File "Huy_AugustinoPhanViet.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Huy_AugustinoPhanViet.htm
File size: 67.47 KiB (69093 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Augustinô Phan Viết Huy (1795-1839) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Augustinô Phan Viết Huy 
		(1795-1839) </font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/AugustinoPhanVietHuy.jpg" width="200" height="288"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Augustinô Phan Viết Huy, là binh sĩ, ông sinh 1795 tại Hạ Linh, 
				Bùi Chu, Nam Ðịnh; chết 13 tháng 6, 1839, tại Thừa Thiên. Sau 
				khi bị bắt, ngài bị căng xác trên một cái giá và bị cưa làm hai 
				mảnh, cùng với Thánh Nicholas Thể. Phong Á Thánh 1900. Ngày Lễ 
				13 tháng 6.

				</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Vào năm Minh Mệnh thứ 19, nhà vua truyền cho các quan phải bắt 
				các lính có đạo trong quân ngũ phải quá khóa. Quan tổng đốc tỉnh 
				Nam Ðịnh hồi đó là Trịnh Quang Khanh. Chiếu chỉ của vua cho 
				Trịnh Quang Khanh như sau: &quot;Nếu khanh muốn giữ vững thủ cấp trên 
				cổ, khanh phải tuân theo lệnh của trẫm. Trẫm trao phó cả ngàn 
				quân sĩ và đặt hết tín nhiệm nơi khanh. Hạn cho khanh trong vòng 
				một tháng phải bắt tất cả các linh mục trốn tránh trong tỉnh, và 
				thanh trừng các lính Công Giáo trong quân ngũ đến đứa cuối cùng. 
				Trẫm không muốn giết chúng, nhưng trẫm muốn chúng bỏ đạo.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thừa lệnh của vua, Trịnh Quang Khanh đã thề tiêu diệt đạo Công 
				Giáo đến nỗi không có một quan nào dữ tợn hơn ông trong lịch sử 
				bách đạo tại Việt Nam. Ðể thi hành đắc lực lệnh của nhà vua, 
				Quan Trịnh Quanh Khanh còn sáng chế ra những hình phạt kinh 
				khủng để làm cho người Công Giáo hoảng sợ mà chối đạo. Ðối với 
				những người nhất định không chối đạo, thì ông dùng tù đày, hoặc 
				khuyến dụ bằng những lợi lộc hoặc chức quyền. Ông cũng không 
				quên dùng những người Công Giáo đã bỏ đạo để làm lung lạc các 
				chiến sĩ của Chúa. Có khi ông còn dùng áp lực phạt thân nhân của 
				các người Công Giáo, để vì thương hại thân nhân mà chối đạo. 
				Trong thành Nam Ðịnh vào năm 1838 có tất cả chừng 500 lính Công 
				Giáo bị điệu ra trước tòa để xử. Dĩ nhiên không phải cả 500 
				người đều là những Công Giáo tốt. Trong số này, có đủ loại 
				người, có người đạo đức và có người sống đời bê bối. Nhưng họ 
				đều có đức tin. Tuy nhiên Trịnh Quang Khanh cho điệu tất cả các 
				lính tới hầu tòa. Trước khi hầu tòa, quan cho các ông ăn uống no 
				say. Sau khi ăn uống, quan cho cả ngàn quân lính võ trang bao 
				vây các ông lại. Trên khán đài, quan tổng trấn ngồi chễm trệ, 
				với các chức sắc dân sự và quân sự ngồi theo thứ tự đẳng cấp. Ở 
				một phía bên của tòa án, lý hình với đủ mọi hình cụ dữ tợn để 
				dọa các lính trung kiên với giáo hội. Ở phía khác, quan truyền 
				đặt nhiều cây thánh giá để lính Công Giáo phải bước qua. Trịnh 
				Quang Khanh đứng lên, bước tới phía trước khán đài, rồi truyền 
				lệnh cho quân sĩ. Ông hứa hẹn rất nhiều lợi lộc của vua ban cho 
				quân sĩ chối đạo. Ông cho họ biết ông đối xử với quân lính như 
				người cha, như người mẹ. Tuy nhiên ông muốn biết chắc chắn rằng 
				quân sĩ của ông phải nghe lời ông thì mới được hưởng tước lộc 
				vinh hoa phú quý. <em>&quot;Ðức vua không thể sai lầm, ngài đã cấm 
				theo đạo Gia Tô. Vậy mọi người phải bỏ đạo đó.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan không đòi hỏi gì khác, chỉ cần quân lính bước qua thập giá. 
				Quân lính đó sẽ được phục chức trong quân đội và không ai đả 
				động đến tôn giáo này với họ trong tương lai nữa. Ông cũng không 
				quên đe dọa những phần tử bất tuân lệnh của ông. Ông chỉ về phía 
				các hình cụ để đe dọa những phần tử bất tuân.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau khi tuyên bố những lời vừa khuyến dụ vừa đe dọa, quan truyền 
				cho các quân sĩ phải lần lượt bước qua thập giá. Một số rất lớn 
				đã vâng lời quan bước qua thập giá, một số khác thì từ chối ngay 
				từ đầu. Nhưng quân lính dùng sức lôi họ qua thập giá rồi kể như 
				họ đã bỏ đạo. Cũng có người thì dùng tiền hối lộ để khỏi bị lôi 
				qua thập giá. Những người này, quan cũng coi như đã bỏ đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau cuộc xét xử hỗn loạn bắt 500 lính Công Giáo bỏ đạo, các quan 
				vô cùng hoan hỉ, vì phần lớn đã chối bỏ đức tin. Những người 
				chối đạo này trở về nhà bị lương tâm cắn rứt. Nhiều người suốt 
				đời ăn năn thông hối, mỗi khi đi xưng tội thì chỉ khóc lóc vì 
				tội phản bội của mình. Có người hối hận suốt đời. Có người vẫn 
				khóc khi đi xưng tội dù đã 40 năm sau. Như trong truyện của các 
				cha truyền giáo kể lại, có người vào tòa xưng tội chỉ khóc lóc, 
				còn tội thì chẳng phạm tội gì nặng cả. Cha hỏi tại sao con cứ 
				khóc mỗi khi con đi xưng tội, thì ông trả lời: <em>&quot;Thưa cha, 
				con bất hạnh đã đạp thánh giá Chúa, đã 40 năm nay con hối hận 
				khóc lóc mỗi ngày. Sao con còn dám phạm tội nào khác nữa?&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trong số 500 quân lính cũng còn 15 người nhất định không để cho 
				lính kéo qua thập giá. Họ nhất quyết xưng mình là Kitô hữu. Lập 
				tức họ bị đánh đập tra tấn. Quan truyền lấy gông nặng đeo vào cổ 
				các ông và truyền lệnh giải các ông vào nhà lao. Trong nhà lao, 
				chân tay các ông bị cùm, và bị bỏ đói, tuy nhiên các tín hữu vẫn 
				có thể hối lộ để nuôi các ngài. Ngày hôm sau, quan tìm cách khác 
				thay vì đánh đập, quan bắt bạn bè, vợ con của 15 ông này phải 
				khuyên nhủ các ông bỏ đạo. Những lính đã bỏ đạo cũng được lệnh 
				phải khuyên nhủ các ông. Nhưng các ông vẫn trung thành. Quan lại 
				truyền quân lính đánh đập các ông. Quân lính lại lôi các ông qua 
				thập giá, nếu ông nào nhấc chân lên không chịu đạp lên thánh giá 
				thì bị quân lính dùng roi đánh vào chân các ông. Thậm chí chúng 
				còn buộc thánh giá vào chân các ông để các ông bước đi, rồi hô 
				lên các ông đã bỏ đạo. Các ông phản đối và quyết xưng mình là 
				Kitô hữu. Quân lính tức giận lại đánh các ông rất đau đớn. Vừa 
				bị đòn đánh, vừa bị thân nhân và bạn bè dùng đủ mọi lý do để 
				khuyên nhủ các ông bỏ đạo, sau cùng không chịu được nữa, sáu ông 
				đã xin bỏ đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Bây giờ con số còn lại chỉ còn có chín ông. Can đảm nhất trong 
				chín ông là ông Augustinô Huy. Chín ông bị điệu về ngục thất. 
				Ðêm ấy ông Huy, dù đã xưng đạo ra hai lần vẫn cảm thấy mình tội 
				lỗi cần phải gặp cha để đi xưng tội. Ông Huy là người Công Giáo 
				nhưng ông có hai vợ. Ông đã cưới người vợ có đạo, rồi sau lại 
				cưới một người ngoại đạo ở tỉnh. Ông tìm cách hối lộ để có thể 
				về nhà giải quyết vấn đề gia đình và gặp cha để lo xưng tội. May 
				mắn, ông gặp Cha Thiều cũng có tên là Cha Năng đang làm phúc tại 
				họ Phú Ðường gần nhà ông. Ông đến xin Cha Thiều tha tội. Cha 
				Thiều buộc ông phải làm tờ giấy bỏ vợ hai. Cha cũng an ủi ông và 
				khuyên ông vững lòng chịu khổ vì đạo. Ông Huy vâng lời. Sau khi 
				chịu các phép bí tích, sáng ngày hôm sau, ông lại trở lại nhà 
				giam để chuẩn bị cho cuộc xưng đạo thứ ba.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày ấy, chín người lính lại bị điệu ra trước tòa. Trong phiên 
				tòa, quan Trịnh Quang Khanh lại hứa hẹn ban nhiều bổng lộc của 
				nhà vua cho ai chối đạo, và sẽ phạt nặng nề những ai bất tuân. 
				Trong số chín ông, bốn ông lại xin bỏ đạo. Chỉ còn năm ông nhất 
				định không chịu quá khóa. Quan Trịnh Quang Khanh thấy vậy rất 
				tức giận, truyền cho quân lính đánh các ông nát cả thịt ra. Quan 
				còn truyền lấy búa đập vào các ngón tay cùng nhiều hình khổ khác 
				đánh đập các ông làm các ông đau khổ mà không thể chết được. Ông 
				không muốn giết các ông mà chỉ mong muốn các ông bỏ đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau khi thất bại làm lay chuyển lòng dạ sắt đá của năm ông, quan 
				bực mình vừa nguyền rủa vừa truyền tống giam các ông vào ngục 
				như cũ.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thất bại trong việc diệt trừ đạo Công Giáo, quan Trịnh Quang 
				Khanh bị vua khiển trách và cất chức tổng đốc Nam Ðịnh. Ông bị 
				giáng cấp xuống tuần phủ. Ngày 12 tháng 4 nhuận năm ấy, ông Lê 
				Văn Ðức đang làm tổng đốc Sơn Tây, được cử làm tổng đốc Nam 
				Ðịnh. Ông Lê Văn Ðức cũng theo lối của Trịnh Quang Khanh mà bắt 
				các ông này phải bỏ đạo. Ông Huy và các bạn vẫn cương quyết 
				trung thành với Chúa.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày 25 tháng 6 năm 1838, tại tỉnh Nam Ðịnh quan truyền xử tử 
				Ðức Cha Minh (Henares) và Thầy Phanxicô Chiểu. Quan thượng cũng 
				truyền đem cả năm ông lính đi nữa, giả cách như phải xử một trật 
				với hai đấng kia. Mục đích của quan là để các ông sợ chết mà bỏ 
				đạo. Trái lại các ông vẫn không sợ mà lại vui mừng vì tưởng giờ 
				tử đạo của mình đã đến. Các quan thấy các ông vui mừng lại càng 
				ngạc nhiên, không hiểu tại sao các ông lại muốn được chết vì 
				Chúa. Quan lại truyền điệu các ông về ngục như cũ. Các ông thấy 
				mình không được chết vì đạo, thì lại buồn hết sức.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sáng ngày hôm sau, 26 tháng 6 quan tổng trấn lại truyền năm ông 
				phải hầu tòa, ông cố gắng hết sức nào áp dụng các hình cụ mà ông 
				mới sáng chế ra, nào đe dọa, nào khuyên nhủ với nhiều hứa hẹn. 
				Các ông vẫn không chịu bỏ đạo. Quan tổng trấn lại truyền đánh 
				đập các ông sưng cả mặt mũi, máu chảy đầm đề. Dù bị đánh đập tàn 
				nhẫn không còn hình tượng người ta nữa, khi hỏi có còn xưng mình 
				là Kitô hữu nữa không, các ông vẫn khẳng khái tuyên xưng các ông 
				vẫn là kẻ có đạo. Thấy mình thất bại, quan tổng trấn càng giận 
				dữ, ông chửi bới thậm tệ, và truyền cho lý hình đánh các ngài 
				cho tới khi nào các ông chịu bỏ đạo thì thôi. Quan tổng trấn mới 
				hành hạ các ông này hơn tuần lễ, nhưng vẫn vô ích.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày kia ông truyền cho lý hình, buộc gông rất nặng vào cổ các 
				ông rồi kéo các ông qua thập giá. Các ông nhất định giơ chân lên 
				chứ không chịu đạp vào thập giá, thì quan lại truyền cho lính 
				đánh đập vào chân các ông đến nỗi các ông không còn sức để mà 
				giữ chân co lên cao được nữa, tức thì chân phải hạ thấp xuống và 
				đạp lên tượng thì quân lính reo hô thật to: &quot;Ðã quá khóa rồi.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan án lúc đó truyền không hành khổ các ông nữa, và hỏi các 
				ông: &quot;Sau cùng, các ngươi đã tuân lệnh nhà vua chưa?&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vừa bị đánh đập đau đớn, vừa sợ hãi, hai ông Siêu và Dụ nói: 
				&quot;Quan lớn dậy thế nào thì chúng tôi xin vâng.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Lậy tức hai ông được quan lớn tha và hứa hẹn đủ điều. Quan lại 
				hỏi ông Huy, ông Thể và ông Ðạt thì cả ba ông đều thưa: <em>
				&quot;Quan lớn dậy việc gì khác chúng tôi xin vâng, còn bỏ đạo thì 
				chúng tôi không bỏ.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan lại truyền giam ba ông vào ngục thất và đeo xiềng và đóng 
				gông nặng hơn nữa.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thấy hai bạn đã bỏ đạo, ông Huy, ông Thể và ông Ðạt càng ăn chay 
				đánh tội nhiều hơn nữa để xin ơn bền vững. Hai ngày sau khi hai 
				ông lính bỏ đạo, quan thượng nghĩ rằng ông cũng có thể làm cho 
				ba ông này bỏ đạo như hai ông kia. Ông liền truyền dẫn ba ông 
				vào dinh của ông rồi truyền cho ba ông phải bỏ đạo. Ba ông không 
				chịu. Quan thượng lúc đó cũng muốn biết các ông theo đạo và sống 
				đạo thế nào. Quan truyền cho ba ông đọc kinh trước mặt quan. 
				Quan đưa sách cho các ông và truyền cho các ông đọc. Bấy giờ ông 
				Huy, cầm lấy sách đạo mà quan trao cho, đọc theo như cung cách 
				quen đọc trong nhà thờ. Các quan cùng mọi người trong dinh, nín 
				lặng để nghe các ông đọc kinh. Nhân dịp này ông Huy lợi dụng để 
				giảng giải về lẽ đạo cho quan. Quan lắng nghe, nhưng khi giảng 
				tới đoạn không vừa ý quan. Quan liền truyền quân lính vả vào 
				miệng ông. Sau đó quan thượng lại truyền ba ông phải bỏ đạo. Ba 
				ông cương quyết từ chối. Quan thượng lại truyền quân lính khiêng 
				các ông qua tượng thánh giá như những lần trước. Lần này quan 
				truyền đánh dữ tợn hơn lần trước, đánh đến nỗi chân các ông đầy 
				máu me. Khi chân các ông chạm vào thánh giá, thì quân lính lại 
				hô lên: &quot;Quá khóa rồi, quá khóa rồi.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Lúc đó ông Huy, đại diện hai ông kia kêu lên: <em>&quot;Quan lớn dậy 
				đánh đòn cùng kéo ép chúng tôi, có lẽ nào mà nói chúng tôi đã 
				quá khóa được ru?&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tức thì quan thượng truyền nọc ba ông này ra đánh đòn. Ông bị 
				đánh 20 roi, ông bị đánh 30 roi. Riêng ông Huy thì bị đánh 40 
				roi ngay hôm đầu. Có chứng nhân nói rằng trong ba ngày liên tiếp 
				mỗi ông bị đánh chừng 130 trượng. Khi hỏi các người khác rằng 
				các đấng bị đánh nhiều trượng như thế thật không? Ai ai cũng 
				đồng ý như vậy.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Dịp khác các quan lấy nhiều lý lẽ mà khuyên ba ông bỏ đạo. Ông 
				Huy lại đại diện anh em thưa rằng: <em>&quot;Bẩm quan lớn, quan lớn 
				dậy chúng tôi bỏ đạo Thiên Chúa, thì chúng tôi sẽ theo đạo nào, 
				vì trong các đạo khác chẳng có đạo nào là đạo thật.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan thượng nghe thế liền nói: &quot;Nếu ngươi bảo đạo chúng bay là 
				đạo thật, sao vua nghiêm cấm đạo ấy?&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau đó quan còn nói nhiều điều phạm thượng tới đạo Công Giáo. 
				Ông Huy lại có dịp cắt nghĩa lẽ đạo cho các quan, cùng bẻ các lý 
				lẽ mà quan đã nói. Thất bại về tranh biện với các đấng này, quan 
				thượng lại truyền đánh đập và phạt các ông.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vào những buổi trưa hè nóng bức, các ông bị cạo trọc đầu, cổ 
				mang gông, chân tay xiềng xích, phơi nắng trước cổng dinh. Giữa 
				lúc nắng hè, các ông đau khổ phần vì nóng bức, phần vì ruồi 
				nhặng bậu vào để hút những vết máu mà tay chân các ông bị xiềng 
				xích không thể đuổi đi được. Giữa lúc đó các bạn hữu, các bạn 
				đồng đội theo lệnh quan thượng phải tới khuyên nhủ các ông bỏ 
				đạo. Hơn nữa, quan lại còn thưởng cho những tín hữu bỏ đạo, hay 
				thăng cấp. Ðiều này cũng làm cho các ngài dễ dàng bị lung lạc. 
				Có lần vợ ông Ðạt đến khóc lóc và dùng đủ mọi cách để chồng dẵm 
				lên thánh giá. Ông Ðạt đã đủ can đảm trách mắng vợ và cấm bà lần 
				sau không được đến gặp ông nữa. Các ông vẫn bị phơi nắng từ ngày 
				này sang ngày khác. Lần kia có một người tín hữu thấy ông Huy bị 
				phơi nắng khổ sở như vậy, liền lấy quạt che cho ông. Khi ông Huy 
				thấy cử chỉ của bà như vậy, ông cám ơn bà và nói với bà:<em> 
				&quot;Chúa để chúng tôi chịu sự khốn khó để đền tội chúng tôi. Tôi 
				xin bà đừng che nắng cho tôi.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trong ngục tù, các đấng này còn ăn chay hãm mình bốn lần một 
				tuần: thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bảy. Dù đồ ăn trong ngục 
				đã ít oi, mà các đấng còn hy sinh để giúp cho những tù nhân 
				khác. Các ông cầu nguyện không ngừng và còn xin các bổn đạo khi 
				đến thăm các ngài: <em>&quot;Xin các ông các bà cầu cho chúng tôi để 
				chúng tôi bền vững, vì chúng tôi biết chúng tôi rất yếu đuối.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan thượng là người thông minh, học rộng thế mà lại tranh luận 
				thua những người học thức tầm thường này. Ðức Cha Marti nói: <em>
				&quot;Về vấn đề này, tôi rất tiếc không đủ tài liệu chi tiết về những 
				lý luận ngu xuẩn và phi lý của quan trên về đạo giáo đối với ba 
				quân binh này. Tôi biết họ hỏi rất nhiều câu hỏi đặc biệt về bí 
				tích giải tội và hôn phối. Ông Huy đã trả lời rất đúng và khúc 
				chiết và dễ dàng đập tan những ý xảo quyệt của những người vô 
				đạo và thờ ngẫu tượng này. Ông thường nói về mục đích của Chúa 
				ban phép bí tích, sự thánh thiện của bí tích, sự thánh thiện của 
				nghi thức đi kèm với bí tích. Về bí tích giải tội, ông nói nếu 
				giải ban đêm là vì trong thời cấm đạo. Còn bình thường các cha 
				giải tội ban ngày.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ðức Cha Marti còn kể tiếp ít nhất là một lần, quan thấy ông Huy 
				đối đáp khôn khéo, quan truyền đuổi ông ra ngoài, kẻo ông nghe 
				được những người quanh quan thượng khen ngợi hoặc ông lại ảnh 
				hưởng trên các người chung quanh quan.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Một ngày kia, quan lại hạch hỏi và tranh luận với ông Huy về quá 
				khứ đời tư của ông, để làm ông chán nản: &quot;<em>Giả dụ như có ai 
				từ trước tới nay sống đời đạo đức mà muốn chết vì đạo còn hiểu 
				được, chứ như ngươi trong quá khứ đã sống như người ngoại, có 
				hai vợ, ngươi sống dường như không phải là bổn đạo. Mà bây giờ 
				ngươi cứ giữ luật Kitô hữu, thì quả là điên khùng, không thể 
				chấp nhận được.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Về 
				vấn đề này, ông Huy đã trả lời quan với hết lòng khiêm nhường 
				rằng cho tới nay ông đã sống đời sống Kitô hữu như gương mù, 
				theo tính xác thịt, theo sự yếu đuối của ông. Nhưng Chúa nhân 
				lành vô cùng đã thương ông, cho ông biết thống hối, và bỏ vợ 
				hai. Ông đã bỏ mọi sự ngay cả mạng sống nữa chứ không bỏ đạo 
				Kitô giáo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Không lay chuyển ông được, quan thượng lại dùng bạo lực. Ðức Cha 
				Marti kể lại rằng quan thượng còn dùng nhiều hình khổ đặc biệt 
				để lay chuyển ý chí sắt đá của ông Huy. Quan bắt lính kéo ông 
				qua thánh giá, và dùng roi đánh chân ông bắt chân ông chạm vào 
				thập giá. Khi chân ông đụng vào thập giá chúng lại reo lên: &quot;Nó 
				đã quá khóa rồi, nó đã quá khóa rồi.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ông Huy lại đáp lời: <em>&quot;Các ngươi dùng võ lực lôi thân xác ta, 
				các ngươi cố dùng sức lực lôi chân ta, nhưng các ông có dùng sức 
				mạnh để lung lay ý chí ta được không? Bao lâu ta không chịu, thì 
				dù có đánh đập các người cũng không đạt được mục đích đâu!&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trong hồ sơ phong thánh của ông và hai vị có đoạn nói lên rằng 
				lòng tin và lý luận của các ông phần nào làm cho quan tổng trấn 
				Lê Văn Ðức phải cảm động. Quan nói: &quot;<em>Các ngươi làm cho ta 
				thấy tội nghiệp các ngươi quá. Ta không muốn hành hạ các ngươi 
				hơn nữa. Dù ta có hành hạ các ngươi thế nào các ngươi cũng không 
				bỏ đạo và bước qua thập giá. Tôn giáo các ngươi là tôn giáo gì 
				vậy? Hãy nói đi ta muốn nghe các ngươi nói.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ông Huy đã cắt nghĩa cho quan mười điều răn Ðức Chúa Trời và bảy 
				phép bí tích. Quan lớn cảm động và ngạc nhiên về đạo lý của đạo 
				Công Giáo, cảm động quá, ông liền ca ngợi đạo Công Giáo, ông còn 
				xin lỗi các đấng và nói: <em>&quot;Tôi không biết tôi có còn ở đây 
				lâu nữa không. Nếu tôi trở về triều đình, mà các ông phải chịu 
				chết vì đạo các ông, xin hãy nhớ tới tôi và xin làm ơn đừng báo 
				thù tôi.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ðến tháng chín, có tin đồn ông Huy và hai bạn bị xử tử. Các ông 
				rất vui mừng. Các ông nhắn tin cho vợ con lên tỉnh để vợ chồng, 
				cha con được giã từ nhau lần cuối. Lúc đó có Cha Năm, ông trùm 
				Ðích, và ông lý Mỹ cũng bị giam gần đấỵ Các bà cũng vào thăm các 
				ngài. Cha Năm bảo các bà rằng: <em>&quot;Hôm nay không biết ba ông 
				binh sống chết thế nào, song chắc các ông còn phải chịu nhiều sự 
				khốn khó nữa. Cụ gần đến ngày chịu chết rồi, dù cụ là thày cả 
				mặc lòng cũng nghĩ rằng mình khó mà có thể chịu đựng vì Chúa như 
				ba ông binh.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cùng ngày hôm ấy, ba ông lại bị điệu vào hầu quan, ba ông lại bị 
				một trận đòn nên thân, đến nỗi trong mình chẳng có chỗ nào lành. 
				Tuy nhiên các ông vẫn không chịu quá khóa. Quan lại đành giam 
				các ông vào ngục thất. Khi trở lại ngục thất, Cha Năm hỏi các 
				ông: <em>&quot;Sao, hôm nay chúng con được trận hay thua?&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cả 
				ba ông đều trả lời cha: <em>&quot;Chúng con chẳng chịu quá khóa lúc 
				nào, mà chỉ trông được chịu chết vì đạo, vì quan lớn đã dậy làm 
				án xử cho chúng con rồi.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quả thật các quan lúc đó đã làm án xử tử ba ông, và đệ tấu nhà 
				vua. Vua Minh Mệnh, đọc tấu sớ của các quan, nhưng ông chẳng 
				muốn giết các ông này. Nhà vua liền ra chiếu chỉ truyền cho các 
				quan phải tìm hết cách để khuyên dụ các ông binh bỏ đạo: <em>&quot;Ta 
				lấy sự sống người ta làm trọng lắm, khi đã cắt đầu chẳng còn 
				phép nối lại được nữa, ta truyền cho các quan phải dùng mọi 
				cách, làm sao cho ba tên lính bỏ đạo Gia Tô, nhất là truyền đem 
				ra ngoài cửa thành cho dân chúng xỉ vả. Nếu khi sự ấy chẳng đủ, 
				thì đem ra ngoài mà giả cách chặt ngang lưng cho sợ hãi.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Các quan vâng theo chiếu chỉ của vua, đóng gông đem ông Huy và 
				ông Thể ra cửa Ðông, ông Ðạt ra cửa Nam. Ông Huy và ba ông đều 
				không sờn lòng.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tháng 10 năm 1838 quan tổng trấn Trịnh Quang Khanh phục chức 
				tổng trấn Nam Ðịnh thay thế Lê Văn Ðức. Quan tổng trấn thấy ba 
				ông vẫn cứ vững lòng trung kiên thì cũng lại đệ án xin nhà vua 
				xử tử các ông. Tuy nhiên vua Minh Mệnh không cho giết, trái lại 
				còn truyền cho ông Trịnh Quang Khanh phải tìm đủ mọi cách khuyên 
				dụ. Chẳng những thế, vua còn quở trách ông Trịnh Quang Khanh:<em> 
				&quot;Mày không bảo được ba thằng lính phàm hèn, mà cai quản cả tỉnh 
				thế nào được.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ba 
				ông bị điệu ra ngoài thành cho xỉ vả liên tiếp 21 ngày, rồi lại 
				bị giam vào ngục vừa bị hành hạ vừa bị dụ dỗ. Quan lại truyền 
				cho những người đã bỏ đạo trước phải vào để dụ dỗ ba ông. Nhưng 
				các ông không nghe còn dùng nhiều lý lẽ để làm cho họ phải xấu 
				hổ và ăn năn. Quan Trịnh Quang Khanh thấy đã hết kế, sau cùng 
				ông dùng một âm mưu rất độc. Quan bắt anh em họ hàng của ba ông, 
				cùng lý dịch ba xã Hạ Linh, Phú Nhai, Kiên Trung. Khi các người 
				tới trước mặt quan thượng, ông truyền cho họ phải làm sao cho ba 
				ông quá khóa, nếu không làm nổi thì tất cả đều phải chịu chết 
				với cả ba ông. Anh em họ hàng cùng huynh thứ trong xã rất sợ 
				hãi, nên cố sức để dụ dỗ ba ông. Khỏi mấy ngày quan thượng đòi 
				cả ba ông vào để xem các ông đã sẵn lòng bỏ đạo chưa. Nhưng ba 
				ông cứ một mực vững lòng. Tức thì quan truyền cho thân nhân, 
				huynh thứ trong ba xã, và các lính đồng đội phải vào để khuyên 
				nhủ ba ông. Nhưng dù các người này cám dỗ thế nào các ông vẫn 
				một lòng trung kiên. Quan Trịnh Quang Khanh tức giận lắm, ông 
				chửi các lý dịch cùng huynh thứ trong xã: <em>&quot;Tại chúng mày, mà 
				ba thằng này bất trị, vì chẳng dậy bảo chúng nó vâng chịu luật 
				phép nhà nước cho sớm, nên chúng mày phải chịu tội với chúng 
				nó.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nghe quan thượng nói vậy, huynh thứ và lý dịch rất sợ hãi, xin 
				khất quan một tháng để khuyên bảo các ông này. Các ông cũng 
				không quên xin quan thượng đừng giam các ông này chung với nhau, 
				xin giam mỗi người một nơi để dễ dàng khuyên bảo. Quan thượng 
				ưng cho khất một tháng, và giam ba ông riêng biệt.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Hết hạn một tháng, quan nghĩ chắc ba ông đã mềm lòng có thể chịu 
				bỏ đạo, quan liền truyền điệu các ông đến. Song các ông vẫn 
				không chịu quá khóa. Bấy giờ quan truyền nọc đánh một người 
				huynh thứ xã Kiên Trung. Ông Thể thấy người huynh thứ bản xã bị 
				nọc đánh đòn thì thương hại, ông thưa với quan rằng: &quot;Lạy quan 
				lớn, xin quan lớn tha cho, quan lớn dậy thế nào con xin vâng.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan bảo ông quá khóa, ông đành vâng theo. Lúc đó các quan thấy 
				một tên lính đã thua trận thì vỗ tay reo mừng, liền tháo gông bẻ 
				xiềng cho ông Thể. Sau đó mọi người lại xúi giục ông Huy và ông 
				Ðạt bắt chước ông Thể mà chịu quá khóa. Một quan nói với ông 
				Ðạt: <em>&quot;Mày cứ bắt chước tên Thể mà bước qua thập tự, khi 
				trước cả ba tên đều hợp lực bất kháng, bây giờ tên Thể đã vâng 
				lời vua, sao mày còn cứng cổ.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Bấy giờ ông Ðạt cũng chiều lòng các quan mà bước qua thập tự.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Phần ông Huy, dù hai bạn đã quá khóa, ông vẫn không sờn lòng. 
				Các quan vẫn không thất vọng cố tìm cách dụ dỗ ông Huy bỏ đạo. 
				Ðêm đó, quan cho người vào phòng ông Huy dụ dỗ ông rằng: &quot;Chú 
				phải vâng lời vua như hai ông kia, thì chẳng ai cười chê chú 
				được. Vì chú đã chịu khó vững vàng hết sức rồi. Vua chẳng muốn 
				giết chú, mà cũng chẳng muốn tha chú nếu chú không quá khóa, nếu 
				chú bước qua một lần mà thôi thì khỏi mọi sự rầy rà này.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau cùng, ông Huy cũng chối đạo như hai ông bạn kia. Sau đó, 
				quan phát cho mỗi ông 10 quan tiền rồi thả các ông về nhà.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Dòng dã tám tháng trời các ông chịu cực hình và khuyên dụ bỏ đạo 
				mà các ông vẫn trung kiên, nên ai cũng cảm phục. Bây giờ nghe 
				tin các ông chối đạo, rất nhiều người không tin. Có người cho 
				rằng các ông bị bùa ngải làm mê loạn nên các ông mới chối đạo. 
				Câu chuyện này vẫn còn trong vòng nghi ngờ, nhiều người vẫn 
				không tin các ông đã chối đạo, nhất là sau này các ông lại xưng 
				đạo và chịu chết vì đạo. Có những người biết chuyện thì cố tình 
				tạo nhiều ý khác nhau để che đậy sự nhút nhát của ba ông hồi ấy. 
				Trong các thư báo cáo về Manila, và Âu Châu thì quả quyết các 
				ông tự ý chối đạo chứ không có ai ép uổng các ông. Chính ba ông 
				binh cũng tự thú chuyện các ông chối đạo là sự thật. Ðức Cha 
				Marti, đã điều tra rất nhiều người và kết luận chuyện các ông bị 
				bùa ngải là vô căn cớ.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Từ 
				khi ba ông bỏ đạo, thì lương tâm các ông cắn rứt vì đã chối đạo 
				và gương xấu mình đã làm. Ba ông đã bàn bạc với nhau cũng như 
				hỏi người khác xem phải làm thế nào để trở lại cùng Chúa. Mấy 
				ngày sau, ông Huy cũng như hai ông binh kia đi xưng tội. Bởi ơn 
				Chúa thúc đẩy, cả ba ông đều muốn lên tỉnh để xưng đạo. Lên tỉnh 
				Nam Ðịnh, cả ba ông vào dinh quan thượng. Ba ông lạy quan 
				thượng, rồi ông Huy đại diện anh em để thưa với quan: &quot;Bẩm quan 
				lớn, đạo Thiên Chúa là đạo thật, Chúa chúng con thờ là đấng cao 
				cả phép tắc vô cùng, bởi chúng con đã quá dại mà chịu quá khóa, 
				mất nghĩa cùng Chúa chúng con, nay chúng con xin giả tiền lại 
				cho vua và quan lớn, cùng xin giữ đạo Thiên Chúa cho thật lòng.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trịnh Quang Khanh nghe những lời ấy thì tức giận chửi rủa các 
				ông thậm tệ, sau đó truyền giam các ông trong ngục rồi truyền 
				cho lính hàng đội phải dụ dỗ ba ông như trước, tuy nhiên ba ông 
				vẫn một lòng trung kiên. Quan Trịnh Quang Khanh không biết phải 
				làm thế nào, vì trước đây ông đã tâu về triều đình rằng ba ông 
				đã quá khóa, bây giờ nếu xử án ba ông thì không biết ăn nói sao 
				với triều đình. Quan liền truyền cho lý dịch ba xã đến để nhận 
				tiền thay vì các ông, rồi đuổi ba ông về làng không cho đến làm 
				phiền các quan nữa. Các ông buồn rầu ra về, tuy nhiên lòng các 
				ông vẫn không yên trí. Các ông chẳng ao ước sự gì thế gian mà 
				chỉ ao ước được chết vì đạo Chúa. Các ông càng gia tăng việc cầu 
				nguyện, ăn chay hãm mình và làm việc phúc đức để mong được chết 
				vì đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quyết định của quan tổng trấn không làm cho các ông hài lòng, 
				các ông lại bàn với nhau:<em> &quot;Nếu quan thượng không cho chúng 
				ta chết vì đạo, thì chúng ta sẽ vào kinh tâu xin nhà vua cho 
				chúng ta chết vì đạo, để sửa lại gương mù gương xấu chúng ta đã 
				làm.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ông Huy lại bảo các bạn: <em>&quot;Nếu các ông không đi thì tôi đi 
				một mình.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Lúc đó ông Thể cũng nói thêm vào: <em>&quot;Nếu ông đi, tôi cũng đi 
				với ông.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðể 
				đi tới quyết định trên các ông đã bàn hỏi với Cha Tuyên. Cha 
				Tuyên hỏi cặn kẽ lý do các ông bỏ đạo, các ông đáp: &quot;Quả thực 
				trong lòng chúng con bỏ đạo chỉ vì thương cha mẹ, anh em, và 
				huynh thứ trong làng. Chúng con tin rằng nếu chúng con không 
				bước qua thập giá, thì quan thượng cũng bắt tất cả phải bước qua 
				thập giá. Nếu họ vì sợ mà ưng thuận, chúng con lại không phải 
				chịu trách nhiệm về tội của họ sao? Chúng con đã sai lầm, và 
				chúng con đã bước qua thập giá. Sau khi quá khóa, chúng con cảm 
				thấy hối hận nên đã xưng đạo lại trước mặt quan tổng trấn. Nhưng 
				chỉ có quan tỉnh biết, còn triều đình và nhà vua thì không hay 
				biết gì cả. Chính vì thế chúng con muốn đến gặp nhà vua, và xưng 
				đạo công khai trước mặt người. Như thế mọi người sẽ biết chúng 
				con bước qua thập giá vì sự yếu đuối của chúng con, chứ không 
				phải vì chúng con muốn nghe lời nhà vua mà chối bỏ đạo.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau đó Cha Tuyên viết thư hỏi ý kiến Ðức Cha Marti nói rõ lý do 
				các ông đã bỏ đạo và ý các ông muốn xưng đạo lại tại kinh đô. 
				Trong thư, Cha Tuyên cũng kể cho Ðức Cha Marti biết trong thời 
				gian các ông đang cư ngụ tại nhà người, người cũng được thư của 
				Cha Jimeno (sau này làm giám mục), trong đó có đoạn nói: &quot;Thày 
				vui mừng lắm vì ba ông binh lính đã xưng đạo tại tỉnh, lại nghe 
				cả ba ông toan vào đền vua để xưng đạo cách rõ rệt hơn nữa. Ðược 
				như vậy, thày rất vui mừng, và tin rằng Ðức Chúa Trời sẽ giúp 
				cùng ban sức cho họ được thắng trận, xứng đáng lãnh phần thưởng 
				vô cùng mà Ðức Chúa Trời đã dành cho những kẻ chịu khổ vì đạo.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Tuyên đọc thư này cho cả ba ông nghe và họ nhất định vào đền 
				vua. Ông Huy còn xin sao bản thư đức cha để sau này xem lại. Sau 
				đó ba ông bàn với nhau phải vào kinh như thế nào.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Vấn đề vào kinh cùng một lúc thật là khó, vì chẳng có bao giờ cả 
				ba ông được nghỉ phép. Lúc đó ông Ðạt nói: <em>&quot;Tháng sau, hai 
				ông được nghỉ ở nhà, mà tôi phải ứng vụ tại tỉnh, hai ông cứ đi, 
				tôi ở lại, nhưng anh em thế nào thì tôi thế ấy. Xin anh em cho 
				tên tôi vào đơn, nếu anh em chịu sự khổ nào trong kinh thì tôi 
				cũng mong được chịu khổ như vậy ngoài này.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Tuyên thấy ba ông nhất định đi chịu chết vì đạo thì người 
				khuyên bảo các ông đủ điều và dậy các ông cậy trông ơn Chúa, ăn 
				ở khiêm nhường. Sau khi nghe cha già Tuyên khuyên bảo, ông Huy 
				và ông Thể về nhà từ giã vợ con anh em thân thuộc lần cuối cùng 
				và xin mọi người cầu nguyện cho mình. Hai ông cũng đi xưng tội 
				chịu lễ để dọn mình còn ông Ðạt lên tỉnh thi hành công vụ.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ðầu tháng 3 năm 1839, tức năm Minh Mệnh thứ 20, hai ông vào 
				kinh. Con cả ông Huy cũng theo cha vào kinh để xem công việc thế 
				nào. Hết 20 ngày mới vào tới kinh đô Huế. Các ông trọ tại nhà 
				một người bổn đạo tên là bà Tam. Ở đây hơn một tháng, hai ông ăn 
				chay cầu nguyện, dọn mình để vào kinh xin chịu tử vì đạo. Các 
				ông đệ đơn và kêu tòa tam pháp. Quan tòa nhận đơn rồi chẳng tra 
				hỏi gì hết. Chờ đợi ít lâu, mà chẳng ai hỏi gì tới việc xưng đạo 
				của hai ông, hai ông lại viết đơn khác gửi tới quan tòa: &quot;Chúng 
				tôi quá khóa tại tỉnh Nam Ðịnh, vì quan Trịnh Quang Khanh ép 
				chúng tôi quá, chẳng phải vì lòng thật muốn bỏ đạo.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Lần đó các quan tòa cũng chẳng xét xử đơn xin của các ông. Ðợi 
				đến một ngày kia, khi vua Minh Mệnh ra ngoài chơi, hai ông sấp 
				mình xuống bên lề đường, mà đệ đơn trên đầu. Một quan lớn cầm 
				đơn đó xem, rồi trình vua. Khi vua Minh Mệnh biết việc liền 
				truyền giam các ông vào ngục, rồi truyền các quan thuộc hình bộ, 
				lễ bộ, và binh bộ hợp lực tra xét và làm mọi cách cho hai ông bỏ 
				đạo. Tuy nhiên dù làm thế nào hai ông vẫn trung kiên. Lúc đó 
				quan Lê Văn Ðức, trước kia là tổng đốc Nam Ðịnh, đã biết các ông 
				gan dạ thế nào nên nói với các ông rằng: <em>&quot;Ðánh đòn chúng bay 
				chỉ mỏi tay mà thôi.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Các quan tòa thấy hai ông can đảm như vậy thì hỏi về ông Ðạt, vì 
				trong đơn có nói tới ông ấy. Hai ông liền thưa với quan:<em> 
				&quot;Anh Ðạt cũng chẳng chịu quá khóa, mà vì mắc trở việc tại tỉnh 
				Nam Ðịnh, nên chẳng đi với chúng tôi được, song anh ấy cũng hợp 
				một ý với chúng tôi. Anh ấy còn dặn rằng, anh em thế nào thì tôi 
				thế ấy.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Các quan trình tâu nhà vua mọi việc, nhà vua lấy làm ngạc nhiên 
				lắm, tuy nhiên vua vẫn hy vọng có thể thay lòng đổi dạ các ông, 
				nên vua lại truyền ba quan lớn hợp lực làm thế nào cho hai ông 
				quá khóa. Nhưng cũng vô ích.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Nhà vua còn truyền các quan đem ra 10 nén vàng, một tượng thánh 
				giá, và một thanh gươm rồi nói: <em>&quot;Mặc ý các ngươi chọn. Nếu 
				bước qua thập giá thì sẽ được thưởng 10 nén vàng, còn nếu không 
				sẽ bị thanh gươm chặt ngang lưng làm hai rồi bỏ xác xuống biển.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<b>Tức thì hai ông xin chịu chết.</b></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Các quan lại trình tâu vua tất cả sự kiện, vua Minh Mệnh rất tức 
				giận, truyền đem hai tờ giấy cho các ông ký tên vào. Một tờ thì 
				chứa đầy những lời xỉ vả mạ báng Chúa và đạo Gia Tô, còn tờ kia 
				là án các ông phải chết như thế nào. Hai ông không chịu ký vào 
				bản thứ nhất, trái lại chấp nhận bị trảm quyết. Lúc đó quan đọc 
				án của nhà vua như sau: <em>&quot;Minh Mệnh nhị thập niên, tháng 5 
				ngày mồng một, nội các thần Lê Khanh Trình, thần Lâm Ruy Nghĩa 
				vâng lời vua truyền từ tờ các quan tòa tam pháp, thì hai tên 
				lính tỉnh Nam Ðịnh, tên là Phạm Viết Huy và Bùi Ðức Thể cùng 
				khai rằng chúng vốn theo đạo Gia Tô chẳng bỏ, mà năm ngoái có 
				bước qua thập tự tại bản tỉnh, bởi quan tổng đốc tỉnh ấy bức 
				hiếp chứ trong lòng chẳng bao giờ có ý bỏ đạo, nên bây giờ xin 
				cứ giữ đạo như khi trước. Quan tòa tam pháp đã khuyên bảo hai ba 
				lần, song hai tên phạm này cứ một mực chỉ xin chịu chết, cùng 
				quyết chẳng chừa cải, thật là hai tên dại dột mê hoặc. Khi trước 
				ta đã làm án chết cho chúng nó, song ta còn thương hại chẳng 
				muốn giết, chẳng ngờ là lũ phạm ấy đã ra mê cuồng chẳng còn biết 
				lẽ phải, ta đã mở lối cho chúng nó ăn năn, nếu còn có trí khôn 
				thì phải biết mình đã sai lầm mà cải ác hoàn lương, song hai tên 
				phạm này cố chấp theo Gia Tô tà đạo, dám bỏ việc lính mà vào 
				kinh khống đơn, chúng nó thật kiêu ngạo, đáng khinh dể, đáng 
				ghét, không thể để cho sống được nữa. Nên hai tên phạm là Phạm 
				Viết Huy và Bùi Ðức Thể, phải kết án tử, giao cho lính đem ra 
				cửa biển, lấy rìu lớn chặt ngang lưng, rồi bỏ xác xuống biển để 
				cho ai nấy biết rõ điều răn cấm. Còn một tên phạm nữa là Ðịnh 
				Ðạt cũng can án này. Nó có bỏ đạo thật hay không thì phải tra 
				xét kỹ càng và tâu cho minh bạch.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày 2 tháng 5 năm 1839 ta, cũng là 12 tháng 6 năm 1839 dương 
				lịch, ông Huy và ông Thể bị điệu ra cửa bể là cửa Thuận để chịu 
				chết. Trên đường đi đến pháp trường hai ông vui vẻ chào hỏi mọi 
				người khiến dân chúng rất ngạc nhiên. Ðến cửa biển, quan bắt hai 
				ông xuống thuyền rồi chèo ra khỏi đất liền. Lúc này quan còn 
				khuyên hai ông quá khóa vì vẫn còn kịp, nhưng hai ông nhất định 
				không bỏ đạo.Quan tryền tháo gông, rồi trói hai ông vào cột 
				chèo.Hai ông đọc kinh phó linh hồn. Lý hình giơ gươm lên, chặt 
				ngang lưng hai ông như đã ghi trong án. Sau đó chúng chặt đầu 
				rồi bổ làm tư và liệng xác hai ông xuống biển.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ðược tin hai ông Thể và Huy bị xử tử, ông Ðạt ở nhà thu xếp công 
				việc của nhà. Ông đọc kinh nguyện ngắm để dọn mình chết. Mấy 
				ngày sau, lính hàng đội từ tỉnh xuống báo với ông Ðạt rằng: <em>
				&quot;Quan lãnh binh và tỉnh sai tôi xuống báo cho anh biết đã có chỉ 
				bộ ra truyền bắt và xử tử anh.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Khi ông Ðạt nghe tin ấy thì vui mừng lắm. Lúc đó vào quãng cuối 
				tháng 6 năm 1839. Ông Ðạt liền đi báo cho anh em và từ giã mọi 
				người. Ông cũng xin mọi người cầu nguyện cho ông. Lúc đó, vợ ông 
				muốn khuyên chồng bỏ ý định chết vì đạo. Bà khóc lóc than vãn, 
				rồi dẫn con gái đến xin ông: <em>&quot;Ông bỏ tôi cùng con bé này 
				sao?&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ông Ðạt rất cảm động, nhưng ông nói với bà nếu ông quý bà và con 
				gái hơn Chúa thì chẳng xứng đáng với Chúa Giêsu Kitô. Thiên Chúa 
				sẽ lo liệu cho bà và con gái. Sau cùng ông bảo vợ: &quot;Một chốc nữa 
				bà đem con bé sang nhà Nhiêu Quang cho tôi gặp nó một chút nữa.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Rồi ông đi chịu lễ lần sau hết. Khi chịu lễ cùng cám ơn, ông yên 
				ủi vợ con, cùng giã từ anh em, rồi theo lính ra đình làng. Tại 
				đình làng, quan viên làng và nhiều người dân đã tụ họp đông đủ 
				sẵn sàng để từ giã ông. Ông lạy quan viên, xin các ông ấy cầu 
				nguyện cho mình. Lúc bấy giờ cũng có người nói rằng: &quot;Anh Ðạt bỏ 
				vợ con, bỏ quê quán.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ông thưa lại rằng: <em>&quot;Vợ con và quê nhà tôi để mặc thánh ý Ðức 
				Chúa Trời, tôi xin làng thương tôi cùng vợ con tôi.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trên đường đi về tỉnh, ông Ðạt chỉ đọc kinh lần hạt chuẩn bị 
				chịu chết. Phần bà vợ ông, vẫn theo ông tới Nam Ðịnh, vừa đi vừa 
				khóc. Ông đuổi bà về và nói với bà:<em> &quot;Nếu bà đến đây mà cứ 
				khóc thì đừng đến thăm tôi nữa.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tại tỉnh, quan lớn bảo ông Ðạt rằng:<em> &quot;Thằng Huy, thằng Thể 
				đã phải bổ làm tư, rồi bỏ xuống bể cho tôm cá ăn, mày có quá 
				khóa không?&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ông Ðạt đáp lại: <em>&quot;Hai anh con đã được phúc trọng, xin quan 
				lớn bổ con làm tám. Còn sự quá khóa thì con không chịu.&quot;</em></p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan thượng nghe xong liền truyền đóng gông, rồi giam ông trong 
				ngục. Ðến ngày 18 tháng 7 năm 1839, có lệnh vua truyền xử giảo 
				ông Ðạt. Quan lại khuyên nhủ lần nữa nhưng ông không chịu. Thế 
				là quan truyền viết thẻ: &quot;Tên Ðinh Ðạt thuộc Xuân Tràng phủ, 
				Giao Thủy huyện, Phú Nhai xã, là tên phạm, cố chấp theo Gia Tô 
				tả đạo, nay cũng chẳng chịu bỏ đạo ấy, bất tuân quốc pháp, lập 
				tức đem đi xử giảo.&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Viết thẻ xong quan truyền giao ông Ðạt cho quan giám sát đem đi 
				xử giảo. Trên đường đi ông chỉ đọc kinh cầu nguyện. Khi đến nơi 
				xử, đã sẵn có cái chiếu cạp ở đấy, ông Ðạt quỳ trên chiếu vẫn cứ 
				tiếp tục đọc kinh mãi. Một lúc, quan truyền tháo gông, bắt ông 
				nằm xuống chiếu, rồi quân lính buộc dây vào cổ ông. Khi đã sẵn 
				sàng, quan giám sát ra hiệu lệnh. Lý hình kéo dây cho đến khi 
				ông tắt thở.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Làng Phú Nhai lấy xác ông và táng trọng thể tại nhà anh cả ông 
				Ðạt. Sau hài cốt của ngài được táng tại nhà thờ Phú Nhai.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Augustinô Phan Viết Huy cùng Nicôla Bùi Ðức Thể và Ðaminh Ðinh 
				Ðạt được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII phong Chân Phước ngày 
				27-5-1900. Ðến ngày 19-6-1988 các Ngài được Ðức Thánh Cha Gioan 
				Phaolô II tôn vinh lên bậc Hiển Thánh. </p>
				<p align="right" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">(St)</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<font face="Arial" size="3"><strong>Trường thi tử đạo</strong>
				</font></h2>
				<div class="post">
					<div class="posttext">
						<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
						Thánh Ðinh Ðạt sinh năm Quý Hợi (1803)<br>
						Tại Phú Nhai (Nam Ðinh) quân đội nhà vua<br>
						Kiên gan chẳng phải tay vừa<br>
						Hơn năm trăm lính gạn lừa còn ba<br>
						<br>
						Là trai tráng quốc gia phục vụ<br>
						Tự nguyện vào đội ngũ quân nhân<br>
						Mười hai năm chốn hải tần<br>
						Ðóng quân trấn giữ mười phân vẹn mười<br>
						<br>
						Ðinh Ðạt vốn là người ngoan đạo<br>
						Ðược gia đình đào tạo còn thơ<br>
						Sáng chiều kinh nguyện phụng thờ<br>
						Tôn sùng thánh giá đón chờ đời sau<br>
						<br>
						Trong quân ngũ rũ nhau kinh kệ<br>
						Chúa Nhật cùng xem lễ cho đông<br>
						Ðất bằng bỗng nổi cơn dông<br>
						Ban lệnh bỏ đạo nếu không, ở tù<br>
						<br>
						Thánh Ðinh Ðạt mùa thu năm ấy<br>
						Chúa soi đường giữ lấy đức tin<br>
						Quyết tâm theo Chúa hướng nhìn<br>
						Dù bao tra tấn bạc nghìn cũng không<br>
						<br>
						Quan Tổng trấn cố công dụ dỗ<br>
						Phần ông thì cứng cổ không nghe<br>
						Hết vàng bạc đến răn đe<br>
						Nhờ ơn Ðức Mẹ chở che hộ phù<br>
						<br>
						Quan bày kế công phu ngoan cố<br>
						Bắt người thân một số vào khuyên<br>
						Sao cho bỏ đạo mới yên<br>
						Bằng không sẽ chịu oan khiên khó lường<br>
						<br>
						Ông Ðinh Ðạt thấy thương tình quá<br>
						Chỉ vì ta tội vạ đến người<br>
						Nói rằng thôi thế thì thôi<br>
						Cũng liều nghe họ bạc thời lãnh ngay<br>
						<br>
						Chúa thương ông mấy ngày sau đó<br>
						Tự hổ ngươi nhăn nhó xót xa<br>
						Chúa nhân từ sinh ra ta<br>
						Mà ta bỏ Chúa thực là hổ ngươi<br>
						<br>
						Trên thập giá ơn Người cứu độ<br>
						Vì muốn ta giác ngộ trầm luân<br>
						Giờ đây ta quyết liều thân<br>
						Làm đơn chịu chết bạc khuân trả ngài<br>
						<br>
						Vợ ông cũng rỉ tai đừng chết<br>
						Ông nói rằng rất tiếc bà ơi<br>
						Tôi phải vâng lệnh Chúa Trời<br>
						Có làm chi cái cuộc đời chóng qua<br>
						<br>
						Phúc tử đạo xảy ra Kỷ Hợi (1839)<br>
						Là niềm người mong đợi từ lâu<br>
						Cộng đồng dân Chúa nguyện cầu<br>
						Canh Tý (1900) phong thánh, ngài chầu Thiên nhan.</div>
				</div>
				<div class="post">
					<div class="posttext">
						<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
						<br>
						Ðaminh Ðạt sinh năm Quý Hợi (1803)<br>
						Năm Ất Mão (1795) rửa tội Viết Huy<br>
						Còn Bùi Ðức Thể ấy thì<br>
						Sinh năm Nhâm Tý (1792) khoái đi lính mà<br>
						<br>
						Từ Lạc Thuỷ trẩy ra Nam Ðịnh<br>
						Ba trai làng nhất định tòng quân<br>
						Cũng người Công giáo chuyên cần<br>
						Khi vào quân ngũ ở gần bên nhau<br>
						<br>
						Ông Tổng Ðốc nghe đâu bị triệu<br>
						Về kinh đô báo hiệu Quang Khanh<br>
						Tội ông tiêu cực thi hành<br>
						Lệnh Vua khiển trách đích danh hạ thần<br>
						<br>
						Ðể chuộc tội ông cần thanh lọc<br>
						Trước hàng quân, ông đọc lệnh Vua<br>
						Mở ngay chiến dịch quét lùa<br>
						Lùng bắt đạo trưởng cho Vua vừa lòng<br>
						<br>
						Tính kế hoạch ngoài trong chuẩn bị<br>
						Mời quân nhân tu sĩ tiệc tùng<br>
						Binh sĩ Công giáo tập trung<br>
						Hoàn thành thanh lọc truy lùng vào dinh<br>
						<br>
						Trong bữa tiệc điều binh ông hứa<br>
						Ban thưởng khen những đứa trung thành<br>
						Với Hoàng Thượng được nêu danh<br>
						Buông lời dọa nạt chấp hành phải tuân<br>
						<br>
						Ngày hôm ấy trọn phần Công giáo<br>
						Khoảng năm trăm theo đạo Kitô<br>
						Mời vào dinh xét ý đồ<br>
						Cho xem hình phạt bước vô thấy liền<br>
						<br>
						Ðầy dụng cụ xích xiềng kìm kẹp<br>
						Ðây kỷ cương sắt thép nhà vua<br>
						Quyết ra tay chẳng chịu thua<br>
						Ai không quá khoá là mua nhục hình<br>
						<br>
						Quá buồn tủi thực tình đau khổ<br>
						Gần năm trăm xấu hổ bước qua<br>
						Số còn lại thật ít mà<br>
						Chỉ năm người dám đứng ra chối từ<br>
						<br>
						Là trụ cột bây giờ cương quyết<br>
						Là tôi trung tâm huyết tới cùng<br>
						Nhà Vua tăng viện trong vùng <br>
						Sai thêm Tướng Ðức binh hùng Thành Nam<br>
						<br>
						Quang Khanh bị cách làm không đạt<br>
						Lê Văn Ðức đề bạt lên thay<br>
						Ðức Cha Minh xử tử ngay<br>
						Và luôn Thầy Chiểu một ngày đầu rơi<br>
						<br>
						Năm chứng nhân đến nơi cho khiếp<br>
						Nhưng cả năm đặc biệt hân hoan<br>
						Quan tức giận tống nhà giam<br>
						Tuần sau tướng Ðức lệnh ban giải tòa<br>
						<br>
						Ông ngon ngọt nói ra dụ dỗ<br>
						Không thành công thịnh nộ kéo khiêng<br>
						Lê lên tượng Chúa linh thiêng<br>
						Roi đòn túi bụi liên miên từng người<br>
						<br>
						Gần tới đích hai người bỏ cuộc<br>
						Còn lại ba gân guốc gan lỳ<br>
						Một lòng một dạ khắc ghi<br>
						Ông Huy, Thể, Ðạt quyết đi tới cùng<br>
						<br>
						Ông Huy trước ung dung vợ nhỏ<br>
						Nay trốn về quyết bỏ trình Cha<br>
						Xin ngài ban phép giải hoà<br>
						Làm xong ông lại xin ra ngồi tù<br>
						<br>
						Ông tướng Ðức doạ hù quỷ kế<br>
						Cứ mỗi ngày thân thể trăm roi<br>
						Tướng khuyên bỏ đạo đi coi<br>
						Ông Huy đạo Chúa sáng soi trần đời<br>
						<br>
						Quan thét lớn Vua người nghiêm cấm<br>
						Không đổi thay thưa bẩm lôi thôi<br>
						Ông Huy chủng viện học rồi<br>
						Chứng minh mạch lạc liên hồi tỏ thông<br>
						<br>
						Quan nhận thấy là ông đuối lý<br>
						Cho đóng gông phơi kỹ nắng mưa<br>
						Ðông, Nam hai cửa cho đưa<br>
						Ba tuần ở đó xin thưa nhục hình<br>
						<br>
						Dọa nạt vợ, gia đình con cái<br>
						Cùng thân nhân trai gái bạn bè<br>
						Ba ông nhất mực chẳng nghe<br>
						Tập trung kỳ mục răn đe đánh đòn<br>
						<br>
						Ngay trước mặt người con trung tín<br>
						Bô lão làng thâm tím vì mình<br>
						Ðã ngã lòng phạm Thánh Linh<br>
						Cả ba bỏ cuộc triều đình mừng reo<br>
						<br>
						Rồi sau đó lòng đau áy náy<br>
						Cả ba ông hết thảy hồi tâm<br>
						Tìm Cha xưng tội lỗi lầm<br>
						Tới dinh Thống Ðốc quyết tâm trình bày<br>
						<br>
						Bẩm quan lớn nơi đây nguyện vọng<br>
						Ðạo Chúa Trời tôn trọng trên đời<br>
						Chúng tôi quá khóa nghe lời<br>
						Mang tiền trả lại đạo Trời tuyên xưng<br>
						<br>
						Quan nổi nóng bừng bừng mắng chửi<br>
						Ðuổi khỏi dinh cho gửi trận đòn<br>
						Về nhà sống với vợ con<br>
						Số tiền hương chức trao tròn thưởng công<br>
						<br>
						Trở về nhà, ba ông cầu nguyện<br>
						Vào kinh đô thực hiện đức tin<br>
						Hai Cha hội ý kiếm tìm<br>
						Lãnh xin hướng dẫn Trái Tim nhân lành<br>
						<br>
						Cha Chính Lân nổi danh đồng ý <br>
						Ba anh em quyết chí tâu Vua<br>
						Hai anh Huy, Thể đơn đưa<br>
						Anh Ðạt công tác nên chưa lên đàng<br>
						<br>
						Cha Tuyên nhắc bảo ban trông cậy<br>
						Xin Chúa ban, chớ cậy sức mình<br>
						Hai mươi ngày mới tới kinh<br>
						Tới Tòa Tam Pháp Triều Ðình sớ tâu<br>
						<br>
						Quan gìm lại có đâu dâng sớ<br>
						Tòa Tam Pháp vô cớ làm ngơ<br>
						Hai ông dài cổ đợi chờ<br>
						Thấy Vua ngự giá tay giơ tấu trình<br>
						<br>
						Thật táo bạo thân mình đồ lính<br>
						Chặn kiệu rồng cung kính dâng Vua<br>
						Ngài đọc xong truyền bắt lùa<br>
						Nhốt ngay vô ngục chẳng thưa bẩm gì<br>
						<br>
						Tâu Ðức Vua quan thì ép buộc (Nội dung của Sớ )<br>
						Các chúng thần đạo thuộc Giatô<br>
						Tôn thờ Thiên Chúa tung hô<br>
						Tấn tra miễn cưỡng, buộc vô tuân hành<br>
						<br>
						Ông tướng Ðức Nam Thành về Huế<br>
						Phan Viết Huy, Bùi Thể gan lỳ<br>
						Tại sao Ðinh Ðạt chẳng đi<br>
						Vì anh bận việc cũng thì đồng tâm<br>
						<br>
						Vua truyền lệnh hai mâm lựa chọn<br>
						Nếu bỏ Chúa, lấy trọn mười vàng<br>
						Bên kia cây kiếm sáng choang<br>
						Hai ông bình tĩnh bước sang khổ hình<br>
						<br>
						Rồi sau đó quân binh án lệnh<br>
						Ðưa hai anh ra tận Thuận An<br>
						Phanh thây xẻ xác dã man<br>
						Ném luôn xuống biển cho đàn cá ăn<br>
						<br>
						Còn anh Ðạt khó khăn Bảy Mẫu<br>
						Ông quỳ trên chiếu khấn nguyện cầu<br>
						Nằm gục thầm thĩ hồi lâu<br>
						Lý hình tròng cổ hai đầu xiết giây<br>
						<br>
						Phúc tử đạo nơi đây phần thưởng<br>
						Cả ba ông được hưởng phúc vinh<br>
						Thi hài an táng quê mình<br>
						Về sau cải táng linh đình Phú Nhai<br>
						<br>
						Năm tử đạo ba ngài Kỷ Hợi (1839)<br>
						Bỏ thế gian hưởng lợi Nước Trời<br>
						Lệnh phong thánh được ban ra<br>
						Mùa thu Canh Tý (1900) quả là xứng danh<br>
						<br>
						<b>Lời bất hủ:</b> Quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh Nam 
						Ðịnh nói với ông Ðạt: &quot;Hai bạn của ngươi (tức thánh Thể 
						và Huy) vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà, nên đã bị 
						chém làm tư quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì 
						chối bỏ thứ đạo đó đi để về với vợ con&quot;. Ông Ðạt thẳng 
						thắn đáp: &quot;Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức tin, nay 
						tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều hình khổ khác nữa. Hai bạn 
						tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám cũng 
						được&quot;.&nbsp;</div>
				</div>
				<!-- JOM COMMENT START -->
<!-- JOM COMMENT START -->
				</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager