File "Duong_PheroNguyenVan.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Duong_PheroNguyenVan.htm
File size: 23.91 KiB (24488 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Phêrô Nguyễn Văn Ðường (1808 – 1838)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Phêrô Nguyễn Văn Ðường (1808 – 
		1838)</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/PheroTruongVanDuong.jpg" width="200" height="316"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Phêrô Nguyễn Văn Ðường, Sinh năm 1808 tại Kẻ Sở, Hà Nam, Thầy 
				giảng, bị xử giảo ngày 18 tháng 12 năm 1838 tại Sơn Tây dưới đời 
				vua Minh Mạng. Đức Lêô XIII suy tôn lên bậc chân phước ngày 
				27-05-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các 
				ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 18/12.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ba thày giảng cùng 
				bị bắt một ngày, cùng bị giam một nơi, cùng tử đạo một giờ, cùng 
				được suy tôn Chân Phước và Hiển Thánh một lượt là các thày: 
				Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, 40 tuổi; Phêrô Trương Văn Đường, 30 tuổi 
				và Phêrô Vũ Truật, 21 tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thánh 
				Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ - </strong>Thày giảng - (1798 – 1838)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Là người lớn tuổi 
				nhất, thày Phaolô Mỹ như người anh cả, và là chỗ dựa cho hai 
				thày giảng cùng bị giam chung. Trong một lá thư gửi cho thừa sai 
				Marette, thày Đường viết : &quot;… Từ ngày được diễm phúc chịu khó vì 
				đức tin, thày Mỹ thay chúng con vẫn viết thư cho cha. Vì chúng 
				con coi thày như thay mặt cha ở giữa chúng con…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phaolô Nguyễn Văn 
				Mỹ chào đời năm 1798 ở làng Kẻ Non, còn gọi là Sơn Nga, huyện 
				Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tên thật của cậu là Nguyễn Văn Hữu. Năm 
				13 tuổi, được phép cha mẹ, cậu Mỹ theo giúp việc Đức cha Giacôbê 
				Longer Gia rồi sau giúp cha Luật xứ Kẻ Đầm bốn năm. Đến năm 19 
				tuổi, cậu theo học tại chủng viện Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị).</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi làm thày giảng 
				thực thụ, thày Mỹ được gửi đến giúp thừa sai Marette. Ít lâu 
				sau, Đức cha Harvard Du giám quản giáo phận Tây Đàng Ngoài, đã 
				chọn thày phụ giúp linh mục Cornay Tân, xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây. 
				Nhiều kinh nghiệm và khả năng, thày Mỹ đã hỗ trợ đắc lực cho vị 
				thừa sai trẻ tuổi nhiệt thành, nhưng thường đau ốm nặng nề này. 
				thày Mỹ luôn hoàn thành công tác mục vụ một cách chu đáo: Từ 
				giảng lý tân tòng và trẻ em, đến khuyên bảo tội nhân hối cải. 
				Khi tình hình cấm đạo lên cao độ, thày là vị tông đồ nhiệt thành 
				và hữu hiệu, đi thăm từng gia đình để khích lệ các tín hữu sống 
				đức tin, và còn hơn thế, được nhiều người ngoại giáo về đón nhận 
				niềm tin Kitô giáo.<strong> </strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thánh 
				Phêrô TRƯƠNG VĂN ĐƯỜNG</strong> - Thày giảng - (1808 – 1838)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><em>&quot;Nhất định 
				chúng tôi không đạp lên ảnh chuộc tội, vì như vậy là chọn cái 
				chết đời đời cả linh hồn lẫn xác&quot;.</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lời nói trên cho 
				ta thấy tâm tình của thánh Phêrô Đường, vị thày giảng đã hơn 20 
				năm dâng mình cho Chúa, để tìm kiếm hạnh phúc đích thực cho 
				chính mình và ta nhân.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sinh năm 1808 ở 
				làng Kẻ Sở, xã Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Gia đình 
				Phêrô Đường tuy nghèo nhưng nổi tiếng thánh thiện. Được cậu là 
				linh mục Trương Văn Thi phụ trách xứ Sông Chảy đỡ đầu, nên ngay 
				khi chú Đường mới 9 tuổi, cha Phương xứ Yên Tập đã nhận khai tâm 
				cho chú vào đời sống tu trì. 15 tuổi, anh Phêrô Đường đã được 
				gủi đến giúp xứ Bầu Nọ dưới quyền thừa sai Marette. Với sự khích 
				lệ của cha, anh chuyên tâm học chữ Hán và Latinh để chuẩn bị cho 
				tương lai.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khả năng và nhân 
				cách của anh Phêrô đường được xác nhận ngay năm sau. Anh được 
				Đức cha Havard Du nhận vào bậc thày giảng dù mới 16 tuổi, thày 
				giảng trẻ tuổi nhất. Thày tiếp tục giúp xứ Bầu Nọ thời cha 
				Cornay Tân, cho đến ngày bị bắt. Tính tình vui tươi, hiền lành, 
				thày được mọi người trong xứ mến chuộng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Thánh 
				Phêrô VŨ TRUẬT - </strong>Thày giảng - (1817 – 1838)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thày Phêrô Vũ 
				Truật, 21 tuổi, đáng lưu danh muôn thuở cho câu nói bất hủ, trả 
				lời lại những viên quan chê dại dột lãng phí tuổi thanh xuân : 
				&quot;Chưa chắc là tôi dại. Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, 
				để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phêrô Vũ Truật 
				sinh năm 1817 ở làng Hà Thạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Sơn Vy, trấn 
				Sơn Tây. Gia đình anh rất nghèo, cha chết sớm, vốn liếng lại 
				chẳng có, mẹ anh phải đầu tắt mặt tối suốt ngày,để nuôi ba con 
				dại, nên Phêrô Truật không được đi học và gầy yếu xanh xao.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy nhiên, anh 
				Truật có lòng đạo đức, thường lui tới nhà thờ kinh lễ, nên được 
				cha Tân chánh xứ Bầu Nọ chọn vào phục vụ những việc nhẹ trong xứ 
				và tạo điều kiện cho ăn học. Dầu thế mặc lòng, anh Truật cũng 
				chẳng bằng ai, phần trí khôn hơi chậm, phần hay bị đau ốm luôn, 
				anh chỉ có thể biết đọc biết viết sơ sơ. Bù lại, anh rất thuộc 
				kinh, nên đặc trách việc dạy kinh truyền khẩu cho các thiếu nhi 
				nhỏ tuổi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mãi đến khi bị bắt 
				giam trong ngục tù rồi, Đức cha Havard Du mới chứng nhận anh là 
				thày giảng, vừa để lòng tin làm chứng cho đức tin. Thày Truật 
				tuy không còn cơ hội để giảng bằng lời nói, nhưng thái độ kiên 
				tín của thày chính là lời giảng có sức thuyết phục hơn nhiều.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Ba tấm 
				lòng vàng</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ở Bầu Nọ có người 
				ngoại giáo tên Đức cầm đầu một băng cướp đã bị bắt. Để nhẹ tội, 
				y nói với vợ là Yến vu oan cho cha Cornay Tân tội tổ chức phản 
				loạn. Chị ta liền giả vờ đến xin học đạo để dò xét những nơi cha 
				thường trú ẩn. Khi biết được, chị ta liền giấu vũ khí trong vườn 
				nhà cha, rồi đi mật báo cho các quan tỉnh Sơn Tây.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 20-6-1837, 
				quan Sơn Tây phái 1500 quân lính đến làng Bầu Nọ, bắt linh mục 
				Tân. Hai thày Mỹ và Đường cũng như anh Truật ngồi lẫn vào đám 
				đông dân chúng bị tập trung nơi đình làng. Lính lục soát từ sáng 
				tới trưa vẫn không thấy cha Tân đâu cả. Bà Yến liền bày cho họ 
				bắt anh Truật và hai thày Mỹ, Đường, là những người thân thiết 
				với cha xứ để tra hỏi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chiều hôm đó, lính 
				phát hiện được cha đang ẩn trong bụi rậm. Nhưng để có thêm nhân 
				chứng ghép tội cha, ba vị phụ tá này cũng bị áp giải với ngài 
				hơn sáu dặm đường, về nhà lao tỉnh Sơn Tây. Tại công đường, ba 
				vị đã khéo léo minh chứng cha xứ không theo giặc nổi loạn, và 
				giải thích những lời đồn đại sai về đạo. Thí dụ quan hỏi : &quot;Sao 
				các ông móc mắt người chết để luyện bùa phép ?&quot; Thày Mỹ trả lời 
				: &quot;Không lẽ quan tin những lời đồn đãi vô lý đó sao ? Bởi nếu 
				chúng tôi làm như thế, cha mẹ vợ con họ đâu để cho chúng tôi 
				yên. Vậy mà chúng tôi vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui 
				vẻ&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các cuộc thẩm vấn 
				thường đi liền với những tra tấn dã man. Đây là chứng thư của 
				thày Mỹ: &quot;Lính lột áo chúng tôi ra, bắt chúng tôi nằm xuống lấy 
				dây thừng cột tay chân, rồi kéo căng cột vào bốn góc, nguyên sự 
				căng nọc cũng làm chúng tôi đau đớn vô cùng, thế rồi họ bắt đầu 
				đánh đòn… Cuối cùng họ không đánh bằng một chiếc roi nữa mà là 
				cả bó. Mỗi lần đánh hằng trăm đầu roi mây in lằn trên da thịt 
				chúng tôi, tạo nên nhiều vết thương đẫm máu…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Riêng thày Truật 
				vì ốm yếu nên được đeo gông nhẹ hơn và bị ít đòn hơn. Nhưng sau 
				mỗi kỳ tra tấn cả ba người đều bị kiệt sức, phải khiêng về ngục 
				thất. Ngày 20-9, lính canh tù loan tin cha Tân đã bị trảm quyết, 
				và khuyên các thày bỏ đạo cả ba vị cùng nói : &quot;Chúng tôi mừng vì 
				thày chúng tôi được tử đạo, chúng tôi nguyện theo gương Ngài.&quot;
				</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Giai đoạn này thày 
				Mỹ ghi lại một lá thư : &quot;Suốt bốn tháng liền chúng tôi bị gông 
				cùm xiềng xích, chịu lính canh ngược đãi, phòng giam ẩm thấp hôi 
				hám, ruồi muỗi tự do hoành hành, trên người thì đầy những vết 
				thương bị tra tấn.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tháng 10 bản án 
				tỉnh Sơn Tây tâu vua Minh Mạng được chuẩn phê và gởi về. Nhưng 
				thay vì giết ngay bản án quyết định &quot;giam hậu&quot; nghĩa là khoan xử 
				chờ quyết định mới, bề ngoài có vẻ nhân đạo, nhưng thật ra bên 
				trong rất thâm độc. Với thời gian nhiệt tình ban đầu có nguy cơ 
				phai nhạt, vì tử tội luôn bị ám ảnh đến chuyện phải ngồi tù 
				không biết đến bao giờ. Đàng khác sự chịu đựng con người có hạn, 
				quá khổ đau, quá mòn mỏi, quá thất vọng, con người dễ bị lung 
				lạc và dễ bị thay đổi ý định. Thực tế ba thày giảng phải chờ 
				thêm 14 tháng, vị chi tất cả là một năm rưỡi bị giam cầm. Nhưng 
				suốt thời gian bị giam cầm thử thách lâu dài đó, ba thày vẫn gắn 
				bó với nhau trong nhẫn nại, can đảm và giữ mãi phúc tử đạo, mỗi 
				sáng cũng như mỗi tối, các thày lớn tiếng đọc kinh Mân Côi 
				chung, cầu nguyện chung, các đồ ăn thức uống, thuốc men nhận 
				được ba vị chia sẻ cho lính canh, ai đến thăm đều được khuyên 
				nhủ : &quot;Anh em hãy sống hòa thuận với mọi người trong gia đình, 
				làng nước, hãy là giáo hữu nhiệt thành, vì đời sống trần gian 
				chẳng là bao. Chúng tôi đã vâng theo ý Chúa định đoạt, hy vọng 
				mai này chúng ta sẽ đoàn tụ trên Nước trời&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Triệu giả làm 
				thường dân mang Mình Thánh Chúa cho các thày, đó quả là hồng 
				phúc lớn lao. Ta thử đọc tâm sự của thày Đường gởi cho cha 
				Marette trong thư : &quot;Hôm nay là ngày trọng đại chúng con được 
				rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi 
				nhẹ những xiềng xích của chúng con… cửa Thiên Đàng đã gần kề, 
				nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước ao sự 
				gì khác nữa…&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Cùng Chiến 
				Thắng Vinh Quang</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm 1838, triều 
				đình duyệt lại bản án và chỉ thị cho quan tỉnh Sơn Tây thi hành. 
				Ngày 18-12 ba chứng nhân anh dũng bị điệu ra pháp trường ở Gò 
				Vôi làng Mông Phụ, tỉnh Sơn Tây. Mỗi người mang trên ngực tấm 
				thẻ ghi tên họ, nguyên quán, tội theo đạo Giatô, đã thú nhận, 
				truyền xử trảm. Trên đường đến nơi hành quyết, như đã hẹn trước 
				ba thày cùng làm dấu khi thấy cha Triệu đứng giữa dân chúng ban 
				phép lành tha tội. Một người lính cho các Ngài uống rượu, ba vị 
				cám ơn, uống nước trà và nói : &quot;Thày giảng chúng tôi kiêng rượu 
				như kiêng sắc dục và kiêng phản bội.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến nơi xử, ba 
				thày nằm dài trên chiếu, quân lính quây thành một vòng tròn lớn, 
				để ngăn cản dân chúng. Từng vị một bị trói chân vào cột và trói 
				chéo tay ra sau lưng. Dây thừng tròng sẵn vào cổ. Giữa tiếng 
				chiêng trống vang rền, theo lệnh quan mỗi tên lính nắm chặt đầu 
				dây xiết thật căng, chờ tới khi tất cả tắt thở, máu ứa ra miệng. 
				Sau đó lấy lửa đốt gan bàn chân để xác nhận các tử tội đã chết 
				thật rồi. Cha Marette và giáo dân đưa thi hài ba thày về họ Kẻ 
				Măng gần đấy tẩm liệm. Ngài dâng lễ cầu hồn tạ ơn Chúa đã cho 
				các bậc tôi trung thắng trận khải hoàn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Lêô XIII suy 
				tôn ba thày Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Phêrô Trương Văn Đường và 
				Phêrô Vũ Truật lên bậc chân phước ngày 27-05-1900. Ngày 
				19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển 
				thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">Nguồn từ thư 
				viện Đa Minh</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nguyễn Văn Ðường 
				quê làng kẻ Sở<br>
				Sinh Mậu Thìn (1808) nơi ở Hà Nam<br>
				Gia đình đạo đức nghèo nàn<br>
				Có hai chú ruột lên hàng chức Cha<br>
				<br>
				Mới chín tuổi cậu đà xin Chú<br>
				Nguyễn Văn Thi khuyên nhủ tu trì<br>
				Ngài liền dẫn cháu đường đi<br>
				Cha Phượng An Tập ngài thì quản cai<br>
				<br>
				Sau sáu năm khá dài liên tiếp<br>
				Cậu Nguyễn Ðường ở miệt nơi xa<br>
				Cha Trạch Bầu Nọ xứ nhà<br>
				Năm hai sáu tuổi đúng là trên ban<br>
				<br>
				Làm Thầy giảng lên đàng chăm chỉ<br>
				Giáo dân ai cũng quý mến Thầy<br>
				Tông đồ thăm viếng đó đây<br>
				Người già bệnh tật tỏ bày tình thương<br>
				<br>
				Quan bắt đạo Cha thường phải trốn<br>
				Nhưng Thầy Ðường tính vốn vâng lời<br>
				Làm tràng hạt lúc nghỉ ngơi<br>
				Tặng cho bổn đạo khắp nơi nguyện cầu<br>
				<br>
				Lính vây kín đêm thâu Bầu Nọ<br>
				Bắt Cố Cornoy họ truy tìm<br>
				Vắng ngài, chúng chẳng có tin<br>
				Một người tố giác đứng nhìn chỉ tay<br>
				<br>
				Thầy Mỹ, Truật hằng ngày theo Cố<br>
				Phải dẫn đi chỉ chỗ tới lui<br>
				Thầy Ðường đứng nói có tui<br>
				Ba Thầy chúng bắt buồn thiu cộng đoàn<br>
				<br>
				Chúng tra rấn dã man khủng khiếp<br>
				Tới buổi chiều bắt tiếp Cố ngay<br>
				Ngồi trong cũi nhìn cảnh này<br>
				Ngài hô lên phải ngừng tay đánh người<br>
				<br>
				Quan nghe vậy ngồi cười đánh tiếp<br>
				Ðể ba Thầy phát khiếp ngã lòng<br>
				Bước qua Thập Giá là xong<br>
				Cho về quê quán thong dong tung hoành<br>
				<br>
				Thầy Ðường nói chấp hành được xử<br>
				Quan chớ hòng mà thử chúng tôi<br>
				Dù cho chín núi mười đồi<br>
				Chẳng hề phản bội Ba Ngôi Chúa Trời<br>
				<br>
				Thầy Ðường viết đôi lời cho Cố<br>
				Trong nhà tù vô số mẫu gương<br>
				Cầu xin Chúa ơn can trường<br>
				Hồn an xác mạnh hành hương Nước Trời<br>
				<br>
				Rước ơn trọng cuối đời Mình Thánh<br>
				Tạ ơn Người Cha Chánh thăm tù<br>
				Phước này con nhớ thiên thu<br>
				Vua quan cấm đạo chẳng thù, thứ tha<br>
				<br>
				Kẻ quyền thế chóng qua mau hết<br>
				Vì lỗi lầm lúc chết đi đâu<br>
				Nguyện cầu ơn Chúa nhiệm mầu<br>
				Cho kẻ lạc lối ngõ hầu ăn năn<br>
				<br>
				Cho đất nước khó khăn vượt khỏi<br>
				Cho Việt Nam học hỏi Tin mừng<br>
				Trước khi dừng bút tạm ngưng<br>
				Con xin Cố nhắn tin mừng Chú con<br>
				<br>
				Cha Thi chú ruột còn dâng lễ<br>
				Nhờ Ngài giúp cụ thể như sau<br>
				Làm ba lễ khẩn nguyện cầu<br>
				Cho người đi trước kẻ sau góp phần<br>
				<br>
				Cha Triệu đến xin cần xưng tội<br>
				Ba tử tù hối lỗi sau cùng<br>
				Bữa cơm thiết đãi dùng chung<br>
				Quân quan lính gác với cùng tù nhân<br>
				<br>
				Rồi sau đó tới phần hành quyết<br>
				Bốn lý hình cần thiết xung quanh<br>
				Trước cầm thẻ gỗ đã dành<br>
				Ðể ghi bản án ban hành ghi tên<br>
				<br>
				Hai người nữa giữ bên xiềng xích<br>
				Người đi sau mục đích cầm gươm<br>
				Ba Thầy dẫn tới pháp trường<br>
				Ðồng bị xử giảo bốn phương kéo thừng<br>
				<br>
				Trong phút chốc đã ngừng hơi thở<br>
				Ðược cất chôn ngay ở trong nhà<br>
				Là bà Tín đảm nhận mà<br>
				Sau rồi cải táng xứ nhà Kẻ Mây<br>
				<br>
				Phúc tử đạo của thầy Mậu Tuất (1838)<br>
				Tuổi thanh xuân chẳng khuất phục ai<br>
				Canh Tý (1900) Toà Thánh bài sai<br>
				Suy tôn Chân phước ít ai sánh bì</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>Lời bất hủ: </b>
				Thánh Phaolô Ðường tuyên bố thẳng với quan tra xét hỏi cung 
				ngài: &quot;Nhất định chúng tôi không đạp lên ảnh chuộc tội, vì như 
				vậy là chọn cái chết đời đời, cả linh hồn lẫn thể xác&quot;.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager