File "Huong_LorensoNguyenVan.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Huong_LorensoNguyenVan.htm
File size: 31.15 KiB (31900 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng (1802-1856) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng 
		(1802-1856) </b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/LaurensoNguyenVanHuong.jpg" width="200" height="281"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng, linh mục; sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, Hà 
				Nội; tử vì đạo ngày 27 tháng 4, 1856, gần Ninh-Bình. Thánh Hưởng 
				truyền giáo nhiều năm trước khi bị bắt, bị giam tù và bị xử trảm 
				(chém đầu) dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 
				11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 27/04.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Là một chủ chăn 
				tốt lành, Cha Hưởng quan tâm nhất việc giảng giải như lời ngài 
				nói với giáo dân: &quot;Nếu anh chị em có nhiều việc cần phải về sớm 
				thì ít nhất phải nghe giảng đã, vì nếu không anh chị em sẽ không 
				biết đàng biết cách giữ đạo&quot;. Ðể dọn bài giảng, cha đọc nhiều 
				sách, mỗi tối thức khuya để dọn, vì thế khi giảng dậy cha trình 
				bầy rất rõ ràng, sốt sắng, có thứ tự mạch lạc giúp người nghe 
				nhớ lâu. Nhiều người nghe cảm động chảy nước mắt. Lòng đạo đức 
				nhiệt thành cứu vớt các linh hồn của cha đã đáng được Chúa chọn 
				làm của lễ đổ máu mình vì đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Theo chứng từ của người cháu gọi ngài là chú, tên Anna Xuân, thì 
				ngài là người con trai thứ bốn. Hồi còn nhỏ cha mẹ ngài gọi tên 
				là Bơ, khi vào nhà Ðức Chúa Trời thì đổi tên là Tuấn và khi học 
				lý đoán đổi tên là Hưởng, sau làm linh mục có đổi tên khác nữa 
				nhưng người ta cứ quen gọi là Hưởng.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Hưởng sinh năm 1802 tại Kẻ Sải, xã Tụy Hiền, tổng Trinh 
				Khiết, huyện Hoài Yên, tỉnh Hà Nội. Cha mất sớm, mẹ lại nghèo 
				nên cậu Hưởng phải đi ở chăn trâu cho người chú tên Thang. Ông 
				chú muốn nhận làm con vì nhà không con, song cậu Hưởng nhất mực 
				đòi đi tu nên đã bỏ chú đến ở với Cha Duyệt lúc 12 tuổi. Sau ba 
				năm học chữ Nho cậu được gửi về nhà tràng Kẻ Vĩnh học Latinh. 
				Năm 1834, nhà trường phải giải tán vì vua Minh Mệnh bắt đạo dữ 
				tợn, chú Hưởng về làm thuốc bán rong và ở với ông chú. Trong 
				thời gian ba năm ở nhà này, chú Hưởng vẫn một lòng tu trì, dù 
				ông chú thúc ép lập gia đình và hứa cho hết cả tài sản, ông tổng 
				Phan cũng hứa kiếm vợ cho chú và xếp việc cho làm trong xã.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Khi cơn bắt đạo tạm lắng dịu, đức cha mở chủng viện tại ba nơi 
				là Kẻ Lường, Kẻ Doãn và Bàn Phết, chú Hưởng liền trở về trường ở 
				Kẻ Lường học tiếp, rồi sau về Kẻ Vĩnh. Mãn tràng, chú Hưởng được 
				lĩnh thị làm thầy giảng lần lượt giúp Cha Tuấn ở Kim Sơn, rồi 
				giúp Cha Duyệt tại Bạch Liên. Thầy Hưởng luôn tỏ ra nết na, chăm 
				chỉ làm việc và đơn sơ trong cách ăn mặc. Trong tám năm làm kẻ 
				giảng, không có tiếng xì xầm chê trách thầy mà tiếng khen phục 
				thầy đạo đức thì nhiều. Thầy được bề trên gọi về học lý đoán, 
				mặc dù trí khôn không thông minh nhưng lại có ý chí quyết đoán 
				và chín chắn.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Hưởng thụ phong linh mục ngày nào không có sách nào kể, chỉ 
				biết sau khi làm linh mục, Cha Hưởng tháp tùng đức cha đi giảng 
				ơn toàn xá năm 1851 tại Kẻ Ðầm, họ Quán Khoái và mấy họ lẻ thuộc 
				xứ Kẻ Non. Sau đó đức cha sai ngài về giúp Cha Tường ở xứ Giang 
				Sơn hai năm rồi vào giảng đạo ở Lạc Thổ, một xứ người Mường, khí 
				độc. Sau bốn tháng, cha mắc bệnh sốt rét phải về điều trị trong 
				kinh đô ba bốn tháng cho khỏe rồi lại trở lại nhiệm sở. Trong số 
				những người đi theo cha có một thầy giảng và một chú bị bệnh sốt 
				rét đến thiệt mạng. Sau bốn tháng, Cha Hưởng ra thăm đức cha, 
				đức cha đổi ngài đi giúp Cha Lân ở Yên Lộc hai năm, và sau đó 
				đến giúp Cha Chất ở Bạch Bát nơi ngài đã làm kẻ giảng khi trước.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Phêrô Vũ Văn Ngọc, nghĩa tử của ngài, làm chứng rằng: &quot;Cha 
				Hưởng rất mực thước và sốt sắng làm việc bổn phận. Mỗi sáng ngài 
				nguyện ngắm và dọn mình làm lễ lâu cả giờ. Khi làm lễ thì nghiêm 
				trang sốt sắng. Sau lễ ngài còn quì gối cám ơn lâu. Cha rất 
				siêng năng giải tội, ai đến lúc nào thì giúp họ lãnh nhận bí 
				tích lúc ấy, có khi giải tội cho đến nửa đêm cho tới khi không 
				còn người nào nữa mới thôi. Có ai mời đi kẻ liệt là ngài bỏ giở 
				việc đang làm để đi ngay không kể nắng mưa hay giữa đêm&quot;. Khi 
				coi sóc các chị dòng Mến Thánh Giá ở Bạch Bát, cha hay khuyên 
				bảo họ: &quot;Chị em đã dâng mình cho Ðức Chúa Trời trong nhà dòng 
				thì đừng để lòng trí nghĩ đến những sự thế gian, phải siêng năng 
				kêu cầu với Ðức Mẹ cho được lòng khiêm nhường nhịn nhục, hòa 
				thuận yêu thương nhau và được ơn trung thành ở trong nhà dòng 
				cho đến trọn đời&quot;. Ngoài ra Cha Hưởng có lòng ước ao được chịu 
				tử đạo, trong phòng treo hình Ðức Cha Borie Cao chịu tử đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tháng 11-1855 vào mùa Vọng, Cha Chất và Cha Hưởng đi cấm phòng. 
				Về sau này khi Cha Hưởng bị bắt, Cha Chất nói rằng: &quot;Khi người ở 
				họ Ðai Vương xuống rước đi kẻ liệt thì chúng tôi mới cấm phòng 
				được năm ngàỵ Tôi thấy ngài cấm phòng và xưng tội sốt sắng lạ 
				thường, cho nên khi được tin ngài bị bắt tôi nghĩ ngay rằng Ðức 
				Chúa Trời muốn cho ngài dọn mình chịu chết vì đạo, mới mở lòng 
				cho ngài cấm phòng sốt sắng như vậy&quot;. Cha Hưởng đang cấm phòng 
				nhưng có người mời đi kẻ liệt, tức tốc đi ngay không có thầy hay 
				chú nào đi theo. Cha đi bộ qua Quảng Nạp rồi tới Cầu Mễ để xuống 
				thuyền đi Ðại Vương. Cha và giáo dân chèo thuyền ngang làng Vân 
				Ru, Trà Tu thì gặp phó tổng Thùy đang đốc công xây cống. Một 
				người nhà thấy thuyền có mui thì nói ngay là thuyền của cụ đạo. 
				Ông phó tổng Thùy liền cho lính rượt theo để bắt hầu mong kiếm 
				tiền chuộc. Bị rượt theo gấp quá, Cha Hưởng bảo giáo dân ghé vào 
				bờ bên kia để trốn, nhưng vì sông cạn, lính lội xuống đuổi theo 
				và bắt trói cha với ba giáo dân. Chính phó tổng muốn ăn tiền nên 
				nhắn người báo tin cho giáo dân Bạch Bát biết cụ Hưởng bị bắt. 
				Phó tổng đòi 500 quan tiền, nhưng cha già mới liệu được có 300 
				cho người gánh lên trước, nhưng chẳng may tiếng đồn bắt được đạo 
				trưởng đã lên tới huyện nên phó tổng chẳng dám ăn tiền nữa. Ðêm 
				ấy Cha Hưởng phải đeo gông bằng gỗ lim rất nặng, rồi ba ngày sau 
				bị giải lên huyện Yên Mô. Quan huyện cũng chẳng dám ăn tiền hối 
				lộ nói rằng việc này là việc của triều đình không liên quan đến 
				mình rồi lại giải ngài lên tỉnh Ninh Bình. Cha Hưởng đã nhắn tin 
				đừng chạy tiền làm gì vì Chúa đã định rồi và ngài sẵn lòng chịu 
				chết vì đạo.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Theo lời tường thuật của chính ngài viết cho Ðức Cha Retord, thì 
				ở trên tỉnh ngài bị tra khảo cả thảy ba lần. Lần thứ nhất quan 
				án hỏi cha: &quot;Ông là thầy hay đạo trưởng, quê quán ở đâu?&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Tôi là đạo trưởng vào tu trong nhà Ðức Chúa Trời ngay từ tấm 
				bé, không còn nhớ tên làng sinh ra nữa, cũng chẳng biết thuộc 
				tỉnh nào&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Ngươi phải đạp ảnh chuộc tội để hưởng án nhẹ hơn&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Thưa quan lớn, tôi làm đạo trưởng, đi giảng đạo cho người khác, 
				làm sao tôi quá khóa được? Có khi nào con cái dám đạp lên đầu 
				cha mẹ? Tôi thờ phượng Thiên Chúa từ lâu rồi, tôi không thể quá 
				khóa, quan muốn chém hay làm gì thì làm&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan thấy không ép ngài quá khóa được thì bắt lính cầm đầu gông 
				mà khiêng qua. Thấy cha co chân lên, quan bắt thêm lính đến kéo 
				ghì chân xuống cho đụng vào ảnh. Cha Hưởng phân phô: &quot;Thưa quan, 
				đạo tôi là đạo tại tâm, dù quan lớn có ép tôi đạp tượng Chúa mà 
				tôi không thuận theo thì cũng chẳng có tội gì&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan án thôi không ép nữa nhưng bắt cha khai tên các nơi đã đi 
				và tên các cha trong tỉnh. Cha cúi đầu lặng thinh. Quan tức giận 
				la lối mắng nhiếc thậm tệ rồi truyền giam vào tù.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Hôm sau cả ba quan lớn, quan đầu tỉnh, quan án và quan lãnh binh 
				ngồi nghị án. Lần này quan tuần hỏi cha các hoạt động từ trước, 
				cha lần lượt kể sơ qua khi còn nhỏ, tới lúc làm đạo trưởng thì 
				ngài chỉ nói rằng có lệnh vua cấm đạo nên đi lang thang nơi này 
				nơi nọ làm thuốc cứu người cho tới khi bị bắt ở Trà Tu. Quan 
				truyền nọc ra đánh một trăm roi và bắt quá khóa. Thấy cha một 
				mực xưng đạo, quan dụ dỗ: &quot;Ông hãy quá khóa đi, tôi cho về coi 
				chùa Non Nước trong tỉnh&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Bẩm quan lớn, tôi không biết Ðức Phật thì coi chùa làm sao 
				được?&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Tại sao khi người ta ốm đau, các đạo trưởng đến khoét mắt đem 
				về làm thuốc cho người ta mến và theo đạo?&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Bẩm quan, điều ấy không đúng, bên Phật họ ghét đạo nên bỏ vạ 
				cho chúng tôi như vậy. Những người kẻ liệt thì cũng một nửa còn 
				sống, nếu khoét mắt thì họ mù làm sao còn xem được nữa. Vì khi 
				còn khỏe người ta hay dùng ngũ quan mà phạm tội nên khi ốm đau 
				chúng tôi đến xức dầu thánh nơi con mắt và chân tay để trừ tội 
				và ma quỉ chứ không làm sự gì khác&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Sau đó quan tuần bắt cha đọc kinh. Sau khi nghe đọc kinh mười 
				điều răn, quan tuần khen là đạo dậy những điều thậm phải, nhưng 
				bên đạo bất kính tổ tiên, đó là một tội rất nặng, gông đang đeo 
				có nặng cũng chưa tương xứng với tội bất kính tổ tiên.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- 
				&quot;Thưa quan, bên đạo chúng tôi không kính cha mẹ cũng là một điều 
				bỏ vạ. Người lương lấy cơm, cá thịt mà cúng ông bà cha mẹ đã qua 
				đời, còn chúng tôi không dùng những thức ăn mà cúng vì đã biết 
				ông bà cha mẹ chết rồi không ăn được nữa, không được hưởng nhờ 
				gì các thức ăn đó, nhưng chúng tôi nhớ đến cha mẹ ông bà sáng 
				tối hàng ngày cầu xin cho các ngài được hạnh phúc trên thiên 
				đàng, hơn nữa chúng tôi tuân giữ các lời cha mẹ đã răn dậy để 
				giữ tiếng tốt cho các ngài&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan tuần nghe vậy thì im lặng không bắt bẻ được nữa, truyền 
				mang ngài về trại giam.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Hưởng còn bị tra khảo lần thứ ba với những câu hỏi như lần 
				thứ nhất và bắt ép quá khóa. Cha Hưởng nhất mực không chịu làm 
				theo và cương quyết thà chịu chết hơn chối đạo. Lần này các quan 
				giận truyền nọc ra đánh bốn chục roi, cứ sau mười roi quan lại 
				hỏi xem có chối đạo không. Trong khi đó thợ lại đốt lò rèn như 
				sắp sửa tra khảo bằng kìm nung đỏ. Cha Hưởng hết lòng cầu xin 
				Chúa Giêsu và Ðức Mẹ giúp sức. Nhưng khi đánh đủ 40 roi rồi, các 
				quan truyền tháo cọc và viết án gửi về kinh. Các quan đã ăn tiền 
				đút để làm án nhẹ là đạo mục bất khẳng quá khóa, luận phải phát 
				lưu. Khi đưa cho Cha Hưởng ký, ngài đọc thấy các quan khép án là 
				đạo mục thì không chịu: &quot;Tôi là đạo trưởng và có khép án đúng 
				như vậy tôi mới ký&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quan còn viết đi viết lại ba lần với án đạo mục, nhưng Cha Hưởng 
				nói: &quot;Thưa quan lớn, quan thương muốn chữa cho tôi khỏi chết thì 
				tôi đội ơn nhưng cho dù quan có cứu tôi khỏi chết thì cũng không 
				cứu tôi khỏi đi đầy, cho nên tôi thà chết còn hơn phải sống khốn 
				nạn ở chốn lưu đầy. Vậy xin quan thương mà khép án đạo trưởng 
				bất khẳng xuất giáo cho&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Thế là các quan buộc lòng khép tội Cha Hưởng là &quot;đạo trưởng bất 
				tường quán chỉ, bất khẳng quá khóa, luận trảm quyết&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Trong tù, Cha Hưởng viết thơ thăm Ðức Cha Retord, thuật lại các 
				chi tiết các lần tra khảo và xin đức cha đừng chạy tiền chuộc, 
				chỉ xin đức cha cầu nguyện cho được chịu khó đến cùng và được 
				thắng trận toàn công. Trên tỉnh, cha được đổi gông khác nhẹ hơn 
				và chỉ bị giam ở trại lá chứ không bị giam trong ngục với các tù 
				nhân. Thường xuyên có Thầy Bá, Thầy Hiền thăm nuôi. Ông đội canh 
				là người vốn hiền lành nên cũng đã nói với lính không làm khổ 
				cha và để giáo dân ra vào dễ dàng. Thầy Thuần có hỏi xem án cha 
				chịu như thế nào mà cha vui mừng hớn hở. Cha cho biết là sẽ phải 
				chết nhưng không biết cách nào và khi nào, rồi khuyên các thầy 
				chịu khó bền lòng giữ đạo và giúp đỡ ngài, sau khi chết được lên 
				thiên đàng ngài sẽ cầu nguyện với Chúa trả công cho. Dân chúng 
				đến thăm thấy ngài mang gông thì khóc lóc, ngài khuyên họ: &quot;Cha 
				mang gông và phải tù vì đạo thánh là phúc trọng phải vui mừng, 
				chúng con ra sức giữ đạo theo chân Chúa Giêsu để về sau cha con 
				lại được gặp nhau trên thiên đàng&quot;. Hoặc cha nói: &quot;Gông cha mang 
				đây thật là hoa thơm tho Ðức Chúa Trời đã ban, các con phải cầu 
				xin cho cha được chịu khó cho đến cùng&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha bắt các thầy và các chị dòng mỗi lần mang nhiều đồ ăn để 
				ngài chia sẻ cho lính hay các bạn tù và những người nghèo đến 
				xin ăn. Có một lần cha còn bắt may quần áo để phát cho các bạn 
				tù, và xin tiền riêng để làm phúc cho kẻ khó. Ngoài ra cha sốt 
				sắng đọc kinh sáng tối và mỗi khi có giờ rảnh. Cha được Cha 
				Khoan đến giải tội và mang Mình Thánh Chúa. Vui mừng được gặp 
				linh mục nhưng cha sợ xảy ra chuyện khó khăn nên giục Cha Khoan 
				về ngay sau khi đã được rước Mình Thánh. Như vậy tất cả là ba 
				lần.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ngày 25-4, án triều đình về tới Ninh Bình. Bản án viết: &quot;Nguyễn 
				Văn Hưởng, 54 tuổi, người tỉnh Hà Nội, nhưng không rõ quê quán, 
				đã theo tà đạo Giêsu và xưng nhận là đạo trưởng. Bị tra khảo vẫn 
				còn cố chấp không chịu bỏ đạo và đạp ảnh vì thế phải trảm quyết 
				tức khắc&quot;. Ông đội canh liền báo cho cha và các người thăm nuôi. 
				Cha Hưởng ăn chay suốt ngày để chuẩn bị. Tới ngày xử, Cha Khoan 
				còn đến đưa Mình Thánh và giải tội lần sau hết. Sáng hôm ấy ông 
				đội canh dẫn vợ con vào tù chào Cha Hưởng và nói những lời rất 
				cảm động: &quot;Mặc dù tôi không theo đạo nhưng tôi biết rõ các linh 
				mục vô tội, ở Nghệ An tôi cũng đã phải canh một linh mục. Tôi 
				không dám làm khổ nhưng bây giờ phép triều đình đem cụ đi xử thì 
				xin khi về thiên đàng nhớ đến chúng tôi với&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Cha Hưởng từ giã ông cai đội như sau: &quot;Tôi rất biết ơn lòng tốt 
				của ông, phần tôi, tôi đi về với Chúa, ông và gia đình ở lại 
				bằng an&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Quay sang các bạn tù cha nói tiếp: &quot;Giã biệt các anh em, chúng 
				ta đã có dịp chia sẻ và hàn huyên trong nhiều ngày, bây giờ theo 
				lệnh vua, tôi đến nơi hành quyết nhưng anh em nhớ cho kỹ tôi bị 
				chém chỉ vì tôi đã giảng đạo Chúa Giêsu mà thôi&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Im 
				lặng một lúc, ngài nói tiếp: &quot;Dù anh em phải hành hạ thế nào, 
				anh em hãy cầu nguyện cho chính quyền và bây giờ xin anh em ở 
				thinh lặng để tôi có thể cầu nguyện dọn mình&quot;.</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ðến trưa quan giám sát dẫn năm chục lính đến trại lá nơi giam 
				cha để đem đi xử, quan cho phép giáo dân thuê người khiêng võng 
				đưa cha ra tới nơi xử ở cánh đồng gần núi Cánh Riều. Theo sau có 
				đông người thì thầm với nhau: &quot;Tại sao người tốt lành, không can 
				tội gì lại bị vua quan kết án tử hình như vậy?&quot;</p>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Tới nơi cha quì trên chiếu do ông Phu, sãi nhà thờ Bạch Bát, 
				trải xuống. Khi ngài cầu nguyện xong, quan truyền lệnh lý hình 
				nghe chiêng thì chém. Hôm ấy là ngày 27-4-1856. Sau khi chém 
				rồi, dân chúng lương giáo ùa vào thấm máu nhưng bị lính đánh đập 
				rất ngặt. Thầy Bá được quan cho phép nhận xác để mang về an táng 
				tại Kẻ Vĩnh theo lệnh của đức cha. Tới đêm, thuyền chở xác mới 
				dám vào Vĩnh Trị. Tại đây Cha Tịnh và các thầy nhà trường mặc áo 
				rước xác ngài đưa vào nhà thờ Thánh Phêrô rồi đóng cửa không cho 
				giáo dân vào, vì sợ gây xôn xao. Sáng hôm sau Cha Tịnh mở quan 
				tài cho người nhà xem mặt rồi làm lễ an táng trong gian thứ ba, 
				dưới mộ của cố Hương ở gian thứ hai.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><i>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">(vncatholic.org)</font></strong></i></p>
				<h2 style="margin-left: 0; margin-right: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường Thi Tử Đạo</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Linh mục Hưởng quê 
				hương Kẻ Sải<br>
				Năm Nhâm Tuất (1802) sinh tại Thăng Long<br>
				Gia đình nghèo sống long đong<br>
				Nay đây mai đó quanh vòng chăn trâu<br>
				<br>
				Cho ông chủ nghe đâu ngoại đạo<br>
				Tên là Thang khuyên bảo dưỡng nuôi<br>
				Ông quý mến thật êm xuôi<br>
				Như là con ruột, khôn nguôi học hành<br>
				<br>
				Cậu Hưởng muốn tuổi xanh trọn vẹn<br>
				Quyết dâng mình, hứa hẹn Chúa trên<br>
				Vào Cha Duyệt Xứ Sơn Miêng<br>
				Ðỡ đầu giúp đỡ ơn riêng hộ phù<br>
				<br>
				Ở nhà xứ ba thu học tập<br>
				Ðược gởi đi gia nhập chủng sinh<br>
				Nhà tràng Vĩnh Trị dâng mình<br>
				Sau bị giải tán rối tinh về làng<br>
				<br>
				Cậu làm thuốc lang thang bán dạo<br>
				Sống qua ngày học đạo hiểu thêm<br>
				Có ông Chú nói cậu nên<br>
				Gia đình thành lập nhà bên ông nhường<br>
				<br>
				Một cai tổng cũng thương giúp cậu<br>
				Có họ hàng hứa tậu ruộng nương<br>
				Vợ con, nhà cửa thân thương<br>
				Cậu đều từ chối, theo đường chủng sinh<br>
				<br>
				Ông Chú giận, bực mình đã đuổi<br>
				Cậu trở về đúng buổi mở tràng<br>
				Ðời tu rộng mở thênh thang<br>
				Ðược phong Thầy Giảng lên đàng giảng rao<br>
				<br>
				Kim Sơn, Bạch Bát bao năm tháng<br>
				Thầy khiêm nhu xứng đáng Tông đồ<br>
				Sau về thần học tiến vô<br>
				Thụ phong Linh Mục tiền hô rao truyền<br>
				<br>
				Ði phục vụ khắp miền giáo xứ<br>
				Ðược bề trên cắt cử bài sai<br>
				Khắp nơi giáo hữu mến Ngài<br>
				Siêng năng tận tụy lâu dài bệnh nhân<br>
				<br>
				Có lần nọ Cha cần đò chở<br>
				Thuyền Cha đang đi ở giữa sông<br>
				Tổng Tùy bệ hạ rất đông<br>
				Rượt theo đuổi bắt Cha không sợ phiền<br>
				<br>
				Bảo người lái cập liền vô bãi<br>
				Rồi lái đi xa mãi xuôi dòng<br>
				Cha đi rảo bộ thong dong<br>
				Nép mình tự nguyện vào vòng tội nhân<br>
				<br>
				Cha về huyện tinh thần sảng khoái<br>
				Từ Yên Mô lại giải Ninh Bình<br>
				Ông quan tỉnh rất chân tình<br>
				Nếu Cha quá khóa thì mình giúp ngay<br>
				<br>
				Ðến trụ trì Chùa này Non Nước<br>
				Cha đáp ngay sao được thưa quan<br>
				Làm con hiếu thảo vững vàng<br>
				Ðạp đầu cha mẹ thuộc hàng bất trung<br>
				<br>
				Thưa quan tỉnh đâu cùng đạo Phật<br>
				Sao ở Chùa thành thật cảm ơn<br>
				Quan trên chớ nghĩ giản đơn<br>
				Mười điều Chúa dạy hồng ân thế trần<br>
				<br>
				Quan muốn biết xin cần học hỏi<br>
				Ðồn lạc sai chớ nói giỡn đùa<br>
				Tổ tiên kính nhớ người xưa<br>
				nguyện cầu xin lễ đâu ưa đốt vàng<br>
				<br>
				Các giáo hữu lên quan lo chuộc<br>
				Nhận bạc rồi nên buộc giấu che<br>
				Cha Hưởng nhất quyết không nghe<br>
				Viết thư Giám Mục con e chuộc tiền<br>
				<br>
				Mạng sống con ưu tiên dâng hiến<br>
				Là chứng nhân bánh miến rượu nho<br>
				Giêsu xin Chúa ban cho<br>
				Hồng ân tử đạo đầy no phúc lành<br>
				<br>
				Cha Hưởng đợi lính canh dẫn giải<br>
				Ra pháp trường hăng hái chứng nhân<br>
				Lý hình đã tiến lại gần<br>
				Sau hồi chiêng trống tiếp phần đầu rơi<br>
				<br>
				Giáo dân đón rước nơi an táng<br>
				Về ngay làng buổi sáng trong ngày<br>
				Quê hương Vĩnh Trị xưa nay<br>
				Chứng nhân tử đạo chốn này rất đông<br>
				<br>
				Là linh mục quyết không lùi bước<br>
				Năm Bính Thìn (1856) cha được hồng ân<br>
				Tử vì đạo chẳng tiếc thân<br>
				Suy tôn Kỷ Dậu (1909) xa gần mến yêu<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ: </b>Cha Hưởng trả lời quan lớn: &quot;Bẩm quan lớn có 
				bao giờ con cái dám đạp lên đầu cha mẹ mình chăng?&quot;. Có lần quan 
				dỗ dành: &quot;Nếu ông đạp lên Thánh giá, ta sẽ cho đến trụ trì ở 
				Chùa Non Nước&quot;. Cha đáp: &quot;Tôi không biết gì về thần Phật, làm 
				sao ở Chùa được&quot;. Quan lại hỏi: &quot;Tại sao các ông khoét mắt người 
				bệnh, và không thờ kính tổ tiên?&quot;. Cha bình tĩnh giải thích cho 
				quan: &quot;Xin quan đừng nghe những lời đồn đãi sai lạc, chúng tôi 
				chỉ xức dầu trên mắt mũi, tai miệng và tay chân để xin Chúa tha 
				các tội mà bệnh nhân đã dùng để phạm tội, còn với tổ tiên, chúng 
				tôi hằng cầu nguyện bằng các việc lành, chỉ có điều là chúng tôi 
				không cúng quả, vì biết rằng cha mẹ chẳng trở về ăn uống thứ gì 
				được nữa&quot;. </td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager