File "Dau_Mattheu.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Dau_Mattheu.htm
File size: 33.87 KiB (34681 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Matthêu Ðậu (1702-1745).htm</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font face="Arial" color="#0000FF"><b>Matthêu Ðậu (1702-1745).htm</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/AlonsoLicinianaDau.jpg" width="200" height="300"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p align="justify" style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<strong>Matthêu Ðậu (Matthaeus Alonso Leciniana)</strong>, Sinh 
				năm 1702 tại Nava del Rey, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, 
				thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm 
				ngày 22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa trịnh Doanh, được 
				phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 
				22/01.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Các lệnh 
				cấm đạo năm 1750, 1754, và 1765</strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cuối năm 1748, 
				Trịnh Doanh đi thăm các trại lính thấy khẩu đại bác có chữ Âu 
				Châu muốn biết xem là chữ gì liền ra lệnh tìm người Âu Châu. Cha 
				Paleceuk Dòng Tên được đưa đến để giải thích các chữ viết, đồng 
				thời khuyến khích chúa Trịnh tin dùng người Âu Châu làm cố vấn. 
				Ngay lúc đó Trịnh Doanh ra lệnh phóng thích 7 người Công Giáo 
				đang bị giam giữ ở Kinh Ðô và xin Cha Paleceuk tìm các chuyên 
				viên toán học và thiên văn. Bề trên Dòng Tên ở Macao sai Cha 
				Simonelli và 6 vị thừa sai với đầy đử dụng cụ thiên văn và toán 
				học đến. Trong thời gian này giáo dân bắt đầu tổ chức lễ lạy 
				công khai, nhiều quan trở lại đạo và lương dân thân thiện với 
				Công Giáo như trước.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhưng không biết 
				vì lẽ gì Trịnh Doanh lại đổi ý, ngày 3-7-1750 lập lại các lệnh 
				cấm đạo cũ. Năm 1751 khi đòan thừa sai từ Macao đến để làm việc 
				theo lời yêu cầu đã bị từ chối không cho phép xuống đất. Sau cha 
				Dòng Tên đã lẻn xuống được, còn cha trưởng đoàn phải trở về 
				Macao.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 26-10-1754, 
				Trịnh Doanh công bố một lệnh cấm đạo mới. Nội dung như sau: &quot;Hội 
				đồng các quan truyền lệnh cho các huyện như sau: Ðạo &#39;Hoa Lang&#39; 
				lầm lạc nghịch lại lý trí, mê hoặc lòng dân và còn truyền bá lan 
				rộng đạo lý sai lầm. Các năm trước hội đồng đã gửi các sắc lệnh 
				ngăn cấm để chặn sự xâm nhập của đạo này, nhưng vẫn còn có người 
				tiếp tục làm hư hại người khác. Vì vậy quan trấn các phủ huyện 
				phải bí mật điều tra. Nếu bắt được đạo trưởng thì phải giải họ 
				về kinh, các tín hữu thì phải trừng phạt, hoặc lưu đầy, hoặc tạp 
				dịch trong các chuồng thú vật, hoặc đánh đòn. Nếu các quan chểnh 
				mảng nhiệm vụ này sẽ bị trừng phát, ai nhiệt thành sẽ được trọng 
				thưởng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lệnh trên được bí 
				mật gửi cho các quan, nhưng khi các vị thừa sai biết được đã ra 
				lệnh ngưng các buổi hội họp, sửa đổi nhà thờ thành nhà ở, treo 
				cờ, dựng cây nêu... Còn các vị thừa sai thì tạm thời trốn tránh. 
				Kết quả Cha Ðóa bị bắt với 4 người nhà. Cha Cai và 4 người nhà 
				khác cũng bị bắt tại Bố Chính, các chủng sinh tại Thanh Hóa một 
				số bị bắt. Ðịa phận Ðông Ký có một thầy giảng bị bắt tại Xứ Bắc 
				và Cha Alonso dòng Ða Minh cũng bị bắt.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 15-9-1765, 
				Trịnh Doanh kết án một nhà sư và ra lệnh giải tán một số chùa 
				chiền, nhưng vì sợ dân chúng phản loạn cho là bắt đạo Phật nên 
				Trịnh Doanh ra lệnh cấm luôn cả đạo Công Giáo. Các vị thừa sai 
				chỉ nhắc đến những vụ bắt bớ do quan lại muốn làm tiền, không có 
				ghi lại sắc lệnh. Kết quả là Cha Orta người Ý thuộc Dòng Tên và 
				Cha Ðóa Dòng Ða Minh bị bắt tại Thanh Hóa. Ngoài ra Cha Gioan 
				Hiên và nhiều cha khác đi làm lễ Phục Sinh cũng bị bắt. Khi 
				Trịnh Doanh chết cuộc bắt bớ mới tạm yên.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>Linh Mục 
				Mateo Alonso Liciana Ðậu, </strong></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Mateo Liciana 
				sinh ngày 26-11-1702 tại Nave del Rey và nhập tu viện Ða Minh S. 
				Croce tại Segovia. Năm 1723, ngài khấn trọn đời rồi tiếp tục học 
				thần học và tu đức. Về tuổi trẻ của ngài, chúng ta không được 
				biết gì nhiều. Năm 1729, tỉnh dòng Phi Luật Tân tuyển mộ các vị 
				thừa sai để làm việc tại đây. Cha Mateo xin ghi tên, nhưng sau 
				lại rút lui. Ngài cảm thấy xấu hổ nên xin làm linh mục và phục 
				vụ tại một tỉnh dòng khác. Một cơn bệnh làm cho ngài suy nghĩ 
				nhiều đến việc từ chối đi truyền giáo. Dịp may lại đến để cha có 
				thể chuộc lại lỗi cũ, ngày 4-7-1729 cha và hai thầy khác nhập 
				đoàn 27 người thừa sai đi Phi Luật Tân.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðoàn truyền giáo 
				tới Manila tháng 10-2730. Cha Mateo được chỉ định đi Bắc Kỳ. 
				Ngày 13-2-1731, cha khởi hành đi với hai tu sĩ khác bằng tầu 
				buôn Hòa Lan. Ngày 18-1-1732, cha tới Bắc Kỳ và được đưa tới nhà 
				Ðức Chúa Trời ở Trung Linh để học tiếng Việt trong năm tháng. 
				Tại đây cha được đặt tên là Ðậu. Trong thời kỳ này giáo dân tại 
				đây đang bị bách hại do sư Tình cầm đầu. Cha Ðậu phải trốn tránh 
				nay đây mai đó, 7 tháng lưu lạc.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Từ năm 1733 cha 
				được chỉ định coi Nam Thượng, rồi thêm ba huyện là Giao Thủy, Vụ 
				Thiên và Chấn Ðinh, sau đó lại thêm Phú Thái và Nam Chân. Tại 
				đây đang có loạn nổi lên làm cuộc rao giảng đạo phải lén lút, 
				khi đi bộ, khi đi thuyền như các dân chài. Hồi ấy các cha thường 
				đi làm phúc các họ một năm hai lần. Dù đang cơn bắt bớ, Cha Ðậu 
				rất nhiệt thành với việc tông đồ. Người chứng thứ mười hai đã 
				làm chứng về lòng nhiệt thành bất kể gian nguy của ngài rằng có 
				một lần họ khuyên ngài đừng đến một làng nguy hiểm thì ngài 
				trách mắng và khuyên bảo họ như sau: &quot;Nếu vì sợ bị bắt mà không 
				đi làm phúc cho bổn đạo thì cha đến xứ này để làm gì? Nếu chúng 
				con sợ vất vả thì còn làm được cái gì nữa? Nếu sợ chết nữa thì 
				theo cha làm chi. Cha đi một mình vậy&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Suốt trong 10 năm 
				làm việc tông đồ cha trốn thoát khỏi tay kẻ thù đến bốn năm lần. 
				Một lần khác, hay tin ở làng Kẻ Bái có một người chối đạo, tên 
				là Chinh Nam, và trở thành kẻ thù của người Công Giáo, Cha Ðậu 
				mạnh mẽ đến gặp ông ta và dùng lời lẽ khôn ngoan đã khuyên được 
				ông ta trở về và làm cho giáo dân ở đó được an tâm. Ngoài ra tại 
				Bắc Kỳ lúc đó có nhiều thiên tai và dịch tễ, Cha Ðậu tỏ ra nhiệt 
				thành bác ái không sợ bị bệnh tật nữa. Người chứng thứ 34 nói về 
				lòng bác ái của cha như sau: &quot;Một năm tại làng tôi có dịch tễ, 
				Cha Ðậu tới cả ngày cả đêm không kể thời tiết xấu. Dù bị bệnh, 
				ngài phó thác nơi Chúa, vẫn tiếp tục đi săn sóc các bệnh nhân 
				khác. Cha Ðậu còn sốt sắng khuyên bảo những người rượu chè và cờ 
				bạc. Ngài có tài khuyến dụ họ bỏ được các thói xấu đó&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tóm lại, trong 10 
				năm cha vừa trau dồi nhân đức bằng việc cầu nguyện hãm mình, vừa 
				sốt sắng làm việc tông đồ và xả thân cứu giúp người nghèo khó.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 29-11-1743, 
				một giáo dân tên là Ðào Tất Ðạt đã đi tố giác nơi cha ở. Sáng 
				sớm đang khi Cha Ðậu làm lễ thì lính nhà quan ùa đến Lục Thủy 
				tìm bắt ngài. Cha Ðậu vội cầm mình thánh trốn vào trong thì bị 
				tên lính túm tóc đánh vào hông làm ngài té xuống đất. Tên này 
				còn đá lên đầu cha làm máu chảy ra. Mấy tên lính khác lột áo 
				ngài và đem chia nhau. Ðồng thời họ cũng bắt luôn Thầy Ignatiô 
				Nguyễn Văn Quí, còn cha phó Giuse Ðinh thì chạy trốn kịp, và hai 
				thầy khác là Sien và Dan cũng cởi trói trốn ra được.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Ðậu và Thầy 
				Ignatiô Quí bị trói và dẫn đến nhà quan phủ Lê Phong tại Vị 
				Hoàng. Tới nơi vào nửa đêm, quan phủ chỉ hỏi tên tuổi rồi cho 
				lính xích chân tay và cấm không cho ai được đến gần. Ít ngày 
				sau, quan phủ cho giáo dân hay là sẽ thả cha nếu họ chịu nộp một 
				số tiền lớn. Giáo dân gom được 90 lạng bạc giao cho quan. Quan 
				vui vẻ nhận nhưng để mặc giáo dân chờ đợi trong thất vọng. Có 
				một đêm, một người lính Công Giáo đến đòi bẻ xích để cha trốn 
				đi, nhưng cha đã không chấp nhận một sự tự do như thế vì nguy 
				hiểm cho người lính. Sau cùng họ giải cha đi Hà Nội, cha cứ 
				tưởng giờ tử đạo đã đến nên dọn mình suốt cả đêm. Cha bị dẫn đi 
				trong thành phố như những tên tội phạm, trẻ con và dân chúng hai 
				bên đường chế diễu.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 18-12-1743, 
				cha được giao cho quan Ðề Lĩnh, con rể của chúa Trịnh, đang trị 
				nhậm Kẻ Chợ. Ban đêm cả hai vợ chồng tới tra vấn và xem cho biết 
				mặt mũi người Âu Châu ra sao. Khi quan hỏi tên tuổi, thời gian 
				cha ở Bắc Việt, đến đây làm gì và giảng dậy những gì, Cha Ðậu đã 
				thưa lại tên ngài là Mateo, đến Bắc Việt được 12 năm và là thầy 
				cả của đạo thánh Ðức Chúa Trời, đạo chân thật, đến xứ này để 
				giảng về Chúa chân thật và về ba bậc cha, đó là Cha Trời Ðất, 
				cha của quốc gia, và cha gia đình. Sau đó ngài đọc cho quan nghe 
				10 điều răn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan Ðề Lĩnh lại 
				hỏi tại sao có lệnh vua quan cấm đạo mà còn đến? Cha Ðậu trả lời 
				là chính vì có lệnh cấm mới không dám xuất hiện công khai, phải 
				lén lút gặp gỡ giáo dân ban đêm để có thể giảng đạo và khuyên 
				nhủ người ta theo con đường thiện hảo. Dân chúng nghe tin có 
				người Âu Châu trong tù cũng tuốn đến xem. Dầu vậy cha vẫn bị đối 
				xử như một người trộm cướp có sức mạnh chịu mọi sự cực hình tra 
				tấn. Bốn tháng trời bị giam giữ trong nhà tù của quan, Cha Ðậu 
				không ngừng rao giảng đạo cho những người đến thăm. Thấy cha 
				giảng vất vả, lính canh tháo gông để cha dễ dàng nói về đạo hơn.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha bị tra vấn cả 
				thảy 7 lần, mãi tới ngày 3-4-1744 cha mới được đưa ra tòa lần 
				đầu tiên cùng với các đồ đạo như thánh giá, ảnh đạo và sách 
				nguyện mà chúng đã tịch thu. Một trong ba quan án trỏ vào cây 
				thánh giá hỏi ngài: &quot;Cái gì đây?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Ðậu trả lời: 
				&quot;Ðó là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đã xuống trần làm người 
				và chịu khổ để đền tội cho nhân loại vì tổ phụ con người đã bất 
				tuân lệnh Chúa Trời đất, và vì không ai chuộc được lỗi tầy trời 
				ấy nên Con Chúa Trời đã làm người chịu chết chuộc tội và có thể 
				làm cho con người được lên trời&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó quan còn 
				hỏi những bức ảnh Ðức Mẹ, Thánh Giuse, v.v... và nghe đọc sách 
				nguyện. Quan lại hỏi về luật trong đạo. Cha Ðậu trả lời: &quot;Tôi có 
				nhiều sách in chữ Hán do các tiến sĩ ở Bắc Kinh, cũng như mấy 
				cuốn sách in bằng chữ An Nam nữa, mà nếu quan có đọc thì chắc sẽ 
				không bắt tôi giam tù như thế này&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó quan hỏi về 
				quê quán và đời sống bên nước Tây Ban Nha như có nhà cửa, tòa án 
				không, người đàn bà có theo đạo như vậy không, v.v....</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 12-4 cha lại 
				bị đem ra trước tòa và quan án hỏi: &quot;Ông có dám đánh cây thánh 
				giá không?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Bẩm quan tòa, 
				tôi là đạo trưởng đến đây để rao giảng luật đạo đức chân thật 
				của Chúa, bởi vậy tôi không khi nào chối đạo và đánh vào ảnh 
				tượng là một trọng tội. Luật mà tôi giảng dậy là chân thật và 
				công bằng, giúp người ta thoát bỏ con đường tội lỗi để trau dồi 
				đức hạnh trong việc tôn kính ba bậc cha&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Ba bậc cha là 
				những ai?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Trước hết là 
				Thiên Chúa cao cả, Cha của mọi thần thánh, rồi mỗi nước có vua 
				và các quan, sau cùng là cha mẹ và các tổ tiên. Con người đã 
				nhận bao nhiêu ân huệ từ ba bậc cha này&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Ðậu được đưa 
				ra khỏi tòa và họ bắt đầu tra vấn Thầy Ignatio Quí trong hai 
				tiếng đồng hồ. Sau đó lại gọi Cha Ðậu trở lại và hỏi có biết 
				Thầy Hoi, Thầy Xa, Thầy Thiên, và Thầy Kiên không, đồng thời đe 
				dọa là không được nói dối. Cha Ðậu trả lời: - &quot;Không biết. Tôi 
				chỉ biết tên Ignasio, Luca, Giovani và Giuse&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Quê quán của 
				mấy người này ở đâu?&quot;<br>
				- &quot;Tôi không biết.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Họ liền bàn luận 
				với nhau về phép Rửa Tội. Cha Ðậu liền nhân cơ hội nói với họ 
				đầy đủ về các bí tích: &quot;Chúa chúng tôi là Ðức Giêsu Kitô đã lập 
				ra 7 nghi thức gọi là bí tích, phép Rửa Tội là một trong 7 bí 
				tích đó. Ðức Kitô đã truyền cho các môn đệ phải đi khắp thế giới 
				để làm phép Rửa Tội và giảng luật cứu rỗi&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">- &quot;Trong 13 năm 
				qua ông ở những đâu?&quot;<br>
				- &quot;Tôi đi nhiều nơi khác nhau, chỉ có tỉnh Nam Ðịnh là ít mà 
				thôi&quot;.<br>
				- &quot;Có phải là ban đêm đàn ông đàn bà ngủ chung với nhau không?&quot;<br>
				- &quot;Ðây là một lời vu khống tầy trời nhắm làm hại người Công Giáo 
				chúng tôi&quot;.<br>
				- &quot;Ông có phù phép gì mà làm cho người ta tin thế? Ông có vợ 
				không? Chịu vất vả như thế này ông được thưởng gì chứ?&quot;<br>
				- &quot;Tôi đã dâng hiến trọn đời cho Chúa và giảng dậy người ta chỉ 
				làm điều lành chứ không được làm những điều ám hại, và cuối cùng 
				tôi chỉ mong phần thưởng trên nước trời&quot;.<br>
				- &quot;Ai đã dẫn ông tới Bắc Kỳ? Ông sống bằng cách nào?&quot;<br>
				- &quot;Người Trung Hoa đã dẫn tôi vào. Tôi chỉ sống bằng của bố thí 
				của giáo dân. Trong thời giặc giã thì tôi ở Nam Chan&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó các quan 
				soạn ra một bản án như sau: &quot;Tuân theo các lệnh của chúa, chúng 
				hạ thần đã xem xét bản tâu trình của đại quan Lê Phương, tổng 
				đốc tỉnh Nam Ðịnh, và đô đốc Ðiều, người đã bắt và giao nộp tên 
				đạo trưởng Ðậu và một số đồ đạo. Chúng hạ thần ký nhận và chịu 
				trách nhiệm rằng đạo trưởng Ðậu, còn có tên là Mateo, từ năm 
				Nhâm Tí 1732 cho đến nay đã sống tại Giao Thủy và dậy dỗ dân 
				chúng những điều chẳng nên và dụ hoặc những người dân đơn sơ. Vì 
				vậy quan Lê Phương và quan Ðiều đã sai Ðào Tất Ðạt truy lùng chỗ 
				ở. Sau khi dò thám ra nơi ở đã sai binh sĩ đến bắt giam và tịch 
				thu đồ đạo. Họ đã bắt giữ đạo trưởng Mateo và thầy Nguyễn Văn 
				Quí cùng với sách luật và tượng ảnh. Sau khi xem xét kỹ lưỡng 
				các sự việc kể trên, chúng hạ thần quyết định rằng đạo trưởng 
				&#39;Hoa Lang&#39; Mateo đáng tội chết và Nguyễn Văn Quí phải đầy chăn 
				voi cho vua và công việc nặng nhất sẽ dành cho y. Các đồ đạo thì 
				phải thiêu hủy. Ðối với quan Lê Phương và quan Ðiều vì đã có 
				công với quốc gia sai lính bắt được đạo trưởng nên sẽ trọng 
				thưởng 70 nén bạc. Ðó là bản án chúng hạ thần đệ trình lên chúa 
				châu phê. Ấn ký ngày 20-3-1744 (Âm Lịch), năm thứ năm của Minh 
				Vương&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy nhiên bản án 
				trên đã không được thi hành, và vì có loạn nên 6 tháng sau bản 
				án được đổi sang lưu đồ chung thân. Bản án được châu phê, nhưng 
				ít ngày sau gặp thời kỳ hạn hán nên chúa Trịnh ra lệnh giảm các 
				án, Thầy Quí được trả tự do sau khi nộp một số tiền, còn Cha Ðậu 
				thì bị tù chung thân. Ngày 30-5-1744 cha được chuyển sang ngục 
				Ðông, nơi Cha Tế đang bị giam giữ. Cũng như Cha Tế, ngài thường 
				ra nhà bà Gạo dùng cơm và được khá nhiều tự do.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong tù, cha ăn 
				mỗi ngày một bữa, tiền còn lại đem cho người nghèo, đồng thời 
				cha còn dậy ba chú học tiếng Latinh, và giảng dậy cho những 
				người đến thăm cha, trong một căn nhà riêng cạnh nhà tù. Ngày lễ 
				có tới 150 người đến dự, có khi họ còn bí mật võng cha đi thăm 
				kẻ liệt. Có lần cả hai cha được đưa đến nói truyện với một quan 
				trong triều về đạo và tặng quan một cuốn sách.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi Cha Tế được 
				tin về án xử thì vui mừng, còn Cha Ðậu thì buồn. Giáo dân làm 
				bản kiến nghị để tù nhân kháng cáo lần cuối khi đi qua phủ chúa 
				Trịnh, Cha Ðậu cũng xin đi theo để chứng kiến việc hành quyết và 
				đồng thời đưa cho quan bản kiến nghị. Trong bản kiến nghị ngài 
				hỏi tại sao bạn ngài bị chém đầu còn ngài thì không, trong khi 
				cả hai cùng là đạo trưởng, nếu chém đầu thì phải chém cả hai, 
				còn nếu tha một thì phải tha cả người kia, và cuối cùng ngài yêu 
				cầu được cùng chung một số phận với người bạn. Chúa Trịnh thấy 
				hành động táo bạo như vậy liền ra lệnh làm một bản án cho Cha 
				Ðậu cùng bị chém. Bản án được viết như sau: &quot;Các quan do chúa 
				Trịnh chỉ định, xét lại bản án do cấp dưới đã trình lên như sau: 
				Tên này trước kia đã bị kết án tử và bây giờ án được lập lại. 
				Vậy ngoại nhân thứ nhất Francis Gil (cha Tế) là một đạo trưởng 
				đạo &#39;Hoa Lang&#39;, tên ngoại nhân thứ hai Mateo (cha Ðậu) cũng là 
				đạo trưởng đạo &#39;Hoa Lang&#39;. Tên sau này án được chuyển sang tù 
				chung thân nhưng vừa được đổi thành xử trảm. Ấn ký ngày 10-12 
				năm thứ năm Minh Vương. Quan án: Phương Hùng, Nghĩa Hậu, Liêm 
				Ngũ Lục, và Trung Hầu&quot;. Thế là hai cha cùng bị đem đi với 8 tên 
				tội phạm khác ra nơi xử.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một nhân chứng 
				tường thuật buổi hành quyết như sau: Hai cha đi vào chỗ thứ ba 
				và bốn, giữa 8 tên tội phạm khác, bị xích lại với nhau thành một 
				hàng. Trời mưa đổ xuống trên đầu trần các ngài, thỉnh thoảng các 
				ngài giơ tay lau nước mưa, nét mặt vẫn hân hoan. Tới nơi các 
				ngài quì xuống cầu nguyện một lát. Sau đó được đưa tới mô đất có 
				trải chiếu sẵn, các ngài lại nằm phục xuống một lúc rồi quì lên, 
				nghiêng đầu chờ lệnh xử trảm. Giáo dân xin hai cha ban phép 
				lành. Các ngài xin họ đọc kinh Tin Kính và sau đó Cha Ðậu tính 
				giảng lần cuối cùng, nhưng một tên lính ngăn lại nói: &quot;Chúa 
				Trịnh kết án vì giảng đạo sai lầm này sao ngươi còn muốn tiếp 
				tục?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Ðậu liền nói: 
				&quot;Tôi đến Bắc Việt là để giảng đạo của Chúa trời đất để mọi người 
				dân cư trong nước này được biết Ngài là Chúa thật. Tôi quyết tâm 
				rao giảng vì biết rằng các vị ở đây chưa biết Chúa trời đất và 
				chưa phân biệt được điều lành điều xấu và không biết cái gì sẽ 
				xảy ra cho đời sau&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một tên lính khác 
				lại nhắc lại: &quot;Vua gớm ghét đạo này, sao còn cả gan nói nhảm 
				nữa?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Ðậu lại nói: 
				&quot;Với cái chết vì đức tin, chúng tôi sẽ được phần thưởng trên 
				nước trời. Cái chết của chúng tôi làm chứng cho cả thế gian về 
				sự thật và sự thánh thiện của đạo Công Giáo trong ngày phán xét. 
				Chính vì vậy chúng tôi không sợ hãi gì cách chết này mà người ta 
				dành cho chúng tôi&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vào lúc 4:00 giờ 
				chiều ngày 22-1-1745, đầu của hai vị anh hùng tử vì đạo rơi 
				xuống. Một tên lính thét lên: &quot;Rồi đây đói kém và thiên tai sẽ 
				đổ xuống trên chúng ta. Tại sao cứ phải giết các đạo trưởng 
				không hề trộm cắp giết người? Chúng ta đều biết rõ họ là đấng 
				thánh&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lòng tôn kính các 
				đấng anh hùng tử đạo đã lôi kéo nhiều người đến mộ các ngài để 
				cầu nguyện và xin ơn. Khi về họ còn mang theo nắm đất để kính 
				nhớ các ngài. Cả những người lương cũng đến cầu nguyện nữa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một người tên là 
				Giuse Can đã thề là kể chuyện có thật sau đây: &quot;Thầy già Khiêm 
				đã kể cho tôi nghe chuyện tên lý hình Chân Nhuệ, đã bắt Cha Ðậu 
				trước đây, bị đau ốm lâu dài. Sau khi nghe biết Cha Ðậu đã chết 
				vì đạo thánh thì ông ta hối cải cầu xin với Cha Ðậu phù hộ, ông 
				ta được khỏi bệnh cách lạ lùng. Ông ta đã từ bỏ thần phật để 
				theo đạo do Cha Ðậu rao giảng&quot;.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một trường hợp 
				khác được kể lại là người giữ chùa bị đau nặng dù đã cầu đảo các 
				thần phật và chạy chữa thuốc men nhưng vẫn không khỏi. Một người 
				Công Giáo đến thăm, lặng lẽ nhúng miếng vải đã được thấm máu đào 
				của Cha Ðậu vào ly nước rồi cho bệnh nhân uống mà không nói gì 
				cả. Bệnh nhân vừa uống hết ly nước thì cảm thấy khỏe mạnh. Ông 
				từ giữ chùa sau đó mới được biết liền xin trở lại đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right"><em>
				<strong style="font-weight: 400"><font size="2">(ST)</font></strong></em></p>
				<h2 style="margin-left: 0; margin-right: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử Đạo.</font></h2>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Matthêu Ðậu nêu gương anh dũng<br>
				Trước gian nguy Cha cũng hiên ngang<br>
				Thừa sai giảng đạo vững vàng<br>
				Xa rời Cố Quốc lên đàng truyền rao<br>
				<br>
				Ơn Thiên Triệu biết bao cao quý<br>
				Ví đạo Trời quyết chí hy sinh<br>
				Ðầu tiên Ngài ở Trung Linh<br>
				Việt Nam Bắc Việt Triều đình lùng săn <br>
				<br>
				Trong năm tháng học chăm tiếng Việt<br>
				Cha thông minh hiểu biết lẹ mau<br>
				Ðặt tên Ðậu bước khởi đầu<br>
				Giáo dân dễ nhớ mặc dầu người Tây<br>
				<br>
				Cha đi lại đó đây đường bộ<br>
				Cũng có khi giả bộ thuyền chài<br>
				Tông đồ rao giảng công khai<br>
				Những nơi nguy hiểm nhưng Ngài vẫn đi<br>
				<br>
				Mở nước Chúa sợ chi cản trở<br>
				Nếu bắt ta cũng ở ý Trời<br>
				Mười năm Cha trốn khắp nơi<br>
				Bao lần thoát hiểm Ngài thời vững tin<br>
				<br>
				Người Kẻ Bái đắm chìm chối đạo<br>
				Tên Chính Nam họ báo cho Cha<br>
				Ngài liền tìm đến tận nhà<br>
				Gặp ông khuyên nhủ thật là khôn ngoan<br>
				<br>
				Tại đất Bắc lan tràn dịch tễ<br>
				Cha chăm lo bất kể giáo lương<br>
				Giầu lòng bác ái phi thường<br>
				Ngày đêm đi khắp nẻo đường cứu dân<br>
				<br>
				Một giáo hữu bất thần xớn xác<br>
				Lên tâu quan tố giác nơi Cha<br>
				Khi đang dâng lễ tại nhà<br>
				Lính quan ùa đến bắt Cha túm đầu<br>
				<br>
				Ðạp vào hông nghe đau té xuống<br>
				Lột áo Ngài đụng nhuốm máu đầu<br>
				Áp giải đi suốt đêm thâu<br>
				Ðưa về Hà Nội ngõ hầu tống giam<br>
				<br>
				Ðến ngày xử Ngài van lãnh án<br>
				Cùng Cha Tế người bạn đồng hành<br>
				Chúa Trịnh ký án rất nhanh<br>
				Hai Cha bị trảm ngoại thành Thăng Long<br>
				<br>
				Trời mưa xuống thấm trong vết máu<br>
				Giơ tay lau đau thấu ruột gan<br>
				Hai Cha vui vẻ hân hoan<br>
				Giáo dân kéo tới xin ban phép lành<br>
				<br>
				Một tên lính đứng canh nói vội<br>
				Vua rất ghét phách lối cả gan<br>
				Ðạo gì lừa gạt nhân gian<br>
				Chém đầu đứt cổ Thiên đàng ở đâu<br>
				<br>
				Cha Ðậu nói phép mầu Chúa xuống <br>
				Cứu linh hồn lên chốn Thiên đàng<br>
				Xác thân tro bụi tiêu tan<br>
				Vua quan cũng vậy suy tàn diệt vong<br>
				<br>
				Lý hình Nhuệ thật lòng sám hối<br>
				Cầu xin Cha tha lỗi cho con<br>
				Lạ lùng bệnh hết không còn<br>
				Thành tâm sám hối lãnh tròn ơn thiêng<br>
				<br>
				Matthêu Ðậu năm sinh Nhâm Ngọ (1702)<br>
				Tại Navarey nước họ (Tây) Ban Nha<br>
				Ất Sửu (1745) tử đạo xứ ta<br>
				Bính Ngọ (1906) phong thánh danh Cha sáng ngời</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>Lời bất hủ: </b>
				Quan trấn Sơn Nam lúc đó là Lê Văn Phượng hỏi cha Matthêu Ðậu 
				rằng: &quot;Ông có biết lệnh vua cấm giảng đạo không?&quot; Cha đáp: 
				&quot;Chính vì cấm, tôi mới phải ẩn trốn chứ&quot;. Quan liền thảo bản án 
				trảm quyết Cha Ðậu. </td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager