File "Hieu_PheroNguyenVan.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Hieu_PheroNguyenVan.htm
File size: 20.38 KiB (20866 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Phêrô Nguyễn Văn Hiếu (1777-1840)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Phêrô Nguyễn Văn Hiếu (1777-1840)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/PheroNguyenVanHieu.jpg" width="200" height="294"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, Sinh năm 1777 tại Ðồng Chuối, Ninh Bình, 
				Thầy giảng, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời 
				vua Minh Mạng cùng với Thánh Gioan B. Đinh Văn Thành và Thánh 
				Phaolô Khoan vì trực thuộc Hội Thừa Sai Balê. Đức Lêo thứ XIII 
				suy tôn Phêrô Nguyễn Văn Hiếu lên bậc chân phước ngày 
				27-05-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các 
				ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 28/04.

				</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Lời cảm tạ</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>Tâu thượng đế,<br>
				Này thần dân xin hát mừng trước bệ<br>
				Tuyên xưng Ngài là Chúa Tể càn khôn…<br>
				Suy tôn Chúa bậc tông đồ hợp xướng,<br>
				Tán tụng Ngài bao thế hệ tiên tri.<br>
				Đoàn tử đạo quang huy hùng dũng,<br>
				Máu đào đổ ra minh chứng về Ngài…</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đó là lời kinh TE 
				DEUM lời kinh tạ ơn mà cha khoan và hai thày Hiếu, Thành đã hát 
				vang lên trong ngục, cũng như trên đường ra pháp trường. Đó là 
				lời kinh đem lại phấn khởi cho những ai nghe được. Đó là tiếng 
				hát của Giáo Hội sơ khai, khi cuộc bách hại 300 năm chấm dứt, 
				nay lại vang lên trên môi miệng các vị tử đạo Việt Nam, vượt 
				thấu chín tầng mây, chấp cánh cho các ngài bay về hợp đoàn với 
				muôn thần thánh trên Thiên Quốc.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Định mệnh 
				nối kết ba con người</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phaolô Phạm Khắc 
				Khoan sinh năm 1771 tại làng Bồng Hải, tỉnh Ninh Bình, thuộc 
				giáo phận Tây Đàng Ngoài. Sau khi thụ phong linh mục, cha phụ 
				trách xứ Kẻ Vịnh, rồi xứ Phúc Nhạc, nơi đông dân cư nhất trong 
				tỉnh. Cha Khoan rất hăng say hoạt động tông đồ, ngoài xứ chính 
				ra cha còn phụ trách thêm hai họ Đông Biên và Tôn Đạo. Mỗi tháng 
				Ngài đều đến các họ lẻ dâng lễ, giải tội và khích lệ giáo hữu 
				sống đạo đức gương mẫu hơn. Mỗi lần đi như vậy cha thường dẫn 
				theo một vài thày giảng để giúp dạy giáo lý và tiếp xúc sâu xát 
				hơn với quần chúng. Năm 1837, có hai thày cùng đi với cha về 
				giúp họ Đông Biên là thày Phêrô Nguyễn Văn Hiếu 60 tuổi, người 
				làng Đồng Chuối,và thày Gioan Baotixita Đinh Văn Thành, 41 tuổi, 
				gốc Luốn khê (Phát Diệm). Trên đường trở về, cả ba cha con bị 
				bắt và bị giải về Ninh Bình. Khi đó cha Khoan đã 66 tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Trước lời 
				đường mật</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vì kính trọng cha 
				tuổi cao lại có tướng người phúc hậu, một hôm quan Tổng trấn mời 
				ngài đến và nói: &quot;Ta muốn kết thân với ông. Ta chỉ muốn tìm cách 
				cứu mạng ông thôi. Xin ông chịu khó chấp nhận bước qua Thập 
				Giá&quot;. Cha trả lời : &quot;Mấy tháng qua ở trong tù, tôi đã suy tính 
				kỹ lắm rồi, nhưng càng nghĩ tôi càng xác tín hơn, càng cương 
				quyết giữ vững đức tin cho đến chết&quot;. Rồi cha kể lại chuyện xảy 
				ra năm 1802:</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Khi đó, Thế Tổ 
				Gia Long, phụ thân của Hoàng đế ra Hà Nội, chúng tôi có đến ra 
				mắt. Người hứa cho chúng tôi được tự do giảng đạo, xây nhà thờ 
				và các nhà bác ái. Người yêu cầu chúng tôi cổ động dân chúng 
				sống hòa thuận và chăm chỉ làm ăn. Từ đó đến nay, tôi vẫn lệnh 
				vua, nhắc nhở bà con làm điều tốt, tránh điều xấu. Tôi thờ Vua 
				trên trời và thuần phục vua dưới đất, tôi vẫn xin Vua trên trời 
				ban ơn cho các quan, để thời các ngài được thái bình thịnh trị. 
				Sao hôm nay quan lại bảo tôi bỏ lệnh Tiên Đế mà tôi đã tuân hành 
				biết bao năm nay ?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thế ông không 
				muốn sống à ?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thưa quan, mọi 
				sinh vật đều muốn sống, huống chi là con người có suy nghĩ. Ai 
				biết giá trị cuộc sống mà chẳng ham sống. Thế nhưng với người 
				Kitô hữu, chết là cách sống đời đời trên Thiên Đàng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Ai bảo ông là có 
				Thiên Đàng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Đó là chuyện 
				đương nhiên. Như nhà vua vẫn ban thưởng cho những trung thần, 
				thì Chúa trời đất chẳng lẽ không ban thưởng cho những tôi trung 
				phục vụ Người đến chết sao ? Nơi tưởng thưởng đó, chúng tôi gọi 
				là Thiên Đàng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Vậy ai dạy cho 
				ông biết là có Chúa trời đất ?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thưa Tổng trấn, 
				không cần phải ai dạy cả, chính trời đất vũ trụ là cuốn sách mở 
				ra dạy ta bài học đó. Nhìn ngắm những công trình kỳ diệu của 
				thiên nhiên tức khắc phải nhận ra có Đấng Tạo Hóa đó là Chúa 
				Trời và tôn thờ Người&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vì hy vọng thời 
				gian sẽ làm các anh hùng đức tin nản chí, quan tìm cách trì hoãn 
				vụ án thật lâu. Thấm thoát ba vị đã ở tù được gần ba năm. Thỉnh 
				thoảng quan lại gọi ra tòa đề nghị bước qua Thập Giá. Mới đầu 
				thì khuyên dụ ngọt ngào, sau dùng cực hình để cưỡng bách, nhưng 
				không cách nào có thể làm các vị thay lòng đổi dạ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thái độ hai thày 
				giảng cũng làm cho mọi người bỡ ngỡ thán phục. Dù bị hành hạ dã 
				man đến đâu, hai thày cũng vẫn thản nhiên nhẫn nại, không bao 
				giờ trách mắng chửi rủa, chỉ lập đi lập lại một điều : &quot;Dù sống 
				dù chết, chúng tôi không bao giờ bỏ đức tin&quot;. Niềm an ủi lớn 
				nhất của hai thày là được ở gần cha Khoan, sớm hôm tâm sự và 
				thỉnh thoảng lãnh bí tích giải tội. Các thày coi những ngày ở tù 
				như thời gian thanh luyện để lập công đền bù những lỗi lầm từ 
				thơ ấu. Đôi khi có người khéo léo đưa được Mình Thánh Chúa vào 
				tù, đó là những ngày sung sướng và hạnh phúc nhất của ba vị.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một lần cha Khoan 
				nói thẳng với quan án rằng: &quot;Quan bảo tôi chà đạp Thập Giá là 
				điều chẳng hợp lý chút nào?&quot;. Quan hỏi : &quot;Sao lại không hợp lý, 
				ta chỉ cho ông con đường sống mà không hợp lý à ?&quot;. Cha nói : 
				&quot;Thưa quan, nếu nước nhà có biến, mà quan sợ chết đào ngũ thì 
				quan là kẻ hèn nhát. Cũng vậy, tôi nhờ ơn Vua cả trên trời, tôi 
				đâu có quyền sợ chết mà bỏ Người được&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Lời chứng 
				cuối cùng …và bài ca phục sinh</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi thấy hoàn toàn 
				thất vọng trước sự kiên tâm quyết chí của ba người &quot;lính&quot; Chúa 
				Kitô, quan đành quyết định ký án tử gởi về triều đình xin phép. 
				Trong những ngày chờ đợi cuối cùng đó, trại giam Ninh Bình vang 
				vọng những tiếng hát hân hoan. Đó là tiếng hát cha Khoan và hai 
				thày giảng hát lên lời kinh Tạ Ơn. Cha một câu, hai thày một 
				câu, nhịp nhàng rộn rã. Trên đường ra pháp trường, ba vị vẫn 
				không ngừng cất tiếng ca những lời tri ân đó.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tại pháp trường 
				ngày 28.4.1840, cha Khoan xin phép nói với dân chúng đôi lời, 
				ngài nói : &quot;Thưa đồng bào và các bạn hữu, chúng tôi không phạm 
				tội ác, không chống lại vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết 
				chỉ vì là Kitô hữu và vì không chịu bỏ đạo Kitô, là đạo duy nhất 
				chân thật&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lính đẩy ba vị vào 
				khu vực riêng xa tầm mắt dân chúng. Ba vị giơ tay lên trời, hai 
				thày hiệp ý cầu nguyện với linh mục : &quot;Vinh danh chúc tụng ngợi 
				khen Thiên Chúa, Chúa trời đất. Chúng con hiến dâng mạng sống 
				cho Ngài, xin Chúa chúc phúc cho nhà vua được cai trị lâu dài 
				trong an bình. Xin biến đổi trái tim vua, để vua tin theo đạo 
				thật, đạo duy nhất có thể đem lại cho con người hạnh phúc đích 
				thực&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tiếp theo ba vị 
				cầu nguyện bằng thánh ca. như trong đêm Phục Sinh, cha Khoan hát 
				lên ba lần Allêluia, Allêluia, Allêluia mỗi lần nói cung giọng 
				cao hơn. Xen kẽ vào đó hai thày giảng cũng hát thay cho cộng 
				đoàn theo cao độ của vị chủ sự : &quot;Allêluia, Allêluia, Allêluia&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó lý hình thi 
				hành phận sự. Ba cái đầu cùng rơi xuống đưa ba vị thánh về hợp 
				xướng với ca đoàn thiên thần trên Thiên Quốc với khúc hát Phục 
				Sinh Allêluia bất diệt. Năm đó cha Khoan 69 tuổi, thày Hiếu 63 
				tuổi, thày Thành 44 tuổi. Thày giảng Huấn chứng kiến từ đầu vụ 
				hành quyết, đã lãnh thi thể ba vị về Phúc Nhạc an táng theo nghi 
				lễ công giáo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Lêo thứ XIII 
				suy tôn cha Phaolô Phạm Khắc Khoan, hai thày Phêrô Nguyễn Văn 
				Hiếu và Gioan Baotixita Đinh Văn Thành lên bậc chân phước ngày 
				27-05-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các 
				ngài lên bậc Hiển thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Tâm tình 
				Đức Cha Retord Liêu trong thơ gởi cha Khoan</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">&quot;Sách có câu : 
				Chết vinh hơn sống nhục. Hãy coi những kẻ bội giáo, cuộc đời họ 
				đáng tủi hổ biết bao. Ngược lại khắp bốn phương thiên hạ đều 
				vang lời khen ngợi những ai chết cho đức tin. Các vị tử đạo như 
				tiếng kèn Thiên Quốc, với âm điệu vang lừng muôn người lắng 
				nghe. Những kẻ chối đạo, ở lại trần gian chỉ để chờ lưỡi rìu 
				chặt đem về tiếp lửa cho hỏa ngục.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Máu các vị tử đạo 
				như giọt sương đêm tưới mát vườn hoa Giáo Hội làm nó thêm phong 
				nhiêu (phong phú và phù nhiêu)…</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tôi viết cho cha 
				những lời vắn tắt vội vã này. Ước mong nó thành ngọn gió đưa cha 
				lướt êm đến bến bờ quê hương. Ước mong nó thành đóa hoa rực rỡ 
				với làn hương thơm tỏa ngát niềm vui tô thắm tâm hồn cha trong 
				cuộc chiến cuối cùng. Xin kính cẩn tạm biệt cha. Xin kính cẩn 
				hôn lên gông cùm xiềng xích của cha. Trong lúc cầu nguyện xin 
				đừng quên tôi nhé !&quot; (Launay III, tr.37-38).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right">
				<strong style="font-weight: 400"><em><font size="2">Nguồn từ thư 
				viện Đa Minh </font></em></strong><br>
&nbsp;</p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo. </font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thầy giảng Phêrô 
				Nguyễn Văn Hiếu<br>
				Sinh Ðinh Dậu (1777) kỷ yếu Ninh Bình<br>
				Giảng giáo lý dạy nguyện kinh<br>
				Nửa đời kẻ giảng nhiệt tình cha Khoan<br>
				<br>
				Tuổi niên thiếu Hà Nam Bình Lục<br>
				Xứ Ðồng Chuối diễm phúc đi tu<br>
				Ðược sai đi giúp giáo khu<br>
				Vâng lời làm việc cho dù khó khăn<br>
				<br>
				Giúp nhiều Cố chủ chăn giảng đạo<br>
				Thông dịch viên thông thạo nhà chung<br>
				Ði theo kinh lý tháp tùng <br>
				Thánh Kinh giáo luật nói chung thông rành<br>
				<br>
				Thầy bị bắt lính canh tra tấn<br>
				Rất nhiều lần nhưng vẫn kiên trung<br>
				Bắt quá khóa chống tới cùng<br>
				Bằng lòng chịu khó, Chúa dùng truyền rao<br>
				<br>
				Quan muốn dụ đưa vào ngục thất<br>
				Lại đưa ra cập nhật hỏi tra<br>
				Thầy Hiếu kiên định rõ mà<br>
				Tôi đây theo đạo Chúa Cha trên trời<br>
				<br>
				Quan kiếm cách đem lời dụ dỗ<br>
				Ðừng nghe theo Cụ Cố nữa Thầy<br>
				Quyền hành tha xử ta đây<br>
				Thương Thầy, quan mới tỏ bày giúp cho<br>
				<br>
				Không tiền bạc khỏi lo chạy chọt<br>
				Nghe lời đi nói ngọt thật thà<br>
				Một câu thôi sẽ được tha<br>
				Thừa Sai đạo trưởng, trốn đà ở đâu<br>
				<br>
				Khỏi quá khóa ngõ hầu tha bổng<br>
				Có giấy khen không chống lệnh vua<br>
				Thầy Hiếu nói quan chớ đùa<br>
				Tôi đây cương quyết, không thua mưu này<br>
				<br>
				Tôi ước muốn đầu bay xử trảm<br>
				Chỉ phượng thờ Chúa đáng tôn vinh<br>
				Quyết chống lại lệnh triều đình<br>
				Dù tôi có chết, tử hình mừng vui<br>
				<br>
				Xin quan hiểu không lùi một bước<br>
				Vẫn hiên ngang để được tiến lên<br>
				Thầy Hiếu chí khí vững bền<br>
				Quan trên kết án, và truyền lệnh ra<br>
				<br>
				Lính tới ngục dẫn đà đi xử<br>
				Thầy hiên ngang vẫn cứ đọc kinh<br>
				Gươm đao theo sát lý hình<br>
				Vung tay một nhát đầu mình lìa đôi<br>
				<br>
				Dân lấy xác thu hồi chôn cất<br>
				Tại pháp trường rất thật thê lương<br>
				Về sau cải táng xứ đường<br>
				Mộ êm mả ấm Thiên Ðường thưởng công<br>
				<br>
				Máu tử đạo tươi hồng Canh Tý (1840)<br>
				Danh tánh ngài đăng ký Roma<br>
				Canh Tý (1900) Toà Thánh ban ra<br>
				Suy tôn Á thánh nguy nga Nước Trời<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ: </b>Khi ra pháp trường, Thầy giảng Hiếu cùng ca 
				vang bài: &quot; Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa trời 
				đất, chúng con hiến dâng mạng sống cho Ngài. Xin Chúa chúc phúc 
				cho nhà vua được cai trị lâu dài trong an bình, xin biến đổi 
				trái tim vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất có thể đem 
				lại cho con người hạnh phúc đích thực&quot;.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager