File "Kinh_Phanxico.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Kinh_Phanxico.htm
File size: 22.33 KiB (22871 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Phanxicô Kính (1799-1833)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Phanxicô Kính (1799-1833)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/PhanxicoKinh.jpg" width="200" height="331"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Phanxicô Kính (Francois Isidore Gagelin), Sinh năm 1799 tại 
				Montperreux, Besancon, Pháp, Linh mục Thừa sai Paris, địa phận 
				Ðàng Trong, bị xử giảo ngày 17/10/1833 tại Bãi Dâu dưới đời vua 
				Minh Mạng. Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII đã suy tôn ngài lên bậc 
				Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài 
				lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 17/10.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Mục tử 
				nhân lành.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Chúng tôi đã từ 
				bỏ gia đình, quê hương và tất cả lợi lộc trần thế, để chỉ truyền 
				giảng Tin Mừng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Từ chối chức quan 
				do chính vua Minh Mạng trao ban, cha Gagelin Kính chứng tỏ mình 
				chỉ mong thi hành xứ mệnh linh mục cao quý &quot;Loan báo tin mừng 
				cho muôn dân&quot; (Mc 13,10). Lòng nhiệt thành mục tử thúc bách ngài 
				không ngừng đi khắp nơi để ban phát các bí tích. Chính vì yêu 
				thương giáo hữu, ước mong họ được bình an, cha đã tự nguyện hiến 
				mình vì đoàn chiên (Ga. 15,13). Ngài thực là gương mẫu sáng ngời 
				cho các thế hệ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Túp lều 
				Việt Nam hơn hoàng cung nước Pháp.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Isidôrô Gagelin 
				sinh ngày 10.5.1799, tại Montperreux, giáo phận Besancon, nước 
				Pháp. Cậu Gagelin có ý tưởng theo ơn thiên triệu ngay từ nhỏ, và 
				từng tâm nguyện &quot;Tôi muốn làm linh mục&quot;. Lớn lên, sau bốn năm 
				học đại chủng viện giáo phận, năm 1819, thày gia nhập Hội Thừa 
				Sai Paris. Tháng 9.1821, Đức cha Labartette Bình, Giám mục giáo 
				phận Đàng Trong, truyền chức linh mục cho thày Gagelin Kính, khi 
				mới 22 tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thời ấy, vua Minh 
				Mạng mới lên ngôi, bầu khí tự do tín ngưỡng do vua cha (Gia 
				Long) để lại chưa phai nhạt. Linh mục Gagelin Kính vừa nhận chức 
				giáo sư chủng viện An Ninh, Quảng Trị, vừa thi hành công tác mục 
				vụ tại vùng lân cận. Cha gửi tâm sự về quê nhà năm 1823: &quot;Những 
				thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi 
				dám khẳng định rằng: tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của 
				tôi hơn vua nước Pháp ở trong hoàng cung của ngài&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dần dần vua Minh 
				Mạng áp dụng chính sách bách hại đạo ngày càng mãnh liệt hơn. Bề 
				trên Thomassin đã phải di tản chủng viện An Ninh và cử cha Kính 
				vào Sài Gòn, là khu vực Tả quân Lê văn Duyệt không áp dụng đường 
				lối bài Công Giáo. Cha thường thực hiện sứ vụ tông đồ nơi các họ 
				đạo vùng Sài Gòn, Bà Rịa, và đào tạo chủng sinh tại Lái Thiêu.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Ngôn sứ 
				Tin Mừng</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1827 cha Kính 
				được vua Minh Mạng triệu về kinh cùng với các giáo sĩ Tây phương 
				khác. Vua lấy cớ cần người dịch sách và làm thông ngôn cho triều 
				đình, nhưng với hậu ý cản ngăn việc truyền giáo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhận được lệnh 
				triệu tập thứ ba, cha Kính mới lên đường về kinh đô. Tại đây, 
				cha gặp hai thừa sai khác là cha Tabert Từ, cũng thuộc Hội Thừa 
				Sai Paris và cha Odôricô Phương, dòng Phanxicô, đã trình diện 
				nhà vua trước ngài.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Để trấn án hoặc để 
				có thể che giấu ác ý, nhà vua đề nghị ban chức quan cho các cha, 
				nhưng các cha từ chối. Cha Kính bày tỏ lập trường trong thư gửi 
				về Pháp :</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Tôi nói dứt khoát 
				với ông quan do vua sai đến ban ân huệ cho chúng tôi. Tôi cho 
				ông biết rõ mục đích chúng tôi sang đây làm gì, và chức linh mục 
				cao trọng hơn chức quan dường nào. tôi cũng nói rõ chúng tôi đã 
				từ bỏ gia đình, quê hương và tất cả những lợi lộc trần gian để 
				chỉ truyền giảng Tin Mừng thì không dễ gì chúng tôi từ bỏ nhiệm 
				vụ này. Tuy nhiên, những công việc nào có thể dung hòa với nhiệm 
				vụ của chúng tôi thì chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tả quân Lê Văn 
				Duyệt, người đã tống đạt lệnh vua và khuyên ba giáo sĩ Tây 
				Phương về kinh đô, khi nhận thấy các ngài bị giam lỏng, chính 
				ông đã về triều đình vào tháng 8 năm 1827 để thuyết phục vua 
				Minh Mạng giữ lời hứa. Tuy không muốn, nhà vua buộc lòng phải 
				trả tự do cho ba linh mục.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 01.6.1828, 
				cha Kính lên đường trở về Đồng Nai, rồi đi thăm viếng các họ đạo 
				tại miền Nam, từ Đồng Nai, Vũng Tàu đến miền Lục Tỉnh, Hà Tiên. 
				Ngài vừa lo hướng dẫn chăm sóc dân Chúa, vừa truyền giảng tin 
				Mừng cho dân tộc Chàm ở Bình Thuận và Campuchia ở Bắc Hà Tiên. 
				Nhưng các sắc dân này tin theo đạo rất ít. Năm 1829, ngài trở về 
				chủng viện Lái Thiêu, được Đức cha Talbert Từ bổ nhiệm làm Bề 
				trên giáo phận và cử ra hoạt động ở miền Trung.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Hiến mình 
				vì đoàn chiên</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Bề trên Kính 
				bắt dầu hoạt động mục vụ tại tỉnh Phú Yên, rồi tới Bình Định, 
				Quảng Ngãi (1830). Cha đi bộ từ họ này sang họ khác, dầu xa hay 
				gần, lớn hay nhỏ để giảng dạy, dâng lễ, giải tội và ban phép 
				thêm sức cho các giáo hữu. Tất cả những ai quen biết cha, và làm 
				chứng trong cuộc điều tra phong thánh, đều đồng thanh khen ngợi 
				đức hiền từ, lòng đạo đức, tinh thần khó nghèo khổ hạnh và chính 
				trực trong đời sống của ngài.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 06.01.1833, 
				vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao. Nhiều thân hữu 
				khuyên cha nên tạm hồi hương một thời gian, cha thẳng thắn trả 
				lời : &quot;Một công dân có nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân sự, huống 
				chi tôi được trao chức vụ lãnh đạo, sao có thể thoái thác trách 
				nhiệm của mình được&quot;. Thế là dù thời buổi khó khăn, cha vẫn tiếp 
				tục hăng say trong sứ mệnh, thăm hỏi an ủi giáo dân, giảng đạo 
				và rửa tội nhiều người Thượng ở Bình Định. Được một vị quan thân 
				hữu mật báo sẽ có cuộc truy bắt các linh mục Tây Phương, cha lẩn 
				tránh ít lâu. Nhưng khi thấy nhiều giáo hữu bị bắt bớ, đau lòng 
				trước cảnh đàn chiên tan tác, cha liền viết thư xin phép đức 
				Giám mục cho ngài ra nộp mình, hy vọng nhờ đó giáo hữu khỏi bị 
				bách hại. Đức cha Từ chấp thuận. Thế là ngài đến trình diện với 
				quan tri huyện Bồng Sơn (Bình Định) vào tháng 5.1833, sau đó cha 
				bị giải về kinh đô.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>&quot;Tôi muốn 
				thành tro bụi để kết hiệp với Đức Kitô&quot;.</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến Huế ngày 
				23.8.1833, cha bị giam ở trấn phủ với cha Jaccard Phan, cũng 
				thuộc Hội Thừa Sai Paris và cha Odôricô Phương, dòng Phanxicô, 
				bị bắt ở Cái Nhum. Cha Phương qua đời năm 1834 sau sáu tháng lưu 
				đày ở khu đèo Lao Bảo, ranh giới Ai Lao.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Suốt bẩy tuần lễ 
				bị giam cầm, cha Bề trên Kính không bị thẩm vấn lần nào. vua 
				Minh Mạng đã quá rõ, không thể lay chuyển đức tin can trường của 
				cha.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Kể từ ngày 12.10, 
				quân lính xiềng xích chân tay cha, canh gác nghiêm ngặt hơn và 
				cấm không cho giao tiếp với người khác. Linh mục Jaccard Phan, 
				nhờ có liên hệ với triều đình, báo tin cho cha biết ngày hành 
				quyết sắp đến. Cha Kính liền gửi thư phúc đáp, bày tỏ niềm hân 
				hoan vô tả khi được đổ máu làm chứng cho Chúa. ngài cũng nhờ cha 
				Phan thông báo cho Đức Giám mục, cho các Bề trên Hội Thừa Sai 
				Paris và gia đình. Cha viết tiếp : &quot;Tôi từ giã cõi đời không hề 
				thương tiếc sự gì, chỉ nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đủ an 
				ủi tôi về mọi điều đau khổ và cả cái chết nữa. Tất cả ước vọng 
				của tôi là sớm thoát khỏi thân xác tội lỗi này, để kết hợp cùng 
				Chúa Giêsu trong nơi vĩnh phúc. Tôi muốn thành tro bụi để kết 
				hiệp với Chua Giêsu&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vua Minh Mạng giữ 
				bí mật bản án đến phút chót. Sáng sớm ngày 17.10.1833, một đội 
				lính đến ngục thất, áp giải cha Kính, họ còn nói rằng cha được 
				mời sang ngục khác. Cha hiểu ngay giờ sau hết đã điểm, cha hỏi: 
				&quot;Có phải các ông đưa tôi đi xử tử không ?&quot; Họ đáp: &quot;Thưa phải&quot;. 
				Thế là ngài vui vẻ mau mắn cùng đòan hành quyết lên đường. Đến 
				đầu cầu ngăn cách kinh thành với khu ngoại ô Bãi Dâu, bốn người 
				lính đỡ bốn góc chiếc gông nặng nề đè lên cổ vị tử đạo. Các lính 
				khác võ trang gươm giáo đi hai bên, hai quan lớn cưỡi ngựa đi 
				sau, dân chúng đi xem rất đông. Một người lính giơ cao tấm thẻ 
				ghi bản án. Cứ đi khoảng một trăm bước, người lính đó dừng lại, 
				đánh mấy tiếng cồng, rồi đọc bản án như sau:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Dương nhân Hoài 
				Hóa mang tội truyền giảng đạo Gia Tô tại nhiều tỉnh nước ta, nên 
				phải xử giảo&quot; (Hoài Hóa là chữ Hán do các quan dịch tên cha 
				Gagelin).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến pháp trường, 
				vị linh mục bình tĩnh quỳ xuống cầu nguyện, mặc cho quân lính 
				thi hành nhiệm vụ. Họ trói ngài vào chiếc cọc giữa, lấy giây 
				vòng quanh cổ, rồi cuốn hai đầu dây vào hai cọc hai bên. Hiệu 
				lệnh thứ nhất ban ra, tiểu đội quân lính cầm lấy hai dầu dây. 
				Đến hiệu lệnh thứ hai, họ kéo thật mạnh, trong khoảnh khắc, vị 
				chứng nhân Chúa Kitô chút hơi thở cuối cùng. </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một học trò cũ của 
				cha Odôricô và một thày giảng của cha Phan xin phép nhận thi hài 
				thánh tử đạo đem về an táng tại một tư gia ở phủ Cam. Vì nghi 
				ngờ môn đệ Chúa Kitô sống lại sau ba ngày, vua Minh Mạng truyền 
				khai quật mồ vị tử đạo, khám nghiệm kỹ lưỡng, rồi mới yên lòng 
				cho chôn lại. Thế mà vẫn phân vân, vua truyền cho dân làng Phủ 
				Cam trông canh giữ mồ, nếu vị tử đạo sống lại, hay người ta lấy 
				mất thi hài, họ sẽ phải đền mạng. Trong các thư của cha Phan và 
				Đức cha De la Motte Hậu có ghi chép sự việc hy hữu trên.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1946, thi hài 
				thánh tử đạo Gagelin Kính được đưa về chủng viện Hội Thừa Sai 
				Paris.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 27.05.1900, 
				Đức Lêo XIII đã suy tôn ngài lên bậc Chân Phước. Ngày 
				19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">Nguồn từ thư 
				viện Đa Minh</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-left: 0; margin-right: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Gagelin Kính thừa 
				sai linh mục<br>
				Sinh Kỷ Dậu (1799) quê thực Paris<br>
				Từ nhỏ bày tỏ hướng đi<br>
				Tu làm linh mục quản gì khó khăn<br>
				<br>
				Mười hai năm phổ thông trung học<br>
				Và bốn năm đại học chủng sinh<br>
				Thầy về xin phép cha mình<br>
				Cho thầy gia nhập gia đình thừa sai<br>
				<br>
				Thầy vốn có cái tài thuyết nói<br>
				Năm Kỷ Mão (1819) hội gọi thầy ngay<br>
				Việt Nam truyền đạo xứ này<br>
				Ðặt tên là Kính từ ngày mới sang<br>
				<br>
				Giúp các cha mở mang xứ đạo<br>
				Cùng hội dòng kiến tạo tân trang<br>
				Giáo dân trong họ ngoài làng<br>
				Mỗi khi cần đến thầy càng chăm lo<br>
				<br>
				Ðức Cha Bình ban cho thầy Kính<br>
				Trong dịp này con lãnh chức cao<br>
				Linh mục con được ban trao<br>
				Từ xưa thầy vẫn ước ao có rày<br>
				<br>
				Vừa nhận chức trao ngay mấy xứ<br>
				Cũng xung quanh Thị tứ Ðông Hà<br>
				Bên ngoài công việc của cha<br>
				Giáo sư Chủng viện thật là giỏi giang<br>
				<br>
				Cuộc bách đạo ngày càng mãnh liệt<br>
				Tình thế này Chủng viện bất an<br>
				Ðức Cha linh mục họp bàn<br>
				Di dời Chủng viện bình an Sài Gòn<br>
				<br>
				Ðến đặc khu cha con tướng Duyệt<br>
				Là tả quân ông thiệt từ tâm<br>
				Không bắt bớ chẳng giam cầm<br>
				Ðể người Công giáo tuỳ tâm kính thờ<br>
				<br>
				Ở Quảng Trị bầy giờ cha Kính<br>
				Phải theo vào cha Chính khuyên ngài<br>
				Giáo sư vào hạng thiên tài<br>
				Lo cho Chủng viện trong ngoài cũng cha<br>
				<br>
				Năm Ðinh Hợi (1827) vua ra lệnh triệu<br>
				Cha về kinh danh hiệu chức quan<br>
				Công việc dịch sách thông ngôn<br>
				Ðây là một cách giam luôn nhân tài<br>
				<br>
				Cha Kính quyết một hai không chịu<br>
				Rằng tôi đây chính hiệu thầy tu<br>
				Giảng đạo Chúa rỗi thiên thu<br>
				Tôi đâu có phải người ngu ham tiền<br>
				<br>
				Sau về được nhờ hiền quân Duyệt<br>
				Ông về triều can thiệp cho ra<br>
				Sài Gòn hoạt động bao la<br>
				Hà Tiên, Lục Tĩnh vào ra Vũng Tàu<br>
				<br>
				Ðức Cha Từ về sau bổ nhiệm<br>
				Ðiều cha ra thực hiện miền Trung<br>
				Phú Yên, Bình Ðịnh hai vùng<br>
				Sau ra Quảng Ngãi cha cùng giảng rao<br>
				<br>
				Ðường xa mấy không sao đi bộ<br>
				Cha hết lòng dạy dỗ giáo dân<br>
				Rửa tội, thêm sức chuyên cần<br>
				Thường cha đi bộ đôi chân không giày<br>
				<br>
				Lệnh cấm đạo mỗi ngày một gắt<br>
				Suốt đêm ngày lùng bắt các cha<br>
				Ban ngày chẳng dám đi ra<br>
				Ðọc kinh, dâng lễ chỉ là ban đêm<br>
				<br>
				Nhiều giáo hữu có tên lùng bắt<br>
				Về tội danh dẫn dắt các cha<br>
				Ngài viết thư về Tổng Toà<br>
				Xin cho được phép ngài ra nộp mình<br>
				<br>
				Ðức Cha Từ thuận tình chấp nhận<br>
				Ðến nộp mình địa phận Bồng Sơn<br>
				Cha Kính khai rõ họ tên<br>
				Quan huyện mừng quá giải liền về kinh<br>
				<br>
				Cha đến Huế vô tình mà gặp<br>
				Bốn bạn xưa thân mật đổi trao<br>
				Năm vị ai cũng ước ao<br>
				Ðến ngày tử đạo trời cao rước về<br>
				<br>
				Ngày xử án cận kề di chuyển<br>
				Ðến Bãi Dâu thực hiện lệnh vua<br>
				Mấy câu khẩu hiệu tung hô<br>
				Dương quân hoài hoáGia-tô tử hình<br>
				<br>
				Năm Quý Tỵ (1833) chứng mình của Chúa <br>
				Chịu tử hình tuyên hứa Nước Cha<br>
				Canh Tý (1900) Toà Thánh Rôma<br>
				Suy tôn Chân phước danh Cha lưu truyền<br>
				<br>
				<b>Lời bất hu: </b>Những người thân khuyên cha hồi hương tạm 
				lánh một thời gian cha thẳng thắn trả lời: &quot;Một công dân có 
				nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân dịch, huống chi tôi được trao 
				trách nhiệm lãnh đạo, sao có thể thoái thác trách nhiệm của mình 
				được. Chỗ khác Ngài khẳng định: &quot;Tất cả ước vọng của tôi là sớm 
				thoát khỏi thân xác tội lỗi này, để kết hiệp cùng Chúa Giêsu 
				trong nơi vĩnh phúc</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager