File "Du_Giuse.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Du_Giuse.htm
File size: 28.97 KiB (29661 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Giuse Du(1803-1835)</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Giuse Du (1803-1835) </font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/GiuseMarchandDu.jpg" width="200" height="334"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Giuse Du (Joseph Marchand), Sinh năm 1803 tại Passavaut, 
				Besancon, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng 
				Ngoài, bị xử hình bá đao ngày 30/11/1835 tại Thợ Ðúc dưới đời 
				vua Minh Mạng. Đức Lêo XIII đã suy tôn linh mục Marchand Du lên 
				bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô 
				II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 30/11.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Người tử 
				hùng bá đao</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong 117 thánh tử 
				đạo Việt Nam, cuộc tử đạo của thánh Marchand Du mang màu sắc bi 
				tráng nhất. Với gần ba tháng trong chiếc cũi chật hẹp, và những 
				cuộc tra tấn chết đi sống lại, ngài là vị duy nhất bị án bá đao, 
				nghĩa là bị cắt xẻo 100 nhát trước khi bị chặt ra làm bốn phần, 
				còn thủ cấp bị nghiền nát đổ xuống biển.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy nhiên, chúng 
				ta không nên quá nhấn mạnh đến những đau thương trong cuộc tử 
				nạn, mà quên mất chứng từ đời sống của thánh nhân : sự nhiệt tâm 
				truyền giáo, lòng yêu mến các tín hữu và chí cương quyết chỉ 
				phục vụ Tin Mừng.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Mong ước tuổi xuân</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đầu thế kỷ XIX, 
				tại làng Passavant, nước Pháp, nhiều người đã phải ngạc nhiên 
				khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy mười tuổi : sau giờ 
				học, cậu rủ các bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn 
				thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây Thánh Giá, rồi bắt trước các 
				cử điệu như khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem. Đó là 
				cậu bé Giuse Marchand. </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Mở mắt chào đời 
				ngày 17.8.1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs. Ngay từ niên 
				thiếu, dân làng đã thấy rõ ước muốn trở thành linh mục của cậu. 
				Sau khi rước lễ lần đầu, cậu xin cha mẹ đi tu, nhưng vì gia đình 
				làm nghề nông túng nghèo, thiếu người lao động, nên cha mẹ cậu 
				tìm cách trì hoãn cho cậu đổi ý. Tuy nhiên, Marchand đã không 
				thay đổi ý định, cậu kiên quyết hoàn thành mộng ước tuổi xuân, 
				và cuối cùng bên người đổi ý là song thân của cậu. Năm 18 tuổi, 
				Marchand gia nhập chủng viện giáo phận Besacon. Năm 1828, sau 
				khi lãnh chức phó tế, thày Marchand xin chuyển sang Hội Thừa Sai 
				Paris. Độ nửa năm, thày được thụ phong linh mục (04.4.1829), sau 
				đó một tháng thì đáp tàu đi Macao đến Việt Nam giảng đạo.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Nhà du thuyết nhiệt tâm</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tháng 3.1830, cha 
				Marchand vào tới Việt Nam, và lấy tên mới là Du. Sau một thời 
				gian học tiếng và phong tục Việt Nam tại Lái Thiêu, cha du được 
				cử tới Pnom-Pênh để coi sóc các tín hữu Việt Nam tại đây (khi đó 
				đất Campuchia thuộc giáo phận Đàng Trong). Thế rồi ít lâu, cha 
				được gọi về Lái Thiêu coi sóc các chủng sinh, đồng thời phụ 
				trách 25 giáo họ, với khoảng 7000 tín hữu thuộc tỉnh Bình Thuận.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong thư đề ngày 
				13.6.1832 gởi về quê nhà cha viết : &quot;… 25 giáo họ cách nhau rất 
				xa. Muốn chu toàn bổn phận, con không thể bỏ phí một giây nào… 
				từ năm giờ sáng đến chín giờ tối, nhiều ngày chẳng có lúc nào 
				rảnh rỗi cả. Con chỉ có thể dành chút thời giờ chu toàn việc đạo 
				đức riêng lo cho phần rỗi mình, còn thì luôn luôn phải làm việc 
				để thánh hóa kẻ khác… Con chỉ tiếc một điều là không thể tận tụy 
				hơn được nữa, để vừa giúp giáo dân, vừa giúp lương dân, lại cón 
				phải bắt buộc di chuyển bằng thuyền, nên không thể đi mọi nơi, 
				hầu dẫn về đoàn chiên Chúa Giêsu những con chiên bất hạnh lạc 
				đường…&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Du mới đi hết 
				25 giáo họ này được hai lần thì ngày 16.1.1833 vua Minh Mạng ra 
				chiếu chỉ lùng bắt các giáo sĩ Âu Châu. Đức cha Tabert Từ, cha 
				Cuénot Thể và các thừa sai dẫn theo các chủng sinh trốn qua Thái 
				Lan. Chỉ mình cha Du nhất nhất quyết ở lại, ẩn tránh ở miền Lục 
				Tỉnh, giúp các họ Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan, Giồng Rùm, và trú 
				ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Tôi chỉ biết một điều là giảng đạo</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lê văn Khôi thực 
				ra có họ Nguyễn, từng nổi loạn ở Cao Bằng, sau ra đầu thú, được 
				Tả quân Lê Văn Duyệt nhận làm con nuôi, mới đổi qua họ Lê. Lợi 
				dụng việc vua Minh Mạng xử tệ với Tả quân (khi đó đã thất lộc 
				cho đánh trên mộ 100 trượng), Lê văn Khôi liền lấy cớ phò cháu 
				đích tôn của vua Gia Long, con hoàng tử Cảnh tên là Đản. Việc 
				bại lộ, khôi bị bắt. Đến 05.7.1833, ông với khoảng 30 bạn tù 
				vượt ngục, giết một vài quan, thả các tù nhân khác, rồi chiêu 
				binh chiếm Phiên An (sài Gòn) và miền Lục Tỉnh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lê Văn khôi tuy 
				ngoại đạo, ngưng đã khôn khéo hứa hẹn bãi bỏ các lệnh cấm đạo 
				của vua Minh Mạng, nên một số tín hữu theo ông. Để có thể quy tụ 
				nhiều người Công Giáo hơn ủng hộ mình, Lê Văn Khôi cho mời cha 
				Du về Sài Gòn, cha từ chối. sau vì một số tín hữu Chợ Quán nói : 
				&quot;Nếu cha không chịu về, sợ quan giận mà chém hết bổn đạo trong 
				thành. Ở đó bổn đạo cũng đông lắm…&quot;. Thế là cha Du đành lòng về 
				xứ Chợ Quán ở nhà thờ cha Phước, nhưng rất ít khi ở nhà, cha lo 
				đi thăm các gia đình tín hữu. Lê văn Khôi nhiều lần mời, cha vẫn 
				không chịu vào trong thành.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi quân triều 
				đình vây thành Gia Định, Khôi cho quan đem voi ra Chợ Quán bắt 
				ép cha Du phải vào thành. Cha Phước và nhiều tín hữu cũng theo 
				vô. Trong thành, tướng Khôi xử đãi cha khá rộng rãi, có nhà 
				riêng để dâng lễ hàng ngày, các tín hữu có thể tụ tập ở đó để 
				đọc kinh, nghe giảng và lãnh các bí tích. Khôi có ý mua chuộc để 
				cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói : &quot;Tôi chỉ biết việc 
				đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một hôm cha được 
				mời vào dinh nguyên soái. Một xấp thư kêu gọi dân chúng và tín 
				hữu nổi dậy chống nhà vua để trên bàn. Tướng khôi xin cha ký 
				tên. Vị linh mục thấy rõ đã đến lúc tỏ rõ lập trường của mình, 
				liền đứng dậy cầm xấp thư, ném tất cả vào lửa. Dầu vậy quân của 
				Khôi không dám làm gì cha, vì sợ các tín hữu trong đội quân sẽ 
				chống lại.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau hơn hai năm 
				vây hãm, ngày 08.9.1835 quân chiều đình đã chiếm lại được thành 
				Phiên An. Cha Du vừa cử hành thánh lễ xong thì bị bắt, bị đánh 
				đập và bị nhốt vào cũi nhỏ, dài một mét (1m), rộng bảy tấc 
				(0.7m), cao tám tấc (0.8). Đó sẽ là &quot;nhà ở&quot; của cha cho đến ngày 
				xử tử, căn nhà mà chủ nhân chỉ có thể ngồi khom lưng suốt ngày 
				đêm.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Số người bị tàn 
				sát lên đến 1994, trong đó có 66 tín hữu (chỉ có 20 nam, còn bao 
				nhiêu là phụ nữ và trẻ em), cha Phước cũng bị xử lăng trì (chặt 
				chân tay, rồi chẻ thân hình làm bốn). Cha Du được đưa ra xét xử 
				: </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Giặc đã đem thày 
				vào thành, thày không làm gì để chúng giúp chúng sao?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Tôi chỉ lo việc 
				giảng đạo mà thôi…</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Giảng đạo là 
				giống gì ?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Là đọc kinh, làm 
				lễ và dạy dỗ bổn đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Thày có biết làm 
				thuốc mê để dỗ lòng ngụy cho nó theo không?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Tôi chỉ biết có 
				một việc là giảng đạo mà thôi.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau hai cuộc tra 
				vấn nữa, cha Du bị giam trong cũi và bị áp giải về kinh đô cùng 
				với tổng Trắm, đồ Hoành bốn Bang, phó Nhã và con trai Lê văn 
				Khôi là Lê văn Viên mới bảy tuổi. Đoàn người vế tới Phú Xuân 
				ngày 15.10, cha du bị gaim trong ngục Võ Lâm gần tòa Tam Pháp.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Đàng sau bản án phản loạn.</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hôm sau 16.10, cha 
				Du bị đưa ra tòa Tam Pháp. Các quan cố ép cha nhận tội giúp Khôi 
				làm loạn. Nhưng cha khẳng định : &quot;Tôi chỉ lo cầu nguyện cùng 
				Chúa và làm lễ thôi&quot;. Quan hạch hỏi: - Có phải người gửi thư vô 
				Xiêm, cùng gửi thư cho quân Gia Tô trong Đồng Nai, biểu nó đến 
				giúp ngụy không ? </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Du trả lời : 
				&quot;Ông Khôi có yêu cầu tôi viết thư, song tôi không chịu viết, một 
				nói cho ông ấy hay : Đạo tôi cấm làm như vậy và tôi thà chết 
				chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế ông Khôi còn đêm mấy bức 
				thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư ấy mà đốt 
				đi trước mặt ông ấy&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Để bắt cha nhận 
				tội, tối hôm sau, các quan dùng đủ cực hình kìm kẹp : Họ cho 
				nung đỏ kìm sắt và cho kẹp hai lần vào hai đùi cha, rồi giữ 
				nguyên cho tới khi kìm nguội. Một lần như vậy mùi thịt cháy xông 
				lên khét lẹt, chính quân lính cũng phải quay mặt đi. Vị anh hùng 
				đức tin hai lần ngất xỉu, nhưng vẫn giữ nguyên lời khai cũ. Họ 
				đành nhốt cha vào cũi lại, rồi đưa về ngục.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Để tạo chứng gian 
				buộc tội cha, các quan dỗ con trai Lê văn Khôi, hứa trả tự do 
				nếu khai rằng &quot;Ông thày Tây&quot; giúp cha em khởi nghĩa. Nhưng cậu 
				bé bảy tuổi ấy không biết nói dối, cậu nói cha Du hoàn toàn vô 
				can, dầu cha cậu có hứa hẹn, khuyên dụ nhiều phen.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cuối cùng, các 
				quan đành xoay qua &quot;tội giảng đạo&quot;. Họ nhắc đến chiếu chỉ nhà 
				vua, và hứa ân xá nếu cha bước qua Thánh Giá. Cha Du cám ơn quan 
				và tuyên bố sẵn sàng chịu cực hình, chứ không thể thất trung với 
				Chúa. họ lại tiếp tục nhốt cha trong cũi. Sáu tuần lễ ở kinh đô 
				đã trôi qua như thế. Các tín hữu ghé vào thăm và tiếp tế cho 
				cha, đều thuật lại rằng : &quot;Cha Du vẫn luôn vui vẻ và thường cầm 
				cuốn sách nhỏ để đọc đêm ngày&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thừa lệnh vua Minh 
				Mạng, bản án cuối cùng được viết như sau : &quot;Tây dương ma Sang 
				kêu là danh Du, Gia Tô đạo trưởng, phò ngụy Khôi, nhận tội viết 
				thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp ngụy 
				thần. Lệnh xử bá đao&quot;.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Chết vì lý do tôn giáo</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sáng sớm 
				30.11.1835, bảy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người 
				đến tham dự cuộc xử án. Cha Du, ba vị tướng của Khôi và em Lê 
				Văn Viên được đưa ra khỏi cũi (phó Nhã đã chết trong ngục), mọi 
				người chỉ được đóng khố, rồi dẫn đến cửa Ngọ Môn trình diện và 
				phục lạy vua năm lạy. Vua Minh Mạng tỏ vẻ giận dữ ném chiếc cờ 
				hiệu xuống đất. Đó là dấu không ân xá lần cuối, năm tội nhân 
				được đưa ra pháp trường. Riêng cha Du, theo mật lệnh, được đưa 
				vào tòa Tam Pháp tra khảo một lần nữa. Đọc nội dung cuộc tra 
				khảo này, chúng ta thấy quan quân không đá động gì đến lý do 
				chính trị cả !</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm người lính cầm 
				năm kìm nung đỏ kẹp vào bắp vế cha. phía sau là năm người lính 
				khác cầm roi để năm lý hình không được phép nương tay. Ba lần 
				kìm kẹp, thân thể cha Du có đủ 15 vết bỏng. Song song với cuộc 
				tra tấn là mẫu đối thoại sau : </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Tại sao Gia Tô 
				móc mắt mấy người gần chết?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Không có, không 
				bao giờ tôi thấy điều đó.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Tại sao mấy 
				người kết hôn lại phải đến các thày đạo trước bàn thờ ?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Họ đến để thày 
				cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu ở đó.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Khi làm yến tiệc 
				trong nhà thờ, bay làm những sự quái gở lắm phải không ?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Không, chẳng có 
				những điều quái gở.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- Vậy sao có thứ 
				bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những đứa đã xưng tội 
				mà làm nó mê đạo đến thế?</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Du kiệt sức 
				không thể trả lời được nữa. Lính dọn cho tử tội bữa ăn sau cùng, 
				nhưng cha không dùng chi cả, chỉ lo cầu nguyện với Chúa. Sau đó, 
				lính đưa các tử tội đến pháp trường tại họ Thợ Đúc bên sông 
				Hương, cách kinh thành một dặm đường.</p>
				<h4 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Chết như một tội nhân</font></h4>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Năm cây cọc đã cắm 
				sẵn. Lính trói năm tử tội, cha Du bị trói vào cây cọc thứ hai. 
				Ngài bị án &quot;Phản loạn&quot; và sẽ chết giữa những người phản loạn. 
				Dân chúng bị đuổi lùi ra xa 30 thước. Cứ mỗi tử tội lại có ba lý 
				hình, một cầm kìm, một cầm đao, còn một lo đếm số cho đủ 100 lát 
				cắt. Trước đó, lính đã nhét vào miệng tội nhân và cột chặt, để 
				không ai có thể kêu la được nữa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau một hồi trống, 
				lý hình cắt lớp da trên trán cha Du lật xuống che mặt, rồi cắt 
				từng mảnh hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn, vị 
				chứng nhân giẫy giụa, quằn quại, ngước mắt lên trời cao rồi gục 
				đầu xuống nhắm mắt lìa đời. Tiếp theo quân lính cắt đầu của 
				ngài, cởi dây, bổ thân mình làm bốn, và ném xuống biển chung với 
				bốn tử tội kia. Còn thủ cấp cha, được đưa đi bêu ở nhiều nơi, 
				rồi được trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống 
				biển.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 30.11.1835 
				cũng là ngày kính thánh Anrê. Các thánh lễ hôm đó đều đọc lại 
				đoạn sách Isaia (Is. 52,7): &quot;Đẹp thay bước chân người rao giảng 
				Tin Mừng&quot; như lời chúc tụng vị thừa sai đã hoàn tất sứ mạng tông 
				đồ của mình. Giáo Hội đã rất thận trọng khi nghiên cứu hồ sơ cha 
				Marchand Du, căn cứ vào các buổi tra khảo, nhất là cuộc thẩm vấn 
				cuối cùng, Giáo Hội khẳng định ngài đã hiến mạng sống vì đức 
				tin. (2)</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức Lêo XIII đã 
				suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. 
				Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển 
				thánh.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">Nguồn từ tu viện 
				Đa Minh </font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Marchand Du thừa 
				sai linh mục<br>
				Sinh Quý Hợi (1803) quê thực Paris <br>
				Từ nhỏ đã tỏ hướng đi<br>
				Thích làm linh mục cậu thì tỏ ra<br>
				<br>
				Cùng các bạn bày ra dâng lễ<br>
				Giống như cha chủ tế hàng ngày<br>
				Thấy người lớn cậu dẹp ngay<br>
				Trò chơi của cậu những ngày còn thơ<br>
				<br>
				Ðến khi lớn giấc mơ của cậu<br>
				Xin vào dòng học đậu làm cha<br>
				Kẹt vì lúc đó trong nhà<br>
				Bạc tiền túng thiếu cùng là nhân công<br>
				<br>
				Cha mẹ cậu trước không đồng ý<br>
				Tưởng một hai thối chí cậu chăng<br>
				Ai ngờ ngày một gia tăng<br>
				Cuối cùng cha mẹ phải bằng lòng thôi<br>
				<br>
				Vào Chủng viện tuổi đời mười tám<br>
				Mười năm trời theo bám chủng sinh<br>
				Phó tế lãnh chức quang vinh<br>
				Thầy xin sang nhập gia đình thừa sai<br>
				<br>
				Nửa năm sau chức ngài linh mục<br>
				Xin Bề Trên tiếp tục hiến thân<br>
				Việt Nam truyền giáo đang cần<br>
				Cha xin tình nguyện lãnh phần ưu tiên<br>
				<br>
				Ðường đi lại tàu thuyền cách trở<br>
				Chặng đi đầu tạm ở Macao<br>
				Việt Nam đợi dịp đi vào<br>
				Mùa xuân con cọp (1830) đẹp sao tới bờ<br>
				<br>
				Việc cần nhất bây giờ học tiếng<br>
				Tại Lái Thiêu vốn liếng bổ sung<br>
				Ðọc thông nói thạo đủ dùng<br>
				Ðặt tên tiếng Việt kêu bằng cha Du<br>
				<br>
				Ðến Campuchia mùa thu năm ấy<br>
				Ðể thăm quan và thấy giáo dân<br>
				Lái Thiêu Chủng viện đang cần<br>
				Xin cha về nhận cái phần giảng sư<br>
				<br>
				Coi xứ đạo cũng từ ngày đó<br>
				Trong cả vùng cũng có hai lăm (25 xứ)<br>
				Hàng tuần cha phải đi thăm<br>
				Ban phép hoà giải hằng trăm tín đồ<br>
				<br>
				Vua Minh Mạng lệnh vô lùng bắt<br>
				Giáo sĩ Âu cấm ngặt răn đe<br>
				Rủ nhau đi bộ đi ghe<br>
				Chạy sang nước Thái (Lan) chở che tạm thời<br>
				<br>
				Chỉ cha Du ngài đòi ở lại<br>
				Coi giáo dân chẳng ngại hiểm nguy<br>
				Miền Nam trong lúc ấy thì<br>
				(Lê) Văn Khôi phản loạn muốn đi cầu ngài (cha Du)<br>
				<br>
				Ý ông (Khôi) muốn góp tài chung sức<br>
				Phần giảng rao hết mực tự do<br>
				Ðạo đời hoà hợp khỏi lo<br>
				Nay đây mai đó trốn cho tội tình<br>
				<br>
				Cha Du vẫn làm thinh không chịu<br>
				Ngài biết rằng chính hiệu của tôi<br>
				Ðến đây giảng đạo Chúa Trời<br>
				Ngoài ra không biết việc đời là chi<br>
				<br>
				Lê Văn Khôi gặp khi túng thế<br>
				Ðem voi ra bồng bế cha vào<br>
				Tâm thư ngài được ban trao<br>
				Ðọc xong xin hãy ký vào giùm tôi<br>
				<br>
				Cha Du đứng nghỉ ngơi một lúc<br>
				Rồi đem thư tiếp tục xé luôn<br>
				Ông Khôi lúc đó tuy buồn<br>
				Nhưng không phản ứng về luôn sảnh đường<br>
				<br>
				Hơn hai năm bức tường vây hãm<br>
				Quân nhà vua can đảm phá thành<br>
				Nguỵ quân mấy bữa tan tành<br>
				Văn Khôi bị bắt đồng hành cha Du<br>
				<br>
				Ðem về kinh căm thù kết tội<br>
				Buộc cho ngài kết nối nguỵ quân<br>
				Gởi thư cầu viện xa gần<br>
				Cùng Khôi cấu kết mật thân chống triều<br>
				<br>
				Cha Du nói một điều giảng đạo<br>
				Kẹp kìm tra cố tạo tội thêm<br>
				Cuối cùng bản án như nêm<br>
				Tây dương tả đạo có kèm tên Du<br>
				<br>
				Phò Khôi nguỵ hận thù đáng chết<br>
				Xử bá đao chưa hết tội mi<br>
				Cha Du chẳng nói năng gì<br>
				Ất Mùi (1835) tử đạo hồn đi lên Trời<br>
				<br>
				Trong sử sách ấy thời ghi chép<br>
				Mình cha Du chịu chết bá đao<br>
				Canh Tý (1900) Toà Thánh ban trao<br>
				Suy tôn Chân phước bước vào Thiên cung<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ:</b> Tướng Lê Văn Khôi (nghịch với Triều Nguyễn) 
				đã ép cha Du phải vào thành. Tướng Khôi có ý mua chuộc cha để 
				cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: &quot;Tôi chỉ biết việc 
				đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành&quot;. Cha Du bị bắt 
				và dẫn giải về triều đình Huế, các quan hỏi cung: &quot;Có phải người 
				gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Giatô ở Ðồng Nai, biểu nó 
				đến giúp nguỵ không?&quot;. Cha Du đáp: &quot;Ông Khôi có biểu tôi viết 
				thư song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay: đạo tôi 
				cấm làm như vậy, và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. 
				Dầu thế ông Khôi còn đem mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, 
				thì tôi lấy mấy cái thư ấy, mà đốt đi trước mặt ông ấy&quot;. Bản án 
				thừa lệnh vua Minh Mạng viết như sau: &quot;Tây Dương Ma Sang kêu là 
				danh Du, Giatô đạo trưởng, phò nguỵ Khôi, nhận tội có viết thư 
				sang Hồng Mao (tức nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp 
				nguỵ thần, lệnh xử bá đao&quot;. Cha Du còn tra hỏi lần chót rồi mới 
				xử. Hỏi: &quot;Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự quái 
				gở lắm phải không?&quot;. Ðáp: &quot;Không, chẳng hề có những điều quái 
				gở&quot;. &quot;Vậy sao có thứ bánh làm bùa mê thuốc lú, để phát cho những 
				đứa đã xưng tội mà làm nó mê đạo đến thế?&quot;. Cha Du kiệt sức 
				không trả lời được nữa.</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager