File "Kham_DaminhPhamTrong.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Kham_DaminhPhamTrong.htm
File size: 27.86 KiB (28526 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Ðaminh Phạm Trọng Khảm (1780-1859) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Ðaminh Phạm Trọng Khảm (1780-1859)
		</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/DaminhPhamTrongKham.jpg" width="200" height="136"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<strong style="font-weight: 400">Ðaminh Phạm Trọng Khảm</strong>, 
				chánh án, Dòng Ba Ða Minh; sinh năm 1780 tại Quần Cống, Nam 
				Ðịnh; chết ngày 13 tháng 1 năm 1859 tại Nam Ðịnh. Ngài là một 
				nhân vật giầu có và được dân chúng kính nể, và cũng là bề trên 
				của Dòng Ba Ða Minh. Ngài cùng với con trai và nhiều người trong 
				tu hội phải chết vì bảo vệ cho các giáo sĩ. Phong Á Thánh 1951. 
				Lễ kính Ngày 13 tháng 1.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Đaminh 
				PHẠM TRỌNG KHẢM (1780-1859) - Quan Án </strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đaminh Phạm Trọng 
				Khảm sinh khoảng năm 1780 trong một gia đình bảy anh em giàu có 
				tại làng Quần Cống tại làng Xã Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam 
				Định (nay thuộc phận Bùi Chu). Thân phụ ông là cụ Phạm Tri 
				Khiêm, một hương chức danh giá được dân làng trọng vọng. Hấp thụ 
				được nhiều tính tốt của cha cậu Khảm nổi tiếng là người con có 
				hiếu. Năm 18 tuổi, anh vâng lời song thân kết hôn cùng cô Anrê 
				phượng, một thiếu nữ đạo hạnh trong làng. Hai vợ chồng sống rất 
				thuận hòa, được dân làng tin phục mến yêu. Đặc biệt hai người 
				biết hiệp lực giáo dục và khích lệ con cái học hành. Con trai 
				ông là Cai Thìn cũng làm đến chức Chánh Tổng, được mọi người 
				kính nể và kiên trung làm chứng cho đức tin đến hơi thở cuối 
				cùng với cha của mình. Ba người con gái của ông là bà Nhiêu Côn, 
				Nhiêu Trữ và Hậu Địch cũng được đi học như các con trai, nổi 
				tiếng lanh lợi tháo vác.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi bị bắt, vợ cụ 
				An Khảm đã gần 80 tuổi, vừa là tiên chỉ trong làng vừa là hội 
				viên dòng ba, kiêm chức Trùm họ trong giáo xứ. Mọi người đều 
				công nhận cụ là người đạo đức, giàu lòng bác ái và lòng nhiệt 
				tình trong những trách vụ. Các thừa sai, cả các Giám Mục cũng 
				biết tiếng và cũng đến trọ nhà cụ trong những ngày khó khăn. Với 
				giáo xứ cụ cộng tác đắc lực với cha sở trong việc điều hành tổ 
				chức họ đạo. Với xóm làng cụ là một người đức độ, quan tâm đến 
				nhu cầu mọi người cả xác lẫn hồn, sẵn sàng chia sẻ của cải cho 
				kẻ nghèo khó, và khích lệ mọi người can đảm trước những bách 
				hại. Gia phả con cháu cụ đi lại rằng : &quot;Gia nhân phải kiếm kẻ 
				nghèo khó vào ngồi chung thì cụ mới ăn cơm.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vì sẵn của cải, cụ 
				chia sẻ cho mọi người, có lần cụ kiếm cớ đãi cả làng. Cụ cho anh 
				mõ đi rao khắp các hẻm mời mọi người ra ruộng tổ chức đua diều. 
				Ai thắng ai thua không thành vấn đề, miễn là mọi người được một 
				bữa no say.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi quân lính đến 
				bao làng Quần Cống, cụ tập họp mọi người lại, khuyên họ bền chí. 
				Để khích lệ những người nhát đảm, cụ nói : &quot;Kẻ nào trong anh em 
				đạp lên Thánh Giá khi quan về, tôi sẽ đuổi ra khỏi làng, sẽ 
				không có chỗ mà chôn xác đâu&quot;. Thế rồi cụ bị bắt, và trên đường 
				áp giải những tín hữu &quot;cố chấp&quot; về Nam Định, cụ Án được tách 
				riêng, nhốt ngay trong thuyền của quan để khỏi ảnh hưởng đến 
				người khác. Nhưng suốt thời gian tù, cụ vẫn là chỗ dựa là nguồn 
				an ủi, là người khích lệ và chia sẻ tinh thần cũng như vật chất 
				cho các bạn tù.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Giuse PHẠM 
				TRỌNG TẢ (1800-1859) - <br>
				Luca PHẠM TRỌNG THÌN (1820-1859) - Chánh Tổng</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cuộc đời của hai 
				ông Cai Tả, Cai Thìn tuy cách biệt nhau 20 tuổi đời, nhưng đã 
				hòa lẫn với nhau trong cùng bối cảnh lịch sử thời tử đạo, một vị 
				là cựu, một vị là Chánh Tổng làng Quần Cống. Phải làm gì bây giờ 
				chắc chắn hai ông đã phải bàn luận với nhau rất nhiều, để cùng 
				với sự ủy thác của đức Cha Sampecro Xuyên, giám mục giáo phận 
				Trung khi đó, hai ông chọn giải pháp hòa bình bằng phương thế 
				đối thoại. Một mặt với uy tín riêng, các ông trấn an các tín 
				hữu. Mặc khác quan hệ với quan tổng đốc để gợi lên quan tấm lòng 
				nhân ái và quãng đại. Rất tiếc, đường lối đó không đạt như sở 
				nguyện, nên hai ông đã trả giá cho sứ mạng hòa giải bằng chính 
				mạng sống của mình.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Giuse Phạm Trọng 
				Tả sinh khoảng năm 1800 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân 
				trường tỉnh Nam Định. Cai Tả là anh em thúc bá với thánh Án 
				Khảm, là con Đaminh Phạm Thăng. Khi bị bắt ông đã 60 tuổi, là 
				một kitô hữu đạo đức, một hội viên dòng ba Đaminh và là cựu 
				chánh tổng đã chu toàn chức vụ của mình. Phụ lực với cháu Cai 
				Thìn, ông tìm cách giúp mọi người sống đạo trong hoàn cảnh khó 
				khăn. Gia phả con cháu ghi rằng : &quot;Đầy tớ ông rất đông, chưa tết 
				ông đã đi thăm viếng từng nhà và cho tiền mừng rất hậu. Số tiền 
				ấy thường gấp đôi số quà cáp họ biếu xén ông trong năm. Tiền 
				thóc gia nhân vay mượn ông thường cho một nửa, nếu túng quá thì 
				cho luôn. Công nợ của dân trong làng cũng châm chước như thế. 
				Khi bà cai lên tiếng cằn nhằn, ông thản nhiên trả lời &#39;mình quên 
				nợ người chúa quên tội mình&#39;&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Luca Phạm Trọng 
				Thìn là con trai cụ An Khảm, sinh khoảng năm 1820 tại làng Quần 
				Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định. Như ta đã biết 
				về cụ An Khảm, dưới mái nhà gia giáo và khá giả này, cậu Thìn đã 
				lớn lên trong bầu khí đạo đức, được ăn học thành người. Nhờ trí 
				khôn thông minh nhanh nhậu và chăm chỉ chuyên cần chẳng bao lâu 
				anh đã &quot;công thành danh toại&quot;. Khi bị bắt ông Cai Thìn khoảng 40 
				tuổi và đang là Chánh Tổng, vừa quyền thế vừa uy tín. Thực ra 
				khi mới lên chức vụ này, vì giao tiếp với quan lại nhiều, có 
				thời kỳ ông có vợ nhỏ là cô Trung người Trà Lũ, nên thờ ơ việc 
				đạo nghĩa (vợ chính ông Cai Thìn là bà Maria Tâm). Nhưng sau nhờ 
				lời khuyên của thân phụ, nhất là của cha giải tội, ông đã thành 
				tâm sám hối. Từ đó ông trở thành một mẫu gương thánh thiện, một 
				gia trưởng và một hội viên dòng ba Đaminh đạo đức, một thủ lảnh 
				đáng tin cậy.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1858, tình 
				hình bắt đạo đang gia tăng, và liên quân Pháp-Tây Ban Nha đang 
				đe dọa dân Việt ở Đà Nẵng, vua Tự Đức thêm phẫn nộ ra lệnh cho 
				quan quân triệt để thi hành các sắc chỉ nhắm vào đạo gia tô. 
				Nhưng thực tế việc việc thi hành này lệ thuộc nhiều vào các quan 
				địa phương có sốt sắng hay không. Lợi dụng điều đó, Đức Cha 
				Sampedro Xuyên đã ủy thác cho Cai Tả và Cai Thìn trọng trách sứ 
				giả hòa bình, vì cũng thuộc thành phần lãnh đạo, dễ dàng tiếp 
				xúc với cấp trên.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hiểu ý Đức Cha và 
				nắm tình hình các tín hữu Quần Cống, hai ông đã đến gặp trực 
				tiếp Tổng Đốc Nam Định, xin ông nương tay cho các tín hữu được 
				bình an, và hứa kêu gọi dân chúng trung thành với đức vua. Cuộc 
				thương thuyết sắp thành công, nhưng không ngờ lúc ấy tại Cao Xá, 
				một người vì bất mãn chính sách của nhà vua, đã xúi dục một nhóm 
				người nổi loạn chống lại các quan địa phương. Thế là vị Tổng Đốc 
				liền đổi ý, ra lệnh tiếp tục truy lùng các thừa sai, các đạo 
				trưởng và các giáo hữu có uy tín trong dân. Quan kết án Cai Tả, 
				cai Thìn là lừa dối và tìm dịp để bắt hai ông. Chúng ta sẽ biết 
				cơ hội để quan thực hiện ý đồ đó trong phần sau.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ba lần ra trước 
				tòa, cả ba lần hai ông đều cương quyết không bước qua Thập Giá, 
				dù bị dọa nạt đánh đập. Khi quan yêu cầu hai ông viết những suy 
				nghĩ của mình lên giấy, Cai Thìn đã viết bảng tuyên xưng Đức Tin 
				rõ rệt và can đảm như : &quot;Tôi là một Kitô hữu, tôi sẳn sàng chấp 
				nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi 
				phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết 
				điều này Luca Thìn&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Cai Tả không 
				cương quyết không xúc phạm Thánh Giá, ông còn khuyên bảo mọi 
				người đừng phạm thứ tội mà ông gọi là &quot;ghê tởm&quot; đó .</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nếu Đức Giêsu 
				Hoàng Tử Bình An đã dùng Thánh Giá khổ nhục để hòa giải nhân 
				loại bạc bẻo với Chúa Cha thì cuối cùng, hai ông Cai Tả và Cai 
				Thìn sẽ mãi mãi là sứ giả Hòa Bình bằng cái chết để chứng tỏ 
				lòng mình luôn trung tín với Thiên Chúa và trung thành với Giáo 
				Hội.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="center">* *<br>
				*</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1858 khởi đầu 
				cho giai đoạn 5 cuộc bách hại đạo gay gắt nhất trong lịch sử 
				Giáo Hội Việt Nam. Nhà vua treo giải thưởng xứng đáng cho những 
				ai tố cáo nơi trú ẩn của các vị thừa sai Âu Châu và ngược lại sẽ 
				trừng trị đích đáng những kẻ chứa chấp họ. Thế là các Ngài phải 
				nay đây mai đó, trốn từ làng này qua làng khác. Quần Cống là một 
				nơi ẩn náu khá an toàn, vì các chức sắc trong làng là ngừơi Công 
				Giáo, và chính họ sẵn sàng đón tiếp các Ngài. Đức cha Sampedro 
				xuyên, đại diện tổng tòa giáo phận Trung dự đoán có thể bị bắt 
				bất ngờ, đã thủ phong giám mục phó cho Đức cha Valentino Vinh 
				ngày 14-06 tại ninh Cường, hai cha Riano Hòa và Carrerras Hiển 
				là phụ phong. Sau đó cả bốn vị đều ẩn tại làng Quần Cống, trọ 
				tại nhà cụ An Khảm, Cai Tả và Nhiêu Côn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan An sát Nam 
				Định được mật báo làng Quần Cống chứa chấp Tây dương đạo trưởng, 
				liền huy động quân lính đến vây bắt. Nhưng cụ An Khảm kịp biết 
				tin, vội vàng tìm cách đưa các vị thừa sai trốn khỏi làng. Đức 
				cha Vinh và hai Linh mục qua làng Trà Lũ. Đức cha Xuyên đi qua 
				Kiên Lao (ngày 08-07 mới bị bắt). Sau khi các thừa sai đã đi xa, 
				cụ cho mỏ làng đi trước, đích thân cầm roi đi sau, bắt mõ làng 
				rao lớn tiếng : &quot;Trình quan viên làng nước, có lệnh cụ Án truyền 
				rằng : người nào quá khóa phải phạt ba roi và bị đuổi ra khỏi 
				làng.&quot; Rồi cụ tụ tập dân lại khích lệ họ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó, quan quân 
				ùa vào làng, họ bắt toàn thể dân làng tập trung lại, và rồi gọi 
				cụ An Khảm ra trình diện và nói : &quot;Mau nộp ngay lập tức các đạo 
				trưởng Tây dương và bản quốc, cũng như bọn thầy giảng lẩn trốn 
				trong làng. Nếu bất tuân lão sẻ bị bắt, bị tịch thu tài sản, nhà 
				cửa sẽ bị thiêu hủy, còn chíng lão sẽ bị kết tội chống cưỡng nhà 
				vua.&quot; Cụ An Khảm hết sức bình tĩnh vì biết chắc các thừa sai đã 
				trốn xa rồi, cụ mạnh bạo trả lời : &quot;Đúng, đạo chúng tôi có các 
				đạo trưởng nhưng các ngài ở đâu làm sao chúng tôi biết được. Xin 
				quan cứ tự do lục soát nếu tìm thấy vị nào trong làng thì quan 
				muốn làm gì cũng được.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thế là quân lính 
				chia nhau lục soát khắp ncả nhà, dĩ nhiên là không tìm thấy một 
				linh mục. Nhưng lính lại phát hiện được một số tượng ảnh, áo lễ 
				nên chủ nhà bị kết tội là chứa chấp đạo trưởng. Cụ An đã đứng ra 
				nhận là mình đã mua những thứ đó. Tuy vậy quan vẫn ra lệnh bắt 
				trói cả nhà.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trở lại nơi tập 
				trung dân làng, quan An sát cho đặt một Thánh Giá ngay giữa sân, 
				rồi bắt mọi ngừơi lần lượt bước qua. Nhưng quan đã thất bại dù 
				lính có đi tới đi lui đe dọa, toàn thể dân làng không một ai 
				bước qua Thánh Giá. Một bô lão có lẽ vì quá sợ, run rẩy tiến lên 
				vài bước, định thi hành lệnh quan, nhưng cụ An nhanh chân hơn 
				cản lại và khiển trách. Viên quan tức giận quát lên rằng : &quot;Ta 
				sẽ mất chức nếu không kết tội đươc An Khảm và bọn người vô phúc 
				này.&quot; Thế rồi quan lại bắt trói An Khảm, Cai Tả và Cai Thìn và 
				một số người khác, rồi giải về Nam Định, riêng cụ An được chở đi 
				trong thuyền của quan.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Chúng tôi được nước Thiên Đàng</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Về tới Nam Định, 
				hai cha con cụ An Khảm được gặp nhau trong những lần ra tòa, và 
				sau này được giam chung. Hai cha con vui mừng và xúc động khuyến 
				khích nhau chịu khổ vì lòng kính mến chúa Kitô.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tất cả những tù 
				nhân Quần Cống hẹn với nhau quyết tâm trung thành với đức tin, 
				dù phải hy sinh mạng sống. Riêng cụ An Khảm đã nhiều lần đại 
				diện cả nhóm trả lời với quan, đã tìm cách giáo lý trong đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một hôm sau khi 
				bắt được Đức Cha Xuyên, quan cho dẫn ba ông đến trước mặt Đức 
				Cha. Các ông kính cẩn chào hỏi và không dấu được niềm vui gặp 
				lại vị chủ chăn của mình. Thấy thế quan phỏng đoán và kết tội 
				các ông chứa chấp vị thừa sai này. Tuy thực sự Đức Cha đã ở nhà 
				mình, cụ An Khảm tìm cách trả lời chung chung : &quot;Là ngừơi tín 
				hữu, chúng tôi tôn kính và yêu mến bất cứ một linh mục nào, dù 
				chưa hề quen biết.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau bốn tháng rưỡi 
				bị giam, một hôm quan báo cho biết là cả ba vị đều bị kết án xử 
				giảo. Ông Cai Thìn hỏi lại án đã kết tội gì, quan cho hay là tội 
				chống lại nhà vua. Ong Thìn cực lực phản đối. Cuối cùng theo đề 
				nghị của ông, bản án được viết thêm bốn chữ &quot;bất khẳng quá 
				khóa&quot;; nghĩa là tội không chịu bước qua Thập Giá. Các ông vui 
				mừng hân hoan vì được chết cho Đức Kitô. Và trong những ngày còn 
				lại, các ông chuẩn bị sốt sắng đón chờ ngày lãnh nhận hồng phúc 
				tử đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ba vị chứng nhân 
				đức tin đã cảm nghiệm sâu xa lời Đức Kitô chúc phúc cho những 
				người bách hại vì danh Ngài. Đối với ba vị, bị bắt chịu khổ 
				nhục, bị giết vì danh Đức Kitô là niềm vinh phúc lớn lao. Các vị 
				đã hân hoan đón chờ nó, đồng thời khích lệ an ủi các tín hữu 
				khác. Và khi nghe báo giờ xử tử đã tới, cụ An Khảm vui vẻ nói 
				với mọi người : &quot;Cha con chúng tôi hôm nay được nước Thiên 
				Đàng&quot;. Cả ba vị đã sẵn sàng giả từ trần gian để về hợp đoàn với 
				hàng ngũ các thánh Tử Đạo, và mở rộng đôi tay đón nhận phần 
				thưởng vinh phúc Chúa đã hứa ban cho những tôi trung của Ngài.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 13-01-1859, 
				ngoài ba vị An Khảm, Cai Tả và Cai Thìn còn có bảy giáo hữu làng 
				Quần Cống khác được đưa ra pháp trườngBảy Mẫu, Nam Định. Trên 
				đường đi các vị lớn tiếng đọc kinh. Đến nơi xử các vị tiếp tục 
				đọc kinh Tin, Cậy, Mến và nhiều lần kinh Ăn Năn Tội chung với 
				nhau, rồi lớn tiếng kêu Chúa Giêsu.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quân lính mạnh tay 
				xô các vị té ngửa trên đất, rồi trói chân tay từng người vào cọc 
				đã chôn sẵn. Mỗi người bị hai người lính cầm hai đầu dây thừng 
				tròng qua cổ và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở. Các tín hữu 
				làng Quần Cống rước các vị đưa về quê mình, và tổ chức an táng 
				trọng thể.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Piô XII đã suy 
				tôn ba anh hùng tử đạo : Đaminh Phạm Trọng Khảm, Giuse Phạm 
				Trọng Tả, Luca Phạm Trọng Thìn lên bậc chân phước ngày 
				29-04-1951. Ngày 19-06-2002, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các 
				Ngài lên hàng hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right">
				<strong style="font-weight: 400"><em><font size="2">Nguồn từ tu 
				viện Đa Minh</font></em></strong><font size="2"> </font></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường Thi tử Đạo</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Bảy chín tuổi cụ 
				Phạm Trọng Khảm<br>
				Sống qua thời dưới tám triều Vua<br>
				Gia đình Quần Cống quê mùa <br>
				Mẹ cha phú quý chẳng thua thị thành<br>
				<br>
				Phần con cái hạ sanh được bảy<br>
				Cả gái trai hết thảy đều ngoan<br>
				Mười tám tuổi quen một nàng<br>
				Kết hôn chị Phượng người làng đoan trang<br>
				<br>
				Vợ chồng sống đảm đang đạo đức <br>
				Ðược bốn con rất mực nết na<br>
				Cụ ham học, giỏi tề gia <br>
				Dùi mài kinh sử thật là thông minh<br>
				<br>
				Thi đỗ đạt Triều đình phong chức<br>
				Án Sát Quan nhất mực thanh liêm<br>
				Nhưng sau cụ bị tố liền<br>
				Là người Công giáo vua truyền nghe theo<br>
				<br>
				Bị cách chức, phẩm đeo lột hết<br>
				Về xóm làng, khăn xếp bạch đinh<br>
				Ðức tin cụ vẫn nhiệt tình<br>
				Bước theo chân Chúa, tôn vinh danh Ngài<br>
				<br>
				Nơi làng cũ triển khai làm ruộng<br>
				Rất cần cù ưa chuộng tình thương<br>
				Giúp người lạc lối lỡ đường<br>
				Giàu lòng bác ái giáo lương một nhà<br>
				<br>
				Chia của cải gần xa nghèo túng<br>
				Nhập dòng ba hướng đúng Ðaminh<br>
				Nghèo hèn cụ trọng chẳng khinh<br>
				Ðón mời kẻ khó gia đình ăn chung<br>
				<br>
				Ðược Cha xứ trong vùng tín nhiệm<br>
				Ðặt làm trùm đại diện giáo dân<br>
				Sau bầu lý trưởng thấy cần<br>
				Phải nhờ Giám mục lãnh phần động viên<br>
				<br>
				Cụ Trọng Khảm nể liền đảm nhận<br>
				Rất nhiệt tình tường tận giúp dân<br>
				Các Thừa sai khắp xa gần<br>
				Những ngày gặp khó ân cần giúp ngay<br>
				<br>
				Dân mộ mến thăng ngay Tiên Chỉ<br>
				Vẫn giữ luôn hoan hỉ đạo đời<br>
				Thanh liêm vọng tiếng khắp nơi<br>
				Án Quan từ bỏ rạng ngời đức tin<br>
				<br>
				Tại Bảy Mẫu vui nhìn xử trảm<br>
				Chúa thưởng ban xứng đáng Nước Trời<br>
				Ðaminh Trọng Khảm lìa đời<br>
				Ðược phong Hiển thánh rạng ngời Thiên Cung<br>
				<br>
				Quan Án Sát oai hùng từ bỏ<br>
				Trong gia đình giàu có sẻ chia<br>
				Bạch đinh từ chối mũ hia<br>
				Lý hình xử giảo cắt lia thân mình<br>
				<br>
				Phạm Trọng Khảm hy sinh tử đạo<br>
				Vẫn kiên trung loan báo Tin mừng<br>
				Thánh nhân gương mẫu sáng trưng<br>
				Tôn vinh danh Chúa lẫy lừng năm Châu<br>
				<br>
				Phạm Trọng Khảm sinh đầu Canh Tý (1780)<br>
				Năm Kỷ Mùi (1859) vì đạo chứng minh<br>
				Tân Mão (1951) Toà Thánh thuận tình<br>
				Suy tôn Chân phước hiển vinh Nước Trời</p>
				<div align="left">
					<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
					<b>Lời bất hủ: </b>Thánh nhân can đảm tuyên bố trước anh em 
					binh sĩ: &quot;Kẻ nào trong anh em đạp lên Thánh giá, khi quan 
					về, tôi sẽ đuổi ra khỏi làng, sẽ không có chốn nào chôn xác 
					đâu&quot;.</p>
					<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
					<b>Lời tâm niệm chung 1:</b> Chúng ta noi gương các thánh Tử 
					đạo Việt Nam, hết lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi 
					người, bằng cách giúp đỡ tha nhân phần hồn lẫn phần xác, 
					trọn đời chịu cực chịu khó để tin thờ Thiên Chúa, sẵn sàng 
					hy sinh giúp đỡ những người làm việc tông đồ, và nâng đỡ anh 
					em đồng đạo, trung thành với Chúa, với Giáo hội cho đến hơi 
					thở cuối cùng... </div>
				</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager