File "Dat_Daminh.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/118ThanhTDVN/_TieuSu/Dat_Daminh.htm
File size: 63.16 KiB (64671 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta name="keywords" content="thanh tu dao viet nam, TDVN, hinh anh, tieu su">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Ða-minh Ðinh Ðạt (1803 - 1838) </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">118 Vị Tử Đạo Việt Nam</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Ðaminh Ðinh Ðạt (1803 - 1838) </font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="200" valign="bottom">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				<img border="0" src="../_HinhAnh/DaminhDat.jpg" width="200" height="111"></td>
				<td width="270" valign="bottom">
				<p style="margin-left: 5px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="justify">
				Ðaminh Ðinh Ðạt là một binh sĩ; Ngài sinh năm 1803 tại Phú Nhai, 
				Nam Ðịnh; chết ngày 18/7/1838, tại Nam Ðịnh. Khi người ta khám 
				phá rằng ngài là một người tân tòng, ngài bị bắt, bị tước bỏ 
				chức vụ vì đức tin công giáo (Ngài đi lính từ năm 24 tuổi, tới 
				năm Ngài bị bắt đã ở trong quân ngũ được 12 năm). Ngài có thể 
				thuộc Dòng Ba Ða Minh. Chịu xử giảo (thắt cổ) chết. Phong Á 
				Thánh 1900. Lễ kính vào ngày 13/06.</td>
			</tr>
			<tr>
				<td colspan="2" align="justify">
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vào năm Minh Mệnh 
				thứ 19, nhà vua truyền cho các quan phải bắt các lính có đạo 
				trong quân ngũ phải quá khóa. Quan tổng đốc tỉnh Nam Ðịnh hồi đó 
				là Trịnh Quang Khanh. Chiếu chỉ của vua cho Trịnh Quang Khanh 
				như sau: <em>&quot;Nếu khanh muốn giữ vững thủ cấp trên cổ, khanh 
				phải tuân theo lệnh của trẫm. Trẫm trao phó cả ngàn quân sĩ và 
				đặt hết tín nhiệm nơi khanh. Hạn cho khanh trong vòng một tháng 
				phải bắt tất cả các linh mục trốn tránh trong tỉnh, và thanh 
				trừng các lính Công Giáo trong quân ngũ đến đứa cuối cùng. Trẫm 
				không muốn giết chúng, nhưng trẫm muốn chúng bỏ đạo.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thừa lệnh của vua, 
				Trịnh Quang Khanh đã thề tiêu diệt đạo Công Giáo đến nỗi không 
				có một quan nào dữ tợn hơn ông trong lịch sử bách đạo tại Việt 
				Nam. Ðể thi hành đắc lực lệnh của nhà vua, Quan Trịnh Quanh 
				Khanh còn sáng chế ra những hình phạt kinh khủng để làm cho 
				người Công Giáo hoảng sợ mà chối đạo. Ðối với những người nhất 
				định không chối đạo, thì ông dùng tù đày, hoặc khuyến dụ bằng 
				những lợi lộc hoặc chức quyền. Ông cũng không quên dùng những 
				người Công Giáo đã bỏ đạo để làm lung lạc các chiến sĩ của Chúa. 
				Có khi ông còn dùng áp lực phạt thân nhân của các người Công 
				Giáo, để vì thương hại thân nhân mà chối đạo. Trong thành Nam 
				Ðịnh vào năm 1838 có tất cả chừng 500 lính Công Giáo bị điệu ra 
				trước tòa để xử. Dĩ nhiên không phải cả 500 người đều là những 
				Công Giáo tốt. Trong số này, có đủ loại người, có người đạo đức 
				và có người sống đời bê bối. Nhưng họ đều có đức tin. Tuy nhiên 
				Trịnh Quang Khanh cho điệu tất cả các lính tới hầu tòa. Trước 
				khi hầu tòa, quan cho các ông ăn uống no say. Sau khi ăn uống, 
				quan cho cả ngàn quân lính võ trang bao vây các ông lại. Trên 
				khán đài, quan tổng trấn ngồi chễm trệ, với các chức sắc dân sự 
				và quân sự ngồi theo thứ tự đẳng cấp. Ở một phía bên của tòa án, 
				lý hình với đủ mọi hình cụ dữ tợn để dọa các lính trung kiên với 
				giáo hội. Ở phía khác, quan truyền đặt nhiều cây thánh giá để 
				lính Công Giáo phải bước qua. Trịnh Quang Khanh đứng lên, bước 
				tới phía trước khán đài, rồi truyền lệnh cho quân sĩ. Ông hứa 
				hẹn rất nhiều lợi lộc của vua ban cho quân sĩ chối đạo. Ông cho 
				họ biết ông đối xử với quân lính như người cha, như người mẹ. 
				Tuy nhiên ông muốn biết chắc chắn rằng quân sĩ của ông phải nghe 
				lời ông thì mới được hưởng tước lộc vinh hoa phú quý. <em>&quot;Ðức 
				vua không thể sai lầm, ngài đã cấm theo đạo Gia Tô. Vậy mọi 
				người phải bỏ đạo đó.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan không đòi hỏi 
				gì khác, chỉ cần quân lính bước qua thập giá. Quân lính đó sẽ 
				được phục chức trong quân đội và không ai đả động đến tôn giáo 
				này với họ trong tương lai nữa. Ông cũng không quên đe dọa những 
				phần tử bất tuân lệnh của ông. Ông chỉ về phía các hình cụ để đe 
				dọa những phần tử bất tuân.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau khi tuyên bố 
				những lời vừa khuyến dụ vừa đe dọa, quan truyền cho các quân sĩ 
				phải lần lượt bước qua thập giá. Một số rất lớn đã vâng lời quan 
				bước qua thập giá, một số khác thì từ chối ngay từ đầu. Nhưng 
				quân lính dùng sức lôi họ qua thập giá rồi kể như họ đã bỏ đạo. 
				Cũng có người thì dùng tiền hối lộ để khỏi bị lôi qua thập giá. 
				Những người này, quan cũng coi như đã bỏ đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau cuộc xét xử 
				hỗn loạn bắt 500 lính Công Giáo bỏ đạo, các quan vô cùng hoan 
				hỉ, vì phần lớn đã chối bỏ đức tin. Những người chối đạo này trở 
				về nhà bị lương tâm cắn rứt. Nhiều người suốt đời ăn năn thông 
				hối, mỗi khi đi xưng tội thì chỉ khóc lóc vì tội phản bội của 
				mình. Có người hối hận suốt đời. Có người vẫn khóc khi đi xưng 
				tội dù đã 40 năm sau. Như trong truyện của các cha truyền giáo 
				kể lại, có người vào tòa xưng tội chỉ khóc lóc, còn tội thì 
				chẳng phạm tội gì nặng cả. Cha hỏi tại sao con cứ khóc mỗi khi 
				con đi xưng tội, thì ông trả lời: <em>&quot;Thưa cha, con bất hạnh đã 
				đạp thánh giá Chúa, đã 40 năm nay con hối hận khóc lóc mỗi ngày. 
				Sao con còn dám phạm tội nào khác nữa?&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong số 500 quân 
				lính cũng còn 15 người nhất định không để cho lính kéo qua thập 
				giá. Họ nhất quyết xưng mình là Kitô hữu. Lập tức họ bị đánh đập 
				tra tấn. Quan truyền lấy gông nặng đeo vào cổ các ông và truyền 
				lệnh giải các ông vào nhà lao. Trong nhà lao, chân tay các ông 
				bị cùm, và bị bỏ đói, tuy nhiên các tín hữu vẫn có thể hối lộ để 
				nuôi các ngài. Ngày hôm sau, quan tìm cách khác thay vì đánh 
				đập, quan bắt bạn bè, vợ con của 15 ông này phải khuyên nhủ các 
				ông bỏ đạo. Những lính đã bỏ đạo cũng được lệnh phải khuyên nhủ 
				các ông. Nhưng các ông vẫn trung thành. Quan lại truyền quân 
				lính đánh đập các ông. Quân lính lại lôi các ông qua thập giá, 
				nếu ông nào nhấc chân lên không chịu đạp lên thánh giá thì bị 
				quân lính dùng roi đánh vào chân các ông. Thậm chí chúng còn 
				buộc thánh giá vào chân các ông để các ông bước đi, rồi hô lên 
				các ông đã bỏ đạo. Các ông phản đối và quyết xưng mình là Kitô 
				hữu. Quân lính tức giận lại đánh các ông rất đau đớn. Vừa bị đòn 
				đánh, vừa bị thân nhân và bạn bè dùng đủ mọi lý do để khuyên nhủ 
				các ông bỏ đạo, sau cùng không chịu được nữa, sáu ông đã xin bỏ 
				đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Bây giờ con số còn 
				lại chỉ còn có chín ông. Can đảm nhất trong chín ông là ông 
				Augustinô Huy. Chín ông bị điệu về ngục thất. Ðêm ấy ông Huy, dù 
				đã xưng đạo ra hai lần vẫn cảm thấy mình tội lỗi cần phải gặp 
				cha để đi xưng tội. Ông Huy là người Công Giáo nhưng ông có hai 
				vợ. Ông đã cưới người vợ có đạo, rồi sau lại cưới một người 
				ngoại đạo ở tỉnh. Ông tìm cách hối lộ để có thể về nhà giải 
				quyết vấn đề gia đình và gặp cha để lo xưng tội. May mắn, ông 
				gặp Cha Thiều cũng có tên là Cha Năng đang làm phúc tại họ Phú 
				Ðường gần nhà ông. Ông đến xin Cha Thiều tha tội. Cha Thiều buộc 
				ông phải làm tờ giấy bỏ vợ hai. Cha cũng an ủi ông và khuyên ông 
				vững lòng chịu khổ vì đạo. Ông Huy vâng lời. Sau khi chịu các 
				phép bí tích, sáng ngày hôm sau, ông lại trở lại nhà giam để 
				chuẩn bị cho cuộc xưng đạo thứ ba.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày ấy, chín 
				người lính lại bị điệu ra trước tòa. Trong phiên tòa, quan Trịnh 
				Quang Khanh lại hứa hẹn ban nhiều bổng lộc của nhà vua cho ai 
				chối đạo, và sẽ phạt nặng nề những ai bất tuân. Trong số chín 
				ông, bốn ông lại xin bỏ đạo. Chỉ còn năm ông nhất định không 
				chịu quá khóa. Quan Trịnh Quang Khanh thấy vậy rất tức giận, 
				truyền cho quân lính đánh các ông nát cả thịt ra. Quan còn 
				truyền lấy búa đập vào các ngón tay cùng nhiều hình khổ khác 
				đánh đập các ông làm các ông đau khổ mà không thể chết được. Ông 
				không muốn giết các ông mà chỉ mong muốn các ông bỏ đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau khi thất bại 
				làm lay chuyển lòng dạ sắt đá của năm ông, quan bực mình vừa 
				nguyền rủa vừa truyền tống giam các ông vào ngục như cũ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thất bại trong 
				việc diệt trừ đạo Công Giáo, quan Trịnh Quang Khanh bị vua khiển 
				trách và cất chức tổng đốc Nam Ðịnh. Ông bị giáng cấp xuống tuần 
				phủ. Ngày 12 tháng 4 nhuận năm ấy, ông Lê Văn Ðức đang làm tổng 
				đốc Sơn Tây, được cử làm tổng đốc Nam Ðịnh. Ông Lê Văn Ðức cũng 
				theo lối của Trịnh Quang Khanh mà bắt các ông này phải bỏ đạo. 
				Ông Huy và các bạn vẫn cương quyết trung thành với Chúa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 25 tháng 6 
				năm 1838, tại tỉnh Nam Ðịnh quan truyền xử tử Ðức Cha Minh 
				(Henares) và Thầy Phanxicô Chiểu. Quan thượng cũng truyền đem cả 
				năm ông lính đi nữa, giả cách như phải xử một trật với hai đấng 
				kia. Mục đích của quan là để các ông sợ chết mà bỏ đạo. Trái lại 
				các ông vẫn không sợ mà lại vui mừng vì tưởng giờ tử đạo của 
				mình đã đến. Các quan thấy các ông vui mừng lại càng ngạc nhiên, 
				không hiểu tại sao các ông lại muốn được chết vì Chúa. Quan lại 
				truyền điệu các ông về ngục như cũ. Các ông thấy mình không được 
				chết vì đạo, thì lại buồn hết sức.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sáng ngày hôm sau, 
				26 tháng 6 quan tổng trấn lại truyền năm ông phải hầu tòa, ông 
				cố gắng hết sức nào áp dụng các hình cụ mà ông mới sáng chế ra, 
				nào đe dọa, nào khuyên nhủ với nhiều hứa hẹn. Các ông vẫn không 
				chịu bỏ đạo. Quan tổng trấn lại truyền đánh đập các ông sưng cả 
				mặt mũi, máu chảy đầm đề. Dù bị đánh đập tàn nhẫn không còn hình 
				tượng người ta nữa, khi hỏi có còn xưng mình là Kitô hữu nữa 
				không, các ông vẫn khẳng khái tuyên xưng các ông vẫn là kẻ có 
				đạo. Thấy mình thất bại, quan tổng trấn càng giận dữ, ông chửi 
				bới thậm tệ, và truyền cho lý hình đánh các ngài cho tới khi nào 
				các ông chịu bỏ đạo thì thôi. Quan tổng trấn mới hành hạ các ông 
				này hơn tuần lễ, nhưng vẫn vô ích.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày kia ông 
				truyền cho lý hình, buộc gông rất nặng vào cổ các ông rồi kéo 
				các ông qua thập giá. Các ông nhất định giơ chân lên chứ không 
				chịu đạp vào thập giá, thì quan lại truyền cho lính đánh đập vào 
				chân các ông đến nỗi các ông không còn sức để mà giữ chân co lên 
				cao được nữa, tức thì chân phải hạ thấp xuống và đạp lên tượng 
				thì quân lính reo hô thật to: &quot;Ðã quá khóa rồi.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan án lúc đó 
				truyền không hành khổ các ông nữa, và hỏi các ông: &quot;Sau cùng, 
				các ngươi đã tuân lệnh nhà vua chưa?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vừa bị đánh đập 
				đau đớn, vừa sợ hãi, hai ông Siêu và Dụ nói: &quot;Quan lớn dậy thế 
				nào thì chúng tôi xin vâng.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lậy tức hai ông 
				được quan lớn tha và hứa hẹn đủ điều. Quan lại hỏi ông Huy, ông 
				Thể và ông Ðạt thì cả ba ông đều thưa: <em>&quot;Quan lớn dậy việc gì 
				khác chúng tôi xin vâng, còn bỏ đạo thì chúng tôi không bỏ.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan lại truyền 
				giam ba ông vào ngục thất và đeo xiềng và đóng gông nặng hơn 
				nữa.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thấy hai bạn đã bỏ 
				đạo, ông Huy, ông Thể và ông Ðạt càng ăn chay đánh tội nhiều hơn 
				nữa để xin ơn bền vững. Hai ngày sau khi hai ông lính bỏ đạo, 
				quan thượng nghĩ rằng ông cũng có thể làm cho ba ông này bỏ đạo 
				như hai ông kia. Ông liền truyền dẫn ba ông vào dinh của ông rồi 
				truyền cho ba ông phải bỏ đạo. Ba ông không chịu. Quan thượng 
				lúc đó cũng muốn biết các ông theo đạo và sống đạo thế nào. Quan 
				truyền cho ba ông đọc kinh trước mặt quan. Quan đưa sách cho các 
				ông và truyền cho các ông đọc. Bấy giờ ông Huy, cầm lấy sách đạo 
				mà quan trao cho, đọc theo như cung cách quen đọc trong nhà thờ. 
				Các quan cùng mọi người trong dinh, nín lặng để nghe các ông đọc 
				kinh. Nhân dịp này ông Huy lợi dụng để giảng giải về lẽ đạo cho 
				quan. Quan lắng nghe, nhưng khi giảng tới đoạn không vừa ý quan. 
				Quan liền truyền quân lính vả vào miệng ông. Sau đó quan thượng 
				lại truyền ba ông phải bỏ đạo. Ba ông cương quyết từ chối. Quan 
				thượng lại truyền quân lính khiêng các ông qua tượng thánh giá 
				như những lần trước. Lần này quan truyền đánh dữ tợn hơn lần 
				trước, đánh đến nỗi chân các ông đầy máu me. Khi chân các ông 
				chạm vào thánh giá, thì quân lính lại hô lên: &quot;Quá khóa rồi, quá 
				khóa rồi.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lúc đó ông Huy, 
				đại diện hai ông kia kêu lên: <em>&quot;Quan lớn dậy đánh đòn cùng 
				kéo ép chúng tôi, có lẽ nào mà nói chúng tôi đã quá khóa được 
				ru?&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tức thì quan 
				thượng truyền nọc ba ông này ra đánh đòn. Ông bị đánh 20 roi, 
				ông bị đánh 30 roi. Riêng ông Huy thì bị đánh 40 roi ngay hôm 
				đầu. Có chứng nhân nói rằng trong ba ngày liên tiếp mỗi ông bị 
				đánh chừng 130 trượng. Khi hỏi các người khác rằng các đấng bị 
				đánh nhiều trượng như thế thật không? Ai ai cũng đồng ý như vậy.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dịp khác các quan 
				lấy nhiều lý lẽ mà khuyên ba ông bỏ đạo. Ông Huy lại đại diện 
				anh em thưa rằng: <em>&quot;Bẩm quan lớn, quan lớn dậy chúng tôi bỏ 
				đạo Thiên Chúa, thì chúng tôi sẽ theo đạo nào, vì trong các đạo 
				khác chẳng có đạo nào là đạo thật.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan thượng nghe 
				thế liền nói: &quot;Nếu ngươi bảo đạo chúng bay là đạo thật, sao vua 
				nghiêm cấm đạo ấy?&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó quan còn 
				nói nhiều điều phạm thượng tới đạo Công Giáo. Ông Huy lại có dịp 
				cắt nghĩa lẽ đạo cho các quan, cùng bẻ các lý lẽ mà quan đã nói. 
				Thất bại về tranh biện với các đấng này, quan thượng lại truyền 
				đánh đập và phạt các ông.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vào những buổi 
				trưa hè nóng bức, các ông bị cạo trọc đầu, cổ mang gông, chân 
				tay xiềng xích, phơi nắng trước cổng dinh. Giữa lúc nắng hè, các 
				ông đau khổ phần vì nóng bức, phần vì ruồi nhặng bậu vào để hút 
				những vết máu mà tay chân các ông bị xiềng xích không thể đuổi 
				đi được. Giữa lúc đó các bạn hữu, các bạn đồng đội theo lệnh 
				quan thượng phải tới khuyên nhủ các ông bỏ đạo. Hơn nữa, quan 
				lại còn thưởng cho những tín hữu bỏ đạo, hay thăng cấp. Ðiều này 
				cũng làm cho các ngài dễ dàng bị lung lạc. Có lần vợ ông Ðạt đến 
				khóc lóc và dùng đủ mọi cách để chồng dẵm lên thánh giá. Ông Ðạt 
				đã đủ can đảm trách mắng vợ và cấm bà lần sau không được đến gặp 
				ông nữa. Các ông vẫn bị phơi nắng từ ngày này sang ngày khác. 
				Lần kia có một người tín hữu thấy ông Huy bị phơi nắng khổ sở 
				như vậy, liền lấy quạt che cho ông. Khi ông Huy thấy cử chỉ của 
				bà như vậy, ông cám ơn bà và nói với bà:<em> &quot;Chúa để chúng tôi 
				chịu sự khốn khó để đền tội chúng tôi. Tôi xin bà đừng che nắng 
				cho tôi.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong ngục tù, các 
				đấng này còn ăn chay hãm mình bốn lần một tuần: thứ Hai, thứ Tư, 
				thứ Sáu và thứ Bảy. Dù đồ ăn trong ngục đã ít oi, mà các đấng 
				còn hy sinh để giúp cho những tù nhân khác. Các ông cầu nguyện 
				không ngừng và còn xin các bổn đạo khi đến thăm các ngài: <em>
				&quot;Xin các ông các bà cầu cho chúng tôi để chúng tôi bền vững, vì 
				chúng tôi biết chúng tôi rất yếu đuối.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan thượng là 
				người thông minh, học rộng thế mà lại tranh luận thua những 
				người học thức tầm thường này. Ðức Cha Marti nói: <em>&quot;Về vấn đề 
				này, tôi rất tiếc không đủ tài liệu chi tiết về những lý luận 
				ngu xuẩn và phi lý của quan trên về đạo giáo đối với ba quân 
				binh này. Tôi biết họ hỏi rất nhiều câu hỏi đặc biệt về bí tích 
				giải tội và hôn phối. Ông Huy đã trả lời rất đúng và khúc chiết 
				và dễ dàng đập tan những ý xảo quyệt của những người vô đạo và 
				thờ ngẫu tượng này. Ông thường nói về mục đích của Chúa ban phép 
				bí tích, sự thánh thiện của bí tích, sự thánh thiện của nghi 
				thức đi kèm với bí tích. Về bí tích giải tội, ông nói nếu giải 
				ban đêm là vì trong thời cấm đạo. Còn bình thường các cha giải 
				tội ban ngày.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðức Cha Marti còn 
				kể tiếp ít nhất là một lần, quan thấy ông Huy đối đáp khôn khéo, 
				quan truyền đuổi ông ra ngoài, kẻo ông nghe được những người 
				quanh quan thượng khen ngợi hoặc ông lại ảnh hưởng trên các 
				người chung quanh quan.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Một ngày kia, quan 
				lại hạch hỏi và tranh luận với ông Huy về quá khứ đời tư của 
				ông, để làm ông chán nản: &quot;<em>Giả dụ như có ai từ trước tới nay 
				sống đời đạo đức mà muốn chết vì đạo còn hiểu được, chứ như 
				ngươi trong quá khứ đã sống như người ngoại, có hai vợ, ngươi 
				sống dường như không phải là bổn đạo. Mà bây giờ ngươi cứ giữ 
				luật Kitô hữu, thì quả là điên khùng, không thể chấp nhận được.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Về vấn đề này, ông 
				Huy đã trả lời quan với hết lòng khiêm nhường rằng cho tới nay 
				ông đã sống đời sống Kitô hữu như gương mù, theo tính xác thịt, 
				theo sự yếu đuối của ông. Nhưng Chúa nhân lành vô cùng đã thương 
				ông, cho ông biết thống hối, và bỏ vợ hai. Ông đã bỏ mọi sự ngay 
				cả mạng sống nữa chứ không bỏ đạo Kitô giáo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Không lay chuyển 
				ông được, quan thượng lại dùng bạo lực. Ðức Cha Marti kể lại 
				rằng quan thượng còn dùng nhiều hình khổ đặc biệt để lay chuyển 
				ý chí sắt đá của ông Huy. Quan bắt lính kéo ông qua thánh giá, 
				và dùng roi đánh chân ông bắt chân ông chạm vào thập giá. Khi 
				chân ông đụng vào thập giá chúng lại reo lên: &quot;Nó đã quá khóa 
				rồi, nó đã quá khóa rồi.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Huy lại đáp 
				lời: <em>&quot;Các ngươi dùng võ lực lôi thân xác ta, các ngươi cố 
				dùng sức lực lôi chân ta, nhưng các ông có dùng sức mạnh để lung 
				lay ý chí ta được không? Bao lâu ta không chịu, thì dù có đánh 
				đập các người cũng không đạt được mục đích đâu!&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trong hồ sơ phong 
				thánh của ông và hai vị có đoạn nói lên rằng lòng tin và lý luận 
				của các ông phần nào làm cho quan tổng trấn Lê Văn Ðức phải cảm 
				động. Quan nói: &quot;<em>Các ngươi làm cho ta thấy tội nghiệp các 
				ngươi quá. Ta không muốn hành hạ các ngươi hơn nữa. Dù ta có 
				hành hạ các ngươi thế nào các ngươi cũng không bỏ đạo và bước 
				qua thập giá. Tôn giáo các ngươi là tôn giáo gì vậy? Hãy nói đi 
				ta muốn nghe các ngươi nói.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Huy đã cắt 
				nghĩa cho quan mười điều răn Ðức Chúa Trời và bảy phép bí tích. 
				Quan lớn cảm động và ngạc nhiên về đạo lý của đạo Công Giáo, cảm 
				động quá, ông liền ca ngợi đạo Công Giáo, ông còn xin lỗi các 
				đấng và nói: <em>&quot;Tôi không biết tôi có còn ở đây lâu nữa không. 
				Nếu tôi trở về triều đình, mà các ông phải chịu chết vì đạo các 
				ông, xin hãy nhớ tới tôi và xin làm ơn đừng báo thù tôi.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðến tháng chín, có 
				tin đồn ông Huy và hai bạn bị xử tử. Các ông rất vui mừng. Các 
				ông nhắn tin cho vợ con lên tỉnh để vợ chồng, cha con được giã 
				từ nhau lần cuối. Lúc đó có Cha Năm, ông trùm Ðích, và ông lý Mỹ 
				cũng bị giam gần đấỵ Các bà cũng vào thăm các ngài. Cha Năm bảo 
				các bà rằng: <em>&quot;Hôm nay không biết ba ông binh sống chết thế 
				nào, song chắc các ông còn phải chịu nhiều sự khốn khó nữa. Cụ 
				gần đến ngày chịu chết rồi, dù cụ là thày cả mặc lòng cũng nghĩ 
				rằng mình khó mà có thể chịu đựng vì Chúa như ba ông binh.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cùng ngày hôm ấy, 
				ba ông lại bị điệu vào hầu quan, ba ông lại bị một trận đòn nên 
				thân, đến nỗi trong mình chẳng có chỗ nào lành. Tuy nhiên các 
				ông vẫn không chịu quá khóa. Quan lại đành giam các ông vào ngục 
				thất. Khi trở lại ngục thất, Cha Năm hỏi các ông: <em>&quot;Sao, hôm 
				nay chúng con được trận hay thua?&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cả ba ông đều trả 
				lời cha: <em>&quot;Chúng con chẳng chịu quá khóa lúc nào, mà chỉ 
				trông được chịu chết vì đạo, vì quan lớn đã dậy làm án xử cho 
				chúng con rồi.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quả thật các quan 
				lúc đó đã làm án xử tử ba ông, và đệ tấu nhà vua. Vua Minh Mệnh, 
				đọc tấu sớ của các quan, nhưng ông chẳng muốn giết các ông này. 
				Nhà vua liền ra chiếu chỉ truyền cho các quan phải tìm hết cách 
				để khuyên dụ các ông binh bỏ đạo: <em>&quot;Ta lấy sự sống người ta 
				làm trọng lắm, khi đã cắt đầu chẳng còn phép nối lại được nữa, 
				ta truyền cho các quan phải dùng mọi cách, làm sao cho ba tên 
				lính bỏ đạo Gia Tô, nhất là truyền đem ra ngoài cửa thành cho 
				dân chúng xỉ vả. Nếu khi sự ấy chẳng đủ, thì đem ra ngoài mà giả 
				cách chặt ngang lưng cho sợ hãi.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các quan vâng theo 
				chiếu chỉ của vua, đóng gông đem ông Huy và ông Thể ra cửa Ðông, 
				ông Ðạt ra cửa Nam. Ông Huy và ba ông đều không sờn lòng.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tháng 10 năm 1838 
				quan tổng trấn Trịnh Quang Khanh phục chức tổng trấn Nam Ðịnh 
				thay thế Lê Văn Ðức. Quan tổng trấn thấy ba ông vẫn cứ vững lòng 
				trung kiên thì cũng lại đệ án xin nhà vua xử tử các ông. Tuy 
				nhiên vua Minh Mệnh không cho giết, trái lại còn truyền cho ông 
				Trịnh Quang Khanh phải tìm đủ mọi cách khuyên dụ. Chẳng những 
				thế, vua còn quở trách ông Trịnh Quang Khanh:<em> &quot;Mày không bảo 
				được ba thằng lính phàm hèn, mà cai quản cả tỉnh thế nào được.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ba ông bị điệu ra 
				ngoài thành cho xỉ vả liên tiếp 21 ngày, rồi lại bị giam vào 
				ngục vừa bị hành hạ vừa bị dụ dỗ. Quan lại truyền cho những 
				người đã bỏ đạo trước phải vào để dụ dỗ ba ông. Nhưng các ông 
				không nghe còn dùng nhiều lý lẽ để làm cho họ phải xấu hổ và ăn 
				năn. Quan Trịnh Quang Khanh thấy đã hết kế, sau cùng ông dùng 
				một âm mưu rất độc. Quan bắt anh em họ hàng của ba ông, cùng lý 
				dịch ba xã Hạ Linh, Phú Nhai, Kiên Trung. Khi các người tới 
				trước mặt quan thượng, ông truyền cho họ phải làm sao cho ba ông 
				quá khóa, nếu không làm nổi thì tất cả đều phải chịu chết với cả 
				ba ông. Anh em họ hàng cùng huynh thứ trong xã rất sợ hãi, nên 
				cố sức để dụ dỗ ba ông. Khỏi mấy ngày quan thượng đòi cả ba ông 
				vào để xem các ông đã sẵn lòng bỏ đạo chưa. Nhưng ba ông cứ một 
				mực vững lòng. Tức thì quan truyền cho thân nhân, huynh thứ 
				trong ba xã, và các lính đồng đội phải vào để khuyên nhủ ba ông. 
				Nhưng dù các người này cám dỗ thế nào các ông vẫn một lòng trung 
				kiên. Quan Trịnh Quang Khanh tức giận lắm, ông chửi các lý dịch 
				cùng huynh thứ trong xã: <em>&quot;Tại chúng mày, mà ba thằng này bất 
				trị, vì chẳng dậy bảo chúng nó vâng chịu luật phép nhà nước cho 
				sớm, nên chúng mày phải chịu tội với chúng nó.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nghe quan thượng 
				nói vậy, huynh thứ và lý dịch rất sợ hãi, xin khất quan một 
				tháng để khuyên bảo các ông này. Các ông cũng không quên xin 
				quan thượng đừng giam các ông này chung với nhau, xin giam mỗi 
				người một nơi để dễ dàng khuyên bảo. Quan thượng ưng cho khất 
				một tháng, và giam ba ông riêng biệt.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Hết hạn một tháng, 
				quan nghĩ chắc ba ông đã mềm lòng có thể chịu bỏ đạo, quan liền 
				truyền điệu các ông đến. Song các ông vẫn không chịu quá khóa. 
				Bấy giờ quan truyền nọc đánh một người huynh thứ xã Kiên Trung. 
				Ông Thể thấy người huynh thứ bản xã bị nọc đánh đòn thì thương 
				hại, ông thưa với quan rằng: &quot;Lạy quan lớn, xin quan lớn tha 
				cho, quan lớn dậy thế nào con xin vâng.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan bảo ông quá 
				khóa, ông đành vâng theo. Lúc đó các quan thấy một tên lính đã 
				thua trận thì vỗ tay reo mừng, liền tháo gông bẻ xiềng cho ông 
				Thể. Sau đó mọi người lại xúi giục ông Huy và ông Ðạt bắt chước 
				ông Thể mà chịu quá khóa. Một quan nói với ông Ðạt: <em>&quot;Mày cứ 
				bắt chước tên Thể mà bước qua thập tự, khi trước cả ba tên đều 
				hợp lực bất kháng, bây giờ tên Thể đã vâng lời vua, sao mày còn 
				cứng cổ.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Bấy giờ ông Ðạt 
				cũng chiều lòng các quan mà bước qua thập tự.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phần ông Huy, dù 
				hai bạn đã quá khóa, ông vẫn không sờn lòng. Các quan vẫn không 
				thất vọng cố tìm cách dụ dỗ ông Huy bỏ đạo. Ðêm đó, quan cho 
				người vào phòng ông Huy dụ dỗ ông rằng: &quot;Chú phải vâng lời vua 
				như hai ông kia, thì chẳng ai cười chê chú được. Vì chú đã chịu 
				khó vững vàng hết sức rồi. Vua chẳng muốn giết chú, mà cũng 
				chẳng muốn tha chú nếu chú không quá khóa, nếu chú bước qua một 
				lần mà thôi thì khỏi mọi sự rầy rà này.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau cùng, ông Huy 
				cũng chối đạo như hai ông bạn kia. Sau đó, quan phát cho mỗi ông 
				10 quan tiền rồi thả các ông về nhà.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Dòng dã tám tháng 
				trời các ông chịu cực hình và khuyên dụ bỏ đạo mà các ông vẫn 
				trung kiên, nên ai cũng cảm phục. Bây giờ nghe tin các ông chối 
				đạo, rất nhiều người không tin. Có người cho rằng các ông bị bùa 
				ngải làm mê loạn nên các ông mới chối đạo. Câu chuyện này vẫn 
				còn trong vòng nghi ngờ, nhiều người vẫn không tin các ông đã 
				chối đạo, nhất là sau này các ông lại xưng đạo và chịu chết vì 
				đạo. Có những người biết chuyện thì cố tình tạo nhiều ý khác 
				nhau để che đậy sự nhút nhát của ba ông hồi ấy. Trong các thư 
				báo cáo về Manila, và Âu Châu thì quả quyết các ông tự ý chối 
				đạo chứ không có ai ép uổng các ông. Chính ba ông binh cũng tự 
				thú chuyện các ông chối đạo là sự thật. Ðức Cha Marti, đã điều 
				tra rất nhiều người và kết luận chuyện các ông bị bùa ngải là vô 
				căn cớ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Từ khi ba ông bỏ 
				đạo, thì lương tâm các ông cắn rứt vì đã chối đạo và gương xấu 
				mình đã làm. Ba ông đã bàn bạc với nhau cũng như hỏi người khác 
				xem phải làm thế nào để trở lại cùng Chúa. Mấy ngày sau, ông Huy 
				cũng như hai ông binh kia đi xưng tội. Bởi ơn Chúa thúc đẩy, cả 
				ba ông đều muốn lên tỉnh để xưng đạo. Lên tỉnh Nam Ðịnh, cả ba 
				ông vào dinh quan thượng. Ba ông lạy quan thượng, rồi ông Huy 
				đại diện anh em để thưa với quan: &quot;Bẩm quan lớn, đạo Thiên Chúa 
				là đạo thật, Chúa chúng con thờ là đấng cao cả phép tắc vô cùng, 
				bởi chúng con đã quá dại mà chịu quá khóa, mất nghĩa cùng Chúa 
				chúng con, nay chúng con xin giả tiền lại cho vua và quan lớn, 
				cùng xin giữ đạo Thiên Chúa cho thật lòng.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trịnh Quang Khanh 
				nghe những lời ấy thì tức giận chửi rủa các ông thậm tệ, sau đó 
				truyền giam các ông trong ngục rồi truyền cho lính hàng đội phải 
				dụ dỗ ba ông như trước, tuy nhiên ba ông vẫn một lòng trung 
				kiên. Quan Trịnh Quang Khanh không biết phải làm thế nào, vì 
				trước đây ông đã tâu về triều đình rằng ba ông đã quá khóa, bây 
				giờ nếu xử án ba ông thì không biết ăn nói sao với triều đình. 
				Quan liền truyền cho lý dịch ba xã đến để nhận tiền thay vì các 
				ông, rồi đuổi ba ông về làng không cho đến làm phiền các quan 
				nữa. Các ông buồn rầu ra về, tuy nhiên lòng các ông vẫn không 
				yên trí. Các ông chẳng ao ước sự gì thế gian mà chỉ ao ước được 
				chết vì đạo Chúa. Các ông càng gia tăng việc cầu nguyện, ăn chay 
				hãm mình và làm việc phúc đức để mong được chết vì đạo.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quyết định của 
				quan tổng trấn không làm cho các ông hài lòng, các ông lại bàn 
				với nhau:<em> &quot;Nếu quan thượng không cho chúng ta chết vì đạo, 
				thì chúng ta sẽ vào kinh tâu xin nhà vua cho chúng ta chết vì 
				đạo, để sửa lại gương mù gương xấu chúng ta đã làm.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Huy lại bảo 
				các bạn: <em>&quot;Nếu các ông không đi thì tôi đi một mình.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lúc đó ông Thể 
				cũng nói thêm vào: <em>&quot;Nếu ông đi, tôi cũng đi với ông.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðể đi tới quyết 
				định trên các ông đã bàn hỏi với Cha Tuyên. Cha Tuyên hỏi cặn kẽ 
				lý do các ông bỏ đạo, các ông đáp: &quot;Quả thực trong lòng chúng 
				con bỏ đạo chỉ vì thương cha mẹ, anh em, và huynh thứ trong 
				làng. Chúng con tin rằng nếu chúng con không bước qua thập giá, 
				thì quan thượng cũng bắt tất cả phải bước qua thập giá. Nếu họ 
				vì sợ mà ưng thuận, chúng con lại không phải chịu trách nhiệm về 
				tội của họ sao? Chúng con đã sai lầm, và chúng con đã bước qua 
				thập giá. Sau khi quá khóa, chúng con cảm thấy hối hận nên đã 
				xưng đạo lại trước mặt quan tổng trấn. Nhưng chỉ có quan tỉnh 
				biết, còn triều đình và nhà vua thì không hay biết gì cả. Chính 
				vì thế chúng con muốn đến gặp nhà vua, và xưng đạo công khai 
				trước mặt người. Như thế mọi người sẽ biết chúng con bước qua 
				thập giá vì sự yếu đuối của chúng con, chứ không phải vì chúng 
				con muốn nghe lời nhà vua mà chối bỏ đạo.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Sau đó Cha Tuyên 
				viết thư hỏi ý kiến Ðức Cha Marti nói rõ lý do các ông đã bỏ đạo 
				và ý các ông muốn xưng đạo lại tại kinh đô. Trong thư, Cha Tuyên 
				cũng kể cho Ðức Cha Marti biết trong thời gian các ông đang cư 
				ngụ tại nhà người, người cũng được thư của Cha Jimeno (sau này 
				làm giám mục), trong đó có đoạn nói: &quot;Thày vui mừng lắm vì ba 
				ông binh lính đã xưng đạo tại tỉnh, lại nghe cả ba ông toan vào 
				đền vua để xưng đạo cách rõ rệt hơn nữa. Ðược như vậy, thày rất 
				vui mừng, và tin rằng Ðức Chúa Trời sẽ giúp cùng ban sức cho họ 
				được thắng trận, xứng đáng lãnh phần thưởng vô cùng mà Ðức Chúa 
				Trời đã dành cho những kẻ chịu khổ vì đạo.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Tuyên đọc thư 
				này cho cả ba ông nghe và họ nhất định vào đền vua. Ông Huy còn 
				xin sao bản thư đức cha để sau này xem lại. Sau đó ba ông bàn 
				với nhau phải vào kinh như thế nào.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vấn đề vào kinh 
				cùng một lúc thật là khó, vì chẳng có bao giờ cả ba ông được 
				nghỉ phép. Lúc đó ông Ðạt nói: <em>&quot;Tháng sau, hai ông được nghỉ 
				ở nhà, mà tôi phải ứng vụ tại tỉnh, hai ông cứ đi, tôi ở lại, 
				nhưng anh em thế nào thì tôi thế ấy. Xin anh em cho tên tôi vào 
				đơn, nếu anh em chịu sự khổ nào trong kinh thì tôi cũng mong 
				được chịu khổ như vậy ngoài này.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Cha Tuyên thấy ba 
				ông nhất định đi chịu chết vì đạo thì người khuyên bảo các ông 
				đủ điều và dậy các ông cậy trông ơn Chúa, ăn ở khiêm nhường. Sau 
				khi nghe cha già Tuyên khuyên bảo, ông Huy và ông Thể về nhà từ 
				giã vợ con anh em thân thuộc lần cuối cùng và xin mọi người cầu 
				nguyện cho mình. Hai ông cũng đi xưng tội chịu lễ để dọn mình 
				còn ông Ðạt lên tỉnh thi hành công vụ.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðầu tháng 3 năm 
				1839, tức năm Minh Mệnh thứ 20, hai ông vào kinh. Con cả ông Huy 
				cũng theo cha vào kinh để xem công việc thế nào. Hết 20 ngày mới 
				vào tới kinh đô Huế. Các ông trọ tại nhà một người bổn đạo tên 
				là bà Tam. Ở đây hơn một tháng, hai ông ăn chay cầu nguyện, dọn 
				mình để vào kinh xin chịu tử vì đạo. Các ông đệ đơn và kêu tòa 
				tam pháp. Quan tòa nhận đơn rồi chẳng tra hỏi gì hết. Chờ đợi ít 
				lâu, mà chẳng ai hỏi gì tới việc xưng đạo của hai ông, hai ông 
				lại viết đơn khác gửi tới quan tòa: &quot;Chúng tôi quá khóa tại tỉnh 
				Nam Ðịnh, vì quan Trịnh Quang Khanh ép chúng tôi quá, chẳng phải 
				vì lòng thật muốn bỏ đạo.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lần đó các quan 
				tòa cũng chẳng xét xử đơn xin của các ông. Ðợi đến một ngày kia, 
				khi vua Minh Mệnh ra ngoài chơi, hai ông sấp mình xuống bên lề 
				đường, mà đệ đơn trên đầu. Một quan lớn cầm đơn đó xem, rồi 
				trình vua. Khi vua Minh Mệnh biết việc liền truyền giam các ông 
				vào ngục, rồi truyền các quan thuộc hình bộ, lễ bộ, và binh bộ 
				hợp lực tra xét và làm mọi cách cho hai ông bỏ đạo. Tuy nhiên dù 
				làm thế nào hai ông vẫn trung kiên. Lúc đó quan Lê Văn Ðức, 
				trước kia là tổng đốc Nam Ðịnh, đã biết các ông gan dạ thế nào 
				nên nói với các ông rằng: <em>&quot;Ðánh đòn chúng bay chỉ mỏi tay mà 
				thôi.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các quan tòa thấy 
				hai ông can đảm như vậy thì hỏi về ông Ðạt, vì trong đơn có nói 
				tới ông ấy. Hai ông liền thưa với quan:<em> &quot;Anh Ðạt cũng chẳng 
				chịu quá khóa, mà vì mắc trở việc tại tỉnh Nam Ðịnh, nên chẳng 
				đi với chúng tôi được, song anh ấy cũng hợp một ý với chúng tôi. 
				Anh ấy còn dặn rằng, anh em thế nào thì tôi thế ấy.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các quan trình tâu 
				nhà vua mọi việc, nhà vua lấy làm ngạc nhiên lắm, tuy nhiên vua 
				vẫn hy vọng có thể thay lòng đổi dạ các ông, nên vua lại truyền 
				ba quan lớn hợp lực làm thế nào cho hai ông quá khóa. Nhưng cũng 
				vô ích.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhà vua còn truyền 
				các quan đem ra 10 nén vàng, một tượng thánh giá, và một thanh 
				gươm rồi nói: <em>&quot;Mặc ý các ngươi chọn. Nếu bước qua thập giá 
				thì sẽ được thưởng 10 nén vàng, còn nếu không sẽ bị thanh gươm 
				chặt ngang lưng làm hai rồi bỏ xác xuống biển.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tức thì hai ông 
				xin chịu chết.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Các quan lại trình 
				tâu vua tất cả sự kiện, vua Minh Mệnh rất tức giận, truyền đem 
				hai tờ giấy cho các ông ký tên vào. Một tờ thì chứa đầy những 
				lời xỉ vả mạ báng Chúa và đạo Gia Tô, còn tờ kia là án các ông 
				phải chết như thế nào. Hai ông không chịu ký vào bản thứ nhất, 
				trái lại chấp nhận bị trảm quyết. Lúc đó quan đọc án của nhà vua 
				như sau: <em>&quot;Minh Mệnh nhị thập niên, tháng 5 ngày mồng một, 
				nội các thần Lê Khanh Trình, thần Lâm Ruy Nghĩa vâng lời vua 
				truyền từ tờ các quan tòa tam pháp, thì hai tên lính tỉnh Nam 
				Ðịnh, tên là Phạm Viết Huy và Bùi Ðức Thể cùng khai rằng chúng 
				vốn theo đạo Gia Tô chẳng bỏ, mà năm ngoái có bước qua thập tự 
				tại bản tỉnh, bởi quan tổng đốc tỉnh ấy bức hiếp chứ trong lòng 
				chẳng bao giờ có ý bỏ đạo, nên bây giờ xin cứ giữ đạo như khi 
				trước. Quan tòa tam pháp đã khuyên bảo hai ba lần, song hai tên 
				phạm này cứ một mực chỉ xin chịu chết, cùng quyết chẳng chừa 
				cải, thật là hai tên dại dột mê hoặc. Khi trước ta đã làm án 
				chết cho chúng nó, song ta còn thương hại chẳng muốn giết, chẳng 
				ngờ là lũ phạm ấy đã ra mê cuồng chẳng còn biết lẽ phải, ta đã 
				mở lối cho chúng nó ăn năn, nếu còn có trí khôn thì phải biết 
				mình đã sai lầm mà cải ác hoàn lương, song hai tên phạm này cố 
				chấp theo Gia Tô tà đạo, dám bỏ việc lính mà vào kinh khống đơn, 
				chúng nó thật kiêu ngạo, đáng khinh dể, đáng ghét, không thể để 
				cho sống được nữa. Nên hai tên phạm là Phạm Viết Huy và Bùi Ðức 
				Thể, phải kết án tử, giao cho lính đem ra cửa biển, lấy rìu lớn 
				chặt ngang lưng, rồi bỏ xác xuống biển để cho ai nấy biết rõ 
				điều răn cấm. Còn một tên phạm nữa là Ðịnh Ðạt cũng can án này. 
				Nó có bỏ đạo thật hay không thì phải tra xét kỹ càng và tâu cho 
				minh bạch.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ngày 2 tháng 5 năm 
				1839 ta, cũng là 12 tháng 6 năm 1839 dương lịch, ông Huy và ông 
				Thể bị điệu ra cửa bể là cửa Thuận để chịu chết. Trên đường đi 
				đến pháp trường hai ông vui vẻ chào hỏi mọi người khiến dân 
				chúng rất ngạc nhiên. Ðến cửa biển, quan bắt hai ông xuống 
				thuyền rồi chèo ra khỏi đất liền. Lúc này quan còn khuyên hai 
				ông quá khóa vì vẫn còn kịp, nhưng hai ông nhất định không bỏ 
				đạo.Quan tryền tháo gông, rồi trói hai ông vào cột chèo.Hai ông 
				đọc kinh phó linh hồn. Lý hình giơ gươm lên, chặt ngang lưng hai 
				ông như đã ghi trong án. Sau đó chúng chặt đầu rồi bổ làm tư và 
				liệng xác hai ông xuống biển.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ðược tin hai ông 
				Thể và Huy bị xử tử, ông Ðạt ở nhà thu xếp công việc của nhà. 
				Ông đọc kinh nguyện ngắm để dọn mình chết. Mấy ngày sau, lính 
				hàng đội từ tỉnh xuống báo với ông Ðạt rằng: <em>&quot;Quan lãnh binh 
				và tỉnh sai tôi xuống báo cho anh biết đã có chỉ bộ ra truyền 
				bắt và xử tử anh.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khi ông Ðạt nghe 
				tin ấy thì vui mừng lắm. Lúc đó vào quãng cuối tháng 6 năm 1839. 
				Ông Ðạt liền đi báo cho anh em và từ giã mọi người. Ông cũng xin 
				mọi người cầu nguyện cho ông. Lúc đó, vợ ông muốn khuyên chồng 
				bỏ ý định chết vì đạo. Bà khóc lóc than vãn, rồi dẫn con gái đến 
				xin ông: <em>&quot;Ông bỏ tôi cùng con bé này sao?&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Ðạt rất cảm 
				động, nhưng ông nói với bà nếu ông quý bà và con gái hơn Chúa 
				thì chẳng xứng đáng với Chúa Giêsu Kitô. Thiên Chúa sẽ lo liệu 
				cho bà và con gái. Sau cùng ông bảo vợ: &quot;Một chốc nữa bà đem con 
				bé sang nhà Nhiêu Quang cho tôi gặp nó một chút nữa.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Rồi ông đi chịu lễ 
				lần sau hết. Khi chịu lễ cùng cám ơn, ông yên ủi vợ con, cùng 
				giã từ anh em, rồi theo lính ra đình làng. Tại đình làng, quan 
				viên làng và nhiều người dân đã tụ họp đông đủ sẵn sàng để từ 
				giã ông. Ông lạy quan viên, xin các ông ấy cầu nguyện cho mình. 
				Lúc bấy giờ cũng có người nói rằng: &quot;Anh Ðạt bỏ vợ con, bỏ quê 
				quán.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông thưa lại rằng:
				<em>&quot;Vợ con và quê nhà tôi để mặc thánh ý Ðức Chúa Trời, tôi xin 
				làng thương tôi cùng vợ con tôi.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trên đường đi về 
				tỉnh, ông Ðạt chỉ đọc kinh lần hạt chuẩn bị chịu chết. Phần bà 
				vợ ông, vẫn theo ông tới Nam Ðịnh, vừa đi vừa khóc. Ông đuổi bà 
				về và nói với bà:<em> &quot;Nếu bà đến đây mà cứ khóc thì đừng đến 
				thăm tôi nữa.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tại tỉnh, quan lớn 
				bảo ông Ðạt rằng:<em> &quot;Thằng Huy, thằng Thể đã phải bổ làm tư, 
				rồi bỏ xuống bể cho tôm cá ăn, mày có quá khóa không?&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Ông Ðạt đáp lại:
				<em>&quot;Hai anh con đã được phúc trọng, xin quan lớn bổ con làm 
				tám. Còn sự quá khóa thì con không chịu.&quot;</em></p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Quan thượng nghe 
				xong liền truyền đóng gông, rồi giam ông trong ngục. Ðến ngày 18 
				tháng 7 năm 1839, có lệnh vua truyền xử giảo ông Ðạt. Quan lại 
				khuyên nhủ lần nữa nhưng ông không chịu. Thế là quan truyền viết 
				thẻ: &quot;Tên Ðinh Ðạt thuộc Xuân Tràng phủ, Giao Thủy huyện, Phú 
				Nhai xã, là tên phạm, cố chấp theo Gia Tô tả đạo, nay cũng chẳng 
				chịu bỏ đạo ấy, bất tuân quốc pháp, lập tức đem đi xử giảo.&quot;</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Viết thẻ xong quan 
				truyền giao ông Ðạt cho quan giám sát đem đi xử giảo. Trên đường 
				đi ông chỉ đọc kinh cầu nguyện. Khi đến nơi xử, đã sẵn có cái 
				chiếu cạp ở đấy, ông Ðạt quỳ trên chiếu vẫn cứ tiếp tục đọc kinh 
				mãi. Một lúc, quan truyền tháo gông, bắt ông nằm xuống chiếu, 
				rồi quân lính buộc dây vào cổ ông. Khi đã sẵn sàng, quan giám 
				sát ra hiệu lệnh. Lý hình kéo dây cho đến khi ông tắt thở.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Làng Phú Nhai lấy 
				xác ông và táng trọng thể tại nhà anh cả ông Ðạt. Sau hài cốt 
				của ngài được táng tại nhà thờ Phú Nhai.</p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Augustinô Phan 
				Viết Huy cùng Nicôla Bùi Ðức Thể và Ðaminh Ðinh Ðạt được Ðức 
				Giáo Hoàng Lêô XIII phong Chân Phước ngày 27-5-1900. Ðến ngày 
				19-6-1988 các Ngài được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn vinh 
				lên bậc Hiển Thánh. </p>
				<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="right">
				<strong style="font-weight: 400; font-style: italic">
				<font size="2">(ST)</font></strong></p>
				<h2 style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				<font face="Arial" size="3">Trường thi tử đạo </font></h2>
				<p align="justify" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
				Ðaminh Ðạt sinh năm Quý Hợi (1803)<br>
				Năm Ất Mão (1795) rửa tội Viết Huy<br>
				Còn Bùi Ðức Thể ấy thì<br>
				Sinh năm Nhâm Tý (1792) khoái đi lính mà<br>
				<br>
				Từ Lạc Thuỷ trẩy ra Nam Ðịnh<br>
				Ba trai làng nhất định tòng quân<br>
				Cũng người Công giáo chuyên cần<br>
				Khi vào quân ngũ ở gần bên nhau<br>
				<br>
				Ông Tổng Ðốc nghe đâu bị triệu<br>
				Về kinh đô báo hiệu Quang Khanh<br>
				Tội ông tiêu cực thi hành<br>
				Lệnh Vua khiển trách đích danh hạ thần<br>
				<br>
				Ðể chuộc tội ông cần thanh lọc<br>
				Trước hàng quân, ông đọc lệnh Vua<br>
				Mở ngay chiến dịch quét lùa<br>
				Lùng bắt đạo trưởng cho Vua vừa lòng<br>
				<br>
				Tính kế hoạch ngoài trong chuẩn bị<br>
				Mời quân nhân tu sĩ tiệc tùng<br>
				Binh sĩ Công giáo tập trung<br>
				Hoàn thành thanh lọc truy lùng vào dinh<br>
				<br>
				Trong bữa tiệc điều binh ông hứa<br>
				Ban thưởng khen những đứa trung thành<br>
				Với Hoàng Thượng được nêu danh<br>
				Buông lời dọa nạt chấp hành phải tuân<br>
				<br>
				Ngày hôm ấy trọn phần Công giáo<br>
				Khoảng năm trăm theo đạo Kitô<br>
				Mời vào dinh xét ý đồ<br>
				Cho xem hình phạt bước vô thấy liền<br>
				<br>
				Ðầy dụng cụ xích xiềng kìm kẹp<br>
				Ðây kỷ cương sắt thép nhà vua<br>
				Quyết ra tay chẳng chịu thua<br>
				Ai không quá khoá là mua nhục hình<br>
				<br>
				Quá buồn tủi thực tình đau khổ<br>
				Gần năm trăm xấu hổ bước qua<br>
				Số còn lại thật ít mà<br>
				Chỉ năm người dám đứng ra chối từ<br>
				<br>
				Là trụ cột bây giờ cương quyết<br>
				Là tôi trung tâm huyết tới cùng<br>
				Nhà Vua tăng viện trong vùng <br>
				Sai thêm Tướng Ðức binh hùng Thành Nam<br>
				<br>
				Quang Khanh bị cách làm không đạt<br>
				Lê Văn Ðức đề bạt lên thay<br>
				Ðức Cha Minh xử tử ngay<br>
				Và luôn Thầy Chiểu một ngày đầu rơi<br>
				<br>
				Năm chứng nhân đến nơi cho khiếp<br>
				Nhưng cả năm đặc biệt hân hoan<br>
				Quan tức giận tống nhà giam<br>
				Tuần sau tướng Ðức lệnh ban giải tòa<br>
				<br>
				Ông ngon ngọt nói ra dụ dỗ<br>
				Không thành công thịnh nộ kéo khiêng<br>
				Lê lên tượng Chúa linh thiêng<br>
				Roi đòn túi bụi liên miên từng người<br>
				<br>
				Gần tới đích hai người bỏ cuộc<br>
				Còn lại ba gân guốc gan lỳ<br>
				Một lòng một dạ khắc ghi<br>
				Ông Huy, Thể, Ðạt quyết đi tới cùng<br>
				<br>
				Ông Huy trước ung dung vợ nhỏ<br>
				Nay trốn về quyết bỏ trình Cha<br>
				Xin ngài ban phép giải hoà<br>
				Làm xong ông lại xin ra ngồi tù<br>
				<br>
				Ông tướng Ðức doạ hù quỷ kế<br>
				Cứ mỗi ngày thân thể trăm roi<br>
				Tướng khuyên bỏ đạo đi coi<br>
				Ông Huy đạo Chúa sáng soi trần đời<br>
				<br>
				Quan thét lớn Vua người nghiêm cấm<br>
				Không đổi thay thưa bẩm lôi thôi<br>
				Ông Huy chủng viện học rồi<br>
				Chứng minh mạch lạc liên hồi tỏ thông<br>
				<br>
				Quan nhận thấy là ông đuối lý<br>
				Cho đóng gông phơi kỹ nắng mưa<br>
				Ðông, Nam hai cửa cho đưa<br>
				Ba tuần ở đó xin thưa nhục hình<br>
				<br>
				Dọa nạt vợ, gia đình con cái<br>
				Cùng thân nhân trai gái bạn bè<br>
				Ba ông nhất mực chẳng nghe<br>
				Tập trung kỳ mục răn đe đánh đòn<br>
				<br>
				Ngay trước mặt người con trung tín<br>
				Bô lão làng thâm tím vì mình<br>
				Ðã ngã lòng phạm Thánh Linh<br>
				Cả ba bỏ cuộc triều đình mừng reo<br>
				<br>
				Rồi sau đó lòng đau áy náy<br>
				Cả ba ông hết thảy hồi tâm<br>
				Tìm Cha xưng tội lỗi lầm<br>
				Tới dinh Thống Ðốc quyết tâm trình bày<br>
				<br>
				Bẩm quan lớn nơi đây nguyện vọng<br>
				Ðạo Chúa Trời tôn trọng trên đời<br>
				Chúng tôi quá khóa nghe lời<br>
				Mang tiền trả lại đạo Trời tuyên xưng<br>
				<br>
				Quan nổi nóng bừng bừng mắng chửi<br>
				Ðuổi khỏi dinh cho gửi trận đòn<br>
				Về nhà sống với vợ con<br>
				Số tiền hương chức trao tròn thưởng công<br>
				<br>
				Trở về nhà, ba ông cầu nguyện<br>
				Vào kinh đô thực hiện đức tin<br>
				Hai Cha hội ý kiếm tìm<br>
				Lãnh xin hướng dẫn Trái Tim nhân lành<br>
				<br>
				Cha Chính Lân nổi danh đồng ý <br>
				Ba anh em quyết chí tâu Vua<br>
				Hai anh Huy, Thể đơn đưa<br>
				Anh Ðạt công tác nên chưa lên đàng<br>
				<br>
				Cha Tuyên nhắc bảo ban trông cậy<br>
				Xin Chúa ban, chớ cậy sức mình<br>
				Hai mươi ngày mới tới kinh<br>
				Tới Tòa Tam Pháp Triều Ðình sớ tâu<br>
				<br>
				Quan gìm lại có đâu dâng sớ<br>
				Tòa Tam Pháp vô cớ làm ngơ<br>
				Hai ông dài cổ đợi chờ<br>
				Thấy Vua ngự giá tay giơ tấu trình<br>
				<br>
				Thật táo bạo thân mình đồ lính<br>
				Chặn kiệu rồng cung kính dâng Vua<br>
				Ngài đọc xong truyền bắt lùa<br>
				Nhốt ngay vô ngục chẳng thưa bẩm gì<br>
				<br>
				Tâu Ðức Vua quan thì ép buộc (Nội dung của Sớ )<br>
				Các chúng thần đạo thuộc Giatô<br>
				Tôn thờ Thiên Chúa tung hô<br>
				Tấn tra miễn cưỡng, buộc vô tuân hành<br>
				<br>
				Ông tướng Ðức Nam Thành về Huế<br>
				Phan Viết Huy, Bùi Thể gan lỳ<br>
				Tại sao Ðinh Ðạt chẳng đi<br>
				Vì anh bận việc cũng thì đồng tâm<br>
				<br>
				Vua truyền lệnh hai mâm lựa chọn<br>
				Nếu bỏ Chúa, lấy trọn mười vàng<br>
				Bên kia cây kiếm sáng choang<br>
				Hai ông bình tĩnh bước sang khổ hình<br>
				<br>
				Rồi sau đó quân binh án lệnh<br>
				Ðưa hai anh ra tận Thuận An<br>
				Phanh thây xẻ xác dã man<br>
				Ném luôn xuống biển cho đàn cá ăn<br>
				<br>
				Còn anh Ðạt khó khăn Bảy Mẫu<br>
				Ông quỳ trên chiếu khấn nguyện cầu<br>
				Nằm gục thầm thĩ hồi lâu<br>
				Lý hình tròng cổ hai đầu xiết giây<br>
				<br>
				Phúc tử đạo nơi đây phần thưởng<br>
				Cả ba ông được hưởng phúc vinh<br>
				Thi hài an táng quê mình<br>
				Về sau cải táng linh đình Phú Nhai<br>
				<br>
				Năm tử đạo ba ngài Kỷ Hợi (1839)<br>
				Bỏ thế gian hưởng lợi Nước Trời<br>
				Lệnh phong thánh được ban ra<br>
				Mùa thu Canh Tý (1900) quả là xứng danh<br>
				<br>
				<b>Lời bất hủ:</b> Quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh Nam Ðịnh nói 
				với ông Ðạt: &quot;Hai bạn của ngươi (tức thánh Thể và Huy) vì cuồng 
				dại không chịu bỏ đạo tà, nên đã bị chém làm tư quăng xuống 
				biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ thứ đạo đó đi để về với vợ 
				con&quot;. Ông Ðạt thẳng thắn đáp: &quot;Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức 
				tin, nay tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều hình khổ khác nữa. Hai bạn 
				tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám cũng được&quot;. </p>
				<!-- JOM COMMENT START -->
<!-- JOM COMMENT START -->
				</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
</table>
<p align="center">&nbsp;</p>

</body>

</html>

PHP File Manager