cho viên phó tổng, và theo kế hoạch của ông 
				ta để lọt được qua trạm. Đêm ấy, theo lời chỉ dẫn, cha mặc áo 
				cộc, quần nâu xắn lên tới dầu gối, lấy bùn xoa đen hết mặt mũi 
				chân tay, buộc túm râu tóc lại, đầu đội nón lá… rồi nắm đuôi 
				ngựa của viên phó tổng đang cưỡi, chạy lăng xăng theo sau, như 
				tên đầy tớ để qua trạm.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Vị Giám 
				mục khôn ngoan</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến Vĩnh Trị, cha 
				Vọng tìm đến tòa Giám mục của Đức cha Liêu. Đó là một cái chòi 
				có lối chạy xuống hầm để đề phòng mỗi khi quan quân bất ưng đến 
				thăm. Tại đây, ngày 25.04, cha được tấn phong. Đức tân Giám mục 
				tìm đường trở về giáo phận và đổi tên là Liêm, thay cho danh 
				trùm Vọng vẫn được treo giá cả vạn quan. Ít lâu sau, Tổng đốc 
				cũng ngã bệnh và qua đời.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lợi dụng tình hình 
				lắng dịu, Đức cha Liêm hoạt động không ngừng. Ngày 26.6, ngài 
				tấn phong Giám mục cho cha Jimenô Lâm làm phụ tá. Sau lễ, ngài 
				tập họp các linh mục để lập chương trình truyền giáo trong hoàn 
				cảnh mới. Từ đó cả giáo phận bừng lên sức sống mới. Các nhà thờ, 
				nhà xứ được tái thiết, các nữ tu viện, nhà Đức Chúa Trời được tu 
				sửa. Giáo hữu góp tiền chuộc các anh em khác còn bị giam giữ. 
				Trường Latinh được xây dựng lại tại Nam An (Hải Dương), sau dời 
				về Lục Thủy. Trường Thần học được thiết lập ở Mỹ Động, Hải 
				Dương. Đức cha khuyên giáo dân đặc biệt tin tưởng, cậy trông vào 
				Đức Mẹ, siêng năng đọc kinh Mân Côi và kêu cầu nữ Thánh 
				Philomêna tử đạo. Sau này, ngài chọn thánh nữ làm bổn mạng giáo 
				phận và xin phép tòa Thánh mừng lễ hàng năm (1).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhờ sự cộng tác 
				của nhiều tân linh mục trong giáo phận và nhiều thừa sai mới 
				được gửi tới, tình hình giáo phận Đông phục hồi rất nhanh. Việc 
				trao ban bí tích được gia tăng thêm mỗi năm. Chỉ cần cẩn thận 
				đôi chút, các Giám mục có thể đi ban Bí Tích Thêm sức nhiều nơi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1844, ngài mở 
				lễ kính thánh Tổ phụ Đaminh rất trọng thể. Các linh mục tu sĩ, 
				giáo dân thay nhau về thánh đường Nam Am suốt tám ngày liền. Họ 
				gặp nhau chia sẻ tin tức, kinh nghiệm sống đạo của mình. Thánh 
				lễ đại trào duy nhất của Đức cha Liêm, sau này sẽ trở thành tập 
				tục &quot;Lễ Đầu Dòng&quot; trong giáo phận. Số tân tòng ngày càng gia 
				tăng. Ngày 22.08.1844 tại Đông Xuyên, Đức cha rửa tội cho 44 
				người lớn, trong đó có một Chánh tổng, một Phó tổng, tám lý 
				trưởng, một thày cúng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sự phát triển ngày 
				càng phấn khởi hơn. Năm 1848, khi số tín hữu lên tới 184.000, 
				Đức cha xin tòa Thánh chấp thuận chia giáo phận thành hai : Giáo 
				phận Trung (nay là Bùi Chu, Thái Bình) được trao cho Đức cha 
				Marti Gia, còn Đức cha Liêm giữ lại phần đất đông dân cư (trên 
				mười triệu), mà ít tín hữu (chỉ 0,4 phần trăm). Từ đó hai giáo 
				phận ngày càng phát triển vững mạnh hơn, mặc dù vua Tự Đức bắt 
				dầu bách hại đạo. Năm 1852, giáo phận của Đức cha Liêm rửa tội 
				được 388 người lớn, 2.824 trẻ em, trong đó đa số là trẻ em 
				ngoại.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mười năm cuối đời 
				của Đức cha Liêm là những năm đầy vất vả và gian lao. Vua Tự Đức 
				ra thêm chiếu chỉ cấm đạo. Năm 1855, khi qua giáo phận Trung, 
				hai thày giảng tháp tùng Đức cha Liêm bị cướp bắt, Đức cha phải 
				năn nỉ cả ngày họ mới chịu tha. Năm sau, chính Đức cha bị bắt, 
				khi ngài đi kinh lý xứ Hữu Bàng, phải chuộc mất 300 quan. Năm 
				1858, trước tình hình bách hại gay gắt, sợ sẽ không còn ai sống 
				sót, Đức cha họp và quyết định chia một nửa số thừa sai về 
				Macao, chờ ngày thuận tiện hơn sẽ trở lại giáo phận hoạt động. 
				Ngài chỉ giữ lại 5 thừa sai Đaminh cho cả giáo phận. Năm 1859, 
				một lần nữa, Đức cha phải đổi tên là Tuấn, để lhỏi bị lộ cho tới 
				ngày chiếu chỉ phân sáp ra đời.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Nỗi đau 
				của vị chủ chăn</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tả sao cho hết nỗi 
				đau của vị chủ chăn dòng Thuyết Giáo. Hai cuộc tử đạo của hai 
				Đức cha An và Xuyên, biết bao hung tin mỗi ngày : các thánh 
				đường bị phá hủy, nhiều linh mục và thày giảng bị ngã gục. Giờ 
				đây chiếu chỉ phân sáp lại nhắm đến giáo dân. Ý thức bổn phận 
				chủ chăn, ngài liền viết thư luân lưu cho khắp giáo phận, kêu 
				gọi mọi người thống hối, để Chúa mở tay ban phát mọi sự lành, 
				kêu gọi tín hữu tin vào Chúa phòng, vì &quot;lá cây nhỏ mọn mặc lòng, 
				nếu Chúa chẳng cho động, nó chẳng động được đâu&quot;, khích lệ mọi 
				người can đảm xưng đạo cho vững vàng, năng suy niệm cuộc thương 
				khó mà Chúa đã chịu vì nhân loại hầu được thêm can đảm.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đêm thu 14.8 năm 
				tân Dậu (18.9.1861), trong khung cảnh tĩnh mịch của đêm trăng 
				rực sáng, Đức cha Liêm ngước mắt nhìn cảnh vật mà lòng xúc động 
				trào dâng. Ngài nghĩ đến số phận đàn chiên đang bơ vơ thiếu chủ 
				chăn, những gia đình tín hữu bị phân tán, vợ một nơi chồng một 
				nẻo, con cái phải xa cha mẹ… Nhưng nỗi khổ tâm nhất của ngài là 
				cũng đêm đó, chủng viện Kẻ Mốt phải giải tán, những mầm non của 
				giáo hội thiếu điều kiện phát triển. Cha Khoa thay mặt ngài, giờ 
				đây đang nói với chủng sinh những lời cuối cùng xiết bao xúc 
				động :</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Từ trước tới nay 
				Đức cha cố giữ anh em ở đây, và lo liệu cho anh em học hành … 
				Bây giờ Đức cha buộc lòng phải giải tán nhà trường. nếu Chúa để 
				chúng ta còn sống thì rồi đây có ngày Đức cha sẽ gọi anh em trở 
				lại. Đức cha nhắn lời chúc lành và dặn dò anh em sống sao cho 
				tốt, trông cậy vào Chúa là cha nhân lành và đừng quên cầu nguyện 
				cho ngài, cho giáo phận và cho cả giáo hội Việt Nam. Anh em hãy 
				thu xếp đi ngay trong đêm nay, khỏi cần bái chào Đức cha, kẻo 
				ngài không cầm được nước mắt…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cũng đêm đó, Đức 
				cha Liêm phải rời làng Kẻ Mốt đến trú ẩn ở Thọ Đức. 33 năm hoạt 
				động trên quê hương Việt Nam đã chất chứa những gánh nặng trên 
				vai ngài. Giờ đây sức khỏe ngài đã giảm sút, râu tóc đã bạc phơ 
				chỉ duy đôi mắt vẫn giữ được vẻ tinh anh. Cảm thương thay vị cha 
				già bước từng bước mệt nhọc trên quãng đường trơn trượt như trèo 
				lên đỉnh núi Sọ. Ngày mai sẽ ra sao ? Không địa sở, không nơi ẩn 
				náu, chỉ còn chờ cái ngày cũng chẳng xa, rơi vào tay những kẻ 
				đang truy nã.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cùng đi với Đức 
				cha có thày giảng Giuse Khang. Hai cha con trọ ở Thọ Đức được ba 
				tuần thì bị lộ. Lại phải xuống thuyền qua thị xã Hải Dương và tá 
				túc trên thuyền của một giáo hữu, gia đình ông Trương Bính. Được 
				vài ngày, hai vị tình cờ gặp Đức cha Valentino Vinh và cha 
				Almato Bình dọc theo đường thủy từ Kẻ Nê xuống. Thật là cuộc hội 
				ngộ đặc biệt, các vị trao đổi, khích lệ nhau thêm can đảm và tạ 
				ơn Chúa vì dịp may hiếm có này. Sau đó, các vị chia tay nhau mỗi 
				người một nẻo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dưới sự tận tình 
				che giấu của ông Trương Bính, Đức cha và thày giảng Khang được 
				ít ngày bằng yên cho đến hôm xảy ra cuộc cãi vả giữa cha con ông 
				Trương Bính, người con trai vì tức giận cha mẹ, đã đi tố cáo ông 
				bà về tội chứa chấp Tây Dương đạo trưởng. Đội Bằng lúc đó làm 
				Chánh tổng liền đem gia nhân đến bắt Đức cha vào ngày 
				20.10.1861. Khi bị bắt, Đức cha đưa cho đội Bằng một số tiền và 
				nói : &quot;Xin bắt và giam giữ một mình tôi thôi. Hãy để những người 
				đánh cá nghèo nàn này đi&quot;. Khi thày Khang nhổ cây sào thuyền 
				định chống cự thì Đức cha cản lại rằng : &quot;Đừng chống trả làm gì, 
				hãy phó mặc cho Thánh ý Chúa&quot;. Thế là cả hai bị bắt trói và đưa 
				về Hải Dương.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Đồng hành 
				về trời</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau khi lấy khẩu 
				cung, Đức cha bị giam trong chiếc cũi chật hẹp, nằm không nổi, 
				ứung cũng chẳng được, cứ phải khom lưng suốt ngày, chân tay rã 
				rời. Dầu vậy, ngài vẫn tìm cách giảng đạo cho các bạn tù, rà rửa 
				tội cho con trai viên đội Bái, cậu cũng bị xử tử với Đức cha.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chiều ngày 26.10, 
				sau khi bắt được Đức cha Vinh và cha Bình, quân lính hò reo ầm 
				ĩ, Đức cha đang thiếp ngủ bừng tỉnh dậy. Ba chiến sĩ đức tin 
				trong ba chiếc cũi ngậm ngùi nhìn nhau, nhưng lòng đầy hân hoan, 
				vì thấy được đòan tụ bên nhau trong những ngày cuối cùng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày xử được ấn 
				định là 01.11.1861. Ba chiếc cũi được khiêng đi sau đội quân 500 
				người. Đức cha Liêm cũi cuối cùng, trang nghiêm như ngày đại lễ, 
				thỉnh thoảng ngài giơ tay ban phép lành cho các giáo hữu đứng 
				hai bên đường.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tại pháp trường 
				Năm Mẫu, ba vị được đưa ra khỏi cũi, cùng cầu nguyện ít phút, 
				rồi đưa tay cho lý hình trói vào ba cọc. Bản án được đọc lên. ba 
				hồi chiêng trống, ba lưỡi gươm vung lên một lúc, chém rơi đầu ba 
				vị anh hùng. Khi các quan ra về, dân chúng dù lương hay 
				giáo,tranh nhau thấm máu tử đạo. Ba thi hài được bọc trong ba 
				chiếc khăn và chôn tại chỗ. Thủ cấp các ngài được treo ở bến đò 
				Hàn ba ngày (nhưng sau đó giáo dân đánh tráo bỏ vào đó ba củ 
				chuối) rồi đưa về Yên Dật, và sau lại đưa về an táng tại Thọ 
				Ninh một thời gian, cuối cùng, đi dời về đền Các Thánh Tử Đạo 
				Hải Dương.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Piô X suy tôn 
				Đức cha Jeronimô Hermosilla Liêm lên bậc Chân Phước ngày 
				20.05.1906. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài 
				lên bậc Hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức cha đã nằm 
				xuống, nhưng chân lý ngài đã truyền giảng, phong thái và nhiệt 
				tâm của ngài vẫn sống mãi trong các tín hữu và hàng giáo sĩ của 
				giáo phận. Tất cả sẽ nắm tay nhau theo dấu chân vị cha chung để 
				tiếp tục làm chứng cho đức tin.</p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường Thi Tử Đạo</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thánh Giêrônimô 
				Vọng giám mục<br>
				Sinh Canh Thân (1800) quốc tịch (Tây) Ban Nha<br>
				Tuy không tiền của rườm rà<br>
				Gia đình đạo đức một nhà yên vui<br>
				<br>
				Chí cậu quyết trao dồi văn hoá<br>
				Ðể sau này vào khoá dòng tu<br>
				Mười lăm tuổi được tiếp thu<br>
				Vào dòng thuyết giáo trong khu tuyệt vời<br>
				<br>
				Mười chín tuổi thầy thời mặc áo<br>
				Cũng tại dòng thuyết giáo trao ban<br>
				Năm sau giặc giã lan tràn<br>
				Dòng tu giải tán luận bàn trước sau<br>
				<br>
				Lệnh trai tráng đâu đâu nhập ngũ<br>
				Cùng bạn bè thầy rũ đi luôn<br>
				Ba năm quân ngũ vuông tròn<br>
				Xin ra thầy cũng vẫn còn chí tu<br>
				<br>
				Năm Quý Mùi (1823) tiếp thu nhà tập<br>
				Thầy cũng đều ít gặp khó khăn<br>
				Hy sinh gương mẫu chuyên cần<br>
				Thầy đều có sẵn tòng quân thấm vào<br>
				<br>
				Ý thầy muốn may sao lại gặp<br>
				Lúc nghỉ ngơi thầy đọc thư mời<br>
				Dòng Mến Thánh giá Mân côi<br>
				Cần người truyền giáo điểm thời Việt Nam<br>
				<br>
				Thầy rũ bạn về làm đơn gấp<br>
				Và đơn thầy được chấp nhận mau<br>
				Trong vòng chỉ một tháng sau<br>
				Các thầy đã đáp được tàu tới Phi<br>
				<br>
				Tại giám tỉnh trong khi trình diện<br>
				Ðã tỏ lòng tự nguyện rất cao<br>
				Này con khao khát ước ao<br>
				Xin cha hãy đặt con vào ý Cha<br>
				<br>
				Chức linh mục ban cho thầy Vọng<br>
				Và trao cha giám đốc Mân côi<br>
				Hăng say hoạt động không ngơi<br>
				Hội dòng lúc ấy tuyệt vời tiến mau<br>
				<br>
				Cha ở đó năm sau tình nguyện<br>
				Sang Việt Nam thực hiện ý Cha<br>
				Khởi hành từ Manila (Phi)<br>
				Sang Macao đợi người qua dẫn đường<br>
				<br>
				Kỷ Mão (1829) đến quê hương đất Việt<br>
				Lại cho mau trình diện Ðức Cha (Y)<br>
				Cha con mừng nói chẳng ra<br>
				Có người trẻ đến giúp ta tuổi già<br>
				<br>
				Cũng từ đó gọi cha tên Vọng<br>
				Tiếng Việt Nam cha học mau thông<br>
				Tập quán bản xứ ngoài trong<br>
				Cha đều hiểu rõ làm lòng như ai<br>
				<br>
				Cha Vọng vốn có tài thuyết phục<br>
				Bổn đạo theo mỗi lúc một đông<br>
				Linh hồn truyền giáo của dòng<br>
				Phụ tá Cha Chính từ trong đến ngoài<br>
				<br>
				Ðức Cha trao cho ngài lãnh đạo<br>
				Làm Bề Trên kiến tạo nhà dòng<br>
				Linh mục ngày một thêm đông<br>
				Ðược hơn bốn chục nhờ công của ngài<br>
				<br>
				Cơn bão tố trần ai đổ đến<br>
				Bị lộ thư gởi bốn thừa sai<br>
				Minh Mạng nổi giận công khai<br>
				Giết luôn Cha Chính và hai Ðức Thầy (Giám mục)<br>
				<br>
				Cũng từ đó bủa vây trùm Vọng<br>
				Ai bắt dâng được trọng thưởng to<br>
				Cửa chợ cho chí bến đò<br>
				Bủa quân kiểm soát tìm cho ra ngài<br>
				<br>
				Phải nhát sợ như ai không dám<br>
				Cha vẫn thường theo bán giáo dân<br>
				Rửa tội, hoà giải ân cần<br>
				Hằng năm vẫn có những lần đi thăm<br>
				<br>
				Quang Khanh nghe hờn căm lùng bắt<br>
				Các vòng vây được thắt chặt thêm<br>
				Lính canh ngày cũng như đêm<br>
				Xét người qua lại trong miền gắt gao<br>
				<br>
				Cũng có lần vây bao trúng chỗ<br>
				Làm cho cha khốn khổ trốn ra<br>
				Có lần gặp ở trong nhà<br>
				Nhờ Chúa che chở cho qua mới còn<br>
				<br>
				Toà Thánh thấy đàn con không mẹ<br>
				Quyết chọn ngài muôn đệ thế vô<br>
				Tân Sửu (1841) Giáo hội tung hô<br>
				Có Ðức Cha Vọng điểm tô hai Toà</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager