File "doi-net-so-luoc.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/A-Doan-sung-dong/Bai-Viet/doi-net-so-luoc.htm
File size: 13.55 KiB (13876 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
60-nam-hong-an-thanh-lap-dong</title>
<meta name="keywords" content="60-nam-hong-an-thanh-lap-dong">
</head><body>
<table border="0" width="550" style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 12pt">
	<tr>
		<td>&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>Ave Jesu Maria Joseph<br>
		ĐÔI NÉT SƠ LƯỢC <br>
		LỊCH SỬ DÒNG ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG CỨU CHUỘC<br>
		<br>
		1. Nguồn gốc Hội Dòng:<br>
		Dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc còn rất trẻ so với 500 năm truyền giáo 
		tại Việt Nam và là người em nhỏ giữa những Hội Dòng anh chị đang phục vụ 
		Giáo hội và chăm chút cho cánh đồng truyền giáo Việt Nam.<br>
		Dòng Đồng Công đươc thành lập do một linh mục Việt Nam và trong bối cảnh 
		chiến tranh với bao khó khăn thử thách. Do đó, lịch sử Dòng Đồng Công 
		gắn liền với lịch sử cuộc đời của vị sáng lập, với biết bao thăng trầm 
		từ ngày phôi dựng cho đến ngày thành Hội Đạo Đức (Pia Unio), từ ngày Lập 
		Dòng trong chiến tranh và trải qua thời kỳ lận đận, nay đây mai đó. Khi 
		di cư vào miền Nam, 1954, Dòng bôn ba rất nhiều nơi và mãi đến năm 1956 
		mới có chỗ “cắm dùi” tại Giáo xứ Châu Bình, Tam Hà, Thủ Đức, Gia Định, 
		để định cư, từ đây khởi đầu xây dựng và từng bước phát triển…<br>
		2. Tiểu sử vị sáng lập Hội Dòng<br>
		Linh mục Đaminh Maria Trần Đình Thủ, CMC - Sáng Lập Dòng Đức Mẹ Đồng 
		Công Cứu Chuộc<br>
		Sinh ngày 29-11-1906, tại Đồng Quan, Thái Bình.<br>
		Lãnh Bí tích Thánh Tẩy ngày 08-12-1906 tại nhà thờ Đồng Quan.<br>
		Xưng tội và rước lễ lần đầu vào Mùa Phục Sinh năm 1914 <br>
		Năm 1915, dâng mình cho Chúa.<br>
		Năm 1924, nhập tiểu chủng viện Ninh Cường, Giáo phận Bùi Chu. <br>
		Năm 1929, học Triết tại Bùi Chu và tại Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh 
		Albertô Nam Định. <br>
		Năm 1933 học Thần tại Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Albertô Nam Định. <br>
		Thụ phong Linh mục ngày 22-5-1937, do Đức Cha Đaminh Maria Hồ Ngọc Cẩn.<br>
		<br>
		Sau khi chịu chức, Đức Cha Đaminh đã cử Cha Thủ làm linh hướng và Giáo 
		sư Đại Chủng Viện. Được ơn soi sáng lập dòng ngày lễ Đức Me Đau Thương 
		04-04-1941. Đầu năm 1942 Đức Cha chấp nhận cho Cha Thủ từ chức linh 
		hướng và Giáo sư Đại Chủng Viện, đồng thời đặt Cha làm Trưởng Ban Truyền 
		Giáo của Giáo phận Bùi Chu. Tháng 6-1943 Đức Cha đồng ý cho cha Thủ nghỉ 
		làm Trưởng Ban Truyền Giáo và đầu tháng 7-1943 cử cha làm Chánh xứ Dương 
		A. Chính tại đây, nhiều thanh niên thiện chí đến xin theo cha, vì thế, 
		Dương A trở thành “trụ sở đón nhận và huấn luyện các tu sĩ Đồng Công 
		tiên khởi”. <br>
		Tháng 6-1946 Đức Cha đổi cha về làm Chánh xứ Liên Thủy, tại đây, Cha 
		tiếp tục đón nhận những người đến xin theo Cha và đến năm 1948 đã có 
		khoảng 40 người tình nguyện theo chí hướng của Cha. Ngày 15 tháng 8 năm 
		1948 Đức Cha Đaminh đã tự tay viết và ký giấy chính thức nhận nhóm của 
		cha Thủ là một Hội Đạo Đức (Pia Unio) được hoạt động công khai theo Giáo 
		Luật và trước khi Đức Cha qua đời 100 ngày, Ngài đã ký giấy ban phép cho 
		Hội Đạo Đức của Cha Thủ thành Hội Truyền Giáo Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc.
		<br>
		Tháng 02 năm 1950, Tòa Thánh cử Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi làm 
		Giám mục Bùi Chu. Nhận thấy Hội Truyền Giáo của cha Thủ đang dần lớn 
		mạnh, xứng đáng trở thành một Hội Dòng theo Giáo Luật hầu giúp ích cho 
		Giáo Hội nhiều hơn, Ngài đã gửi Hiến Pháp Dòng sang Tòa Thánh xin phê 
		chuẩn và Tòa Thánh đã chấp thuận, ký duyệt y ngày 15 tháng 12 năm 1952.<br>
		Ngày 02-02-1953, tại Giáo xứ Liên Thủy, Đức Cha Phêrô Chủ lễ và Ban Sắc 
		Thành lập Dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc theo Giáo luật, đồng thời trao 
		áo dòng cho 36 tập sinh tiên khởi của Dòng và đặt cha Đaminh Trần Đình 
		Thủ làm Bề trên tiên khởi Dòng Đồng Công.<br>
		Thành lập Dòng chưa được bao lâu. Tình hình đất nước thay đổi, hiệp định 
		Genève đã chia đôi nước Việt Nam và cha Thủ quyết định đưa toàn Dòng di 
		cư vào Nam. Ngày 13-8-1954, Tầu cập bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Vào miền 
		Nam, cơ sở không có, anh em đã phải tạm cư nhiều nơi như ở Phú Nhuận, 
		Biên Hòa, Mỹ Tho, Sa Đéc, Cù Lao Giêng và mãi đến cuối tháng 11-1955, 
		Dòng di chuyển về định cư tại Thủ Đức và từ đây, Dòng bắt đầu bước vào 
		một giai đoạn mới.<br>
		<br>
		3. Lịch sử Phát triển<br>
		Khi di cư vào Nam, toàn Dòng có khoảng 125 anh em, nhờ ơn Chúa, đến năm 
		1975 số anh em Dòng đã là 636, gồm 190 tu sĩ vĩnh thệ (kể cả 23 linh mục), 
		81 tu sĩ hạn thệ, 13 tập sinh, 54 cộng sự viên, 281 em đệ tử và 17 anh 
		em đã qua đời. <br>
		Đi đôi với sự thăng tiến về lòng đạo đức thánh thiện trong đời sống 
		thánh hiến và tăng nhân số, Dòng còn phát triển thêm các cơ sở: <br>
		Sài gòn-Thủ Đức: Nhà chính (Nhà Mẹ) thời gian đầu đặt tại Thủ Đức, đến 
		năm 1963, chuyển ra Nhà Đá, xã Mỹ Hiệp, quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, 
		thuộc giáo phận Qui Nhơn. Năm 1974, vì tình hình chiến tranh, Nhà Mẹ 
		phải về lại Thủ Đức. Tại đây, Dòng đã có tu viện Thánh Gia, trường Trung 
		Tiểu Học và Ký Túc Xá Đồng Công thiết lập năm 1956, hàng năm có từ 800 
		đến 1.000 học sinh theo học; Giáo Sĩ Dưỡng Đường thiết lập năm 1957 để 
		đón tiếp quí cha già yếu về hưu sau những tháng năm dài phục vụ Giáo hội 
		và các linh hồn đồng thời cũng là nơi để quí cha đến tĩnh tâm; Tòa soạn 
		Nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ với số độc giả trên 40.000 vào năm 1975; Đệ 
		Tử Viện với 300 em từ lớp đệ thất đến đệ nhất (lớp 6 - lớp 12).<br>
		Tỉnh Phước Long: năm 1962 Dòng lập một nhà ở Đôn Luân, quận Bố Đức. Công 
		việc đang tiến triển thì chiến tranh lan rộng. Dòng buộc phải bỏ cơ sở 
		này vào năm 1964 nhưng vẫn còn một sở nhỏ tại xứ Châu Ninh, quận Bố Đức.
		<br>
		Tỉnh Bình Định: từ năm 1957, Dòng phụ trách giáo điểm truyền giáo Mỹ 
		Chánh, quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định thuộc địa phận Qui Nhơn, mở trường 
		Trung Học Toàn Mỹ tại Mỹ Chánh dạy miễn phí cho 400 học sinh. Vì tình 
		trạng chiến tranh, năm 1964 giáo điểm truyền giáo Mỹ Chánh cùng với 
		trường Toàn Mỹ tạm đóng cửa, mãi đến 1967 mới mở lại khi Nhà Mẹ của Dòng 
		chuyển ra Nhà Đá, xã Mỹ Hiệp, Phù Mỹ, Bình Định và thiết lập tại đây 
		trường Trung Tiểu Học Đồng Công dậy miễn phí cho 1.000 học sinh. Dòng 
		còn hai cơ sở: một tại Qui Đức thuộc thị xã Qui Nhơn và một Trường Trung 
		Tiểu Học Đồng Công tại Phù Mỹ, khai giảng năm 1970 với khoảng 400 học 
		sinh.<br>
		Tỉnh Bình Dương: Dòng lập một tu viện (1965-1971) ở xã Bình Nhâm, quận 
		Lái Thiêu, Bình Dương và thuộc Địa phận Phú Cường. Tu viện này là nhà 
		tĩnh tâm của anh em Dòng.<br>
		Tỉnh Lâm Đồng: tại Đà Lạt, năm 1970 Dòng lập cư xá sinh viên Rạng Đông 
		để giúp các sinh viên nghèo theo học tại Đại học Đà Lạt. Cạnh đó là Tu 
		xá dành cho những sinh viên tu sĩ Đồng Công. Một số tu sĩ Đồng Công giúp 
		tiểu chủng viện Simon Hòa từ năm 1968, giúp đại học Đà Lạt từ năm 1969, 
		và giúp cư xá sinh viên Trương Vĩnh Ký tại xã Đồng Lạc, quận Di Linh, Tu 
		viện này tọa lạc trong một đồn điền rộng 47 mẫu tây trồng cà phê, bơ, 
		mít…đồng thời Dòng coi giúp Đại học Đà lạt hai đồn điền Đại Nga và 
		Drjrato, mỗi đồn điền 100 ha. <br>
		Tỉnh Phan Thiết: đầu năm 1974 Dòng lập một tu viện và trường Trung Tiểu 
		Học dạy miễn phí cho 400 học sinh ở xã Lương Sơn, quận Hòa Đa. Ngoài ra, 
		một đồn điền rộng 100 mẫu tây tọa lạc tại Bầu Ốc đang hình thành. <br>
		Dòng Đồng Công đang trên đà phát triển, thì biến cố tháng 4 năm 1975 đã 
		đưa Dòng vào một khúc quanh lịch sử, 170 linh mục, tu sĩ Đồng Công vượt 
		trùng dương với mục đích bảo tồn Dòng và thi hành sứ mạng truyền giáo 
		theo Hiến Pháp Dòng. Ở Việt Nam còn lại 114 người, linh mục, tu sĩ; các 
		cộng sự viên, và gần 300 em đệ tử. <br>
		Từ đây, lịch sử Dòng lật sang một chương mới, đầu tiên là Cha Thủ và hơn 
		50 linh mục, tu sĩ, cộng sự và tiền tập bị bắt tại Tu viện Thiên Mẫu, 
		Đồng Lạc, Di linh, Lâm Đồng vào ngày 02-6-1975. Từ sự kiện này, tất cả 
		các tu viện, cơ sở, tu xá, cư xá, đồn điền….đều ra đi không hẹn ngày trở 
		lại. Sau hai năm bị giam, cha Thủ được cho về thì Dòng Đồng Công chỉ còn 
		ít cơ ngơi tại Thủ Đức. Chưa hết, trung tuần tháng 5 năm 1987, Dòng nhận 
		tiếp một biến cố bi thương: Cha Bề trên Trần Đình Thủ lại bị bắt lần nữa 
		cùng với hầu hết ban lãnh đạo và một số anh em, linh mục và tu sĩ. Sau 
		biến cố này, các cơ sở của Dòng tại vùng Thủ Đức cũng theo nhau ra đi 
		không hẹn ngày tái ngộ, chỉ còn lại cơ sở Khiết Tâm, nơi trước đây là 
		Tòa soạn báo Trái Tim Đức Mẹ, dành cho các tu sĩ già. Thế là, sau tháng 
		6 năm 1975, Dòng phải sống như một Giáo hội thầm lặng thì từ trung tuần 
		tháng 5 năm 1987 Dòng sống cảnh Giáo hội hầm trú theo gương các tiền 
		nhân. Và “trong gian truân chúng con đã kêu cầu…”, nhờ hồng ân đặc biệt 
		của Thiên Chúa và Đức Maria Đồng Công, giữa bao nhiêu những khó khăn tủi 
		nhục, thiếu thốn vất vả, Dòng vẫn âm thầm vươn lên, thăng tiến, phát 
		triển cho đến hôm nay, năm 2009<br>
		4. Đặc sủng Hội Dòng<br>
		“Phúc âm hóa những người ngoài Công giáo, nhất là những người nghèo khổ 
		bị bỏ rơi trong xã hội đặc biệt trong xã hội Việt Nam” (Hiến Pháp Đồng 
		Công số 3).<br>
		5. Linh đạo Hội Dòng <br>
		“Tận hiến cho Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria” (ad Jesum per Mariam) (Hiến Pháp 
		Đồng Công số 3).<br>
		6. Sứ mạng của Hội Dòng<br>
		Truyền giáo, đem Tin Mừng đến cho những người ngoài Công giáo.<br>
		7. Bổn mạng Hội Dòng<br>
		Lễ Đức Mẹ Sầu Bi (15/9)<br>
		8. Địa chỉ: DÒNG ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG CỨU CHUỘC<br>
		521 Tỉnh lộ 43, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.<br>
		9. Bề Trên Tổng Quyền đương nhiệm: Linh mục Pio Maria Nguyễn Quang Đán, 
		CMC<br>
		10. Các hoạt động tại Việt Nam<br>
		Sứ vụ truyền giáo; Hoạt động giáo dục; Hoạt động Bác ái và Truyền bá ba 
		Mệnh lệnh Fatima; <br>
		Mục vụ Di dân và Người nghèo.<br>
		11. Số cộng đoàn:<br>
		- Tại Việt Nam: 15 - Tại hải ngoại: 5<br>
		12. Nhân sự<br>
		a/ Năm 1975 b/ Hiện nay (9/2008): Tại Việt Nam Tại hải ngoại<br>
		- Tổng số 284 453 122<br>
		- Linh mục 23 17 58<br>
		- Khấn trọn 190 359 105<br>
		- Khấn tạm 81 79 10<br>
		- Tập sinh 13 15 7<br>
		- Thỉnh Sinh 20 23 <br>
		c/ Số tu sĩ qua đời trong Dòng từ năm 1975 đến 9/2008 là 57 tu sĩ.<br>
		13. Điều kiện gia nhập:<br>
		- Các em nam từ 17 tuổi trở lên.<br>
		- Có thiện chí sống đời thánh hiến, đời sống đạo đức và có triển vọng 
		trở thành tu sĩ Đồng Công.<br>
		- Thân thể khoẻ mạnh và tinh thần lành mạnh.<br>
		- Học lực: Hết lớp 12 bậc trung học.<br>
		14. Địa chỉ liên lạc về ơn gọi: Dòng Đức Mẹ Đồng Công<br>
		521 Tỉnh lộ 43, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.<br>
		15. Khả năng cộng tác về chuyên môn của Hội Dòng trong công việc phục vụ 
		chung:<br>
		Truyền giáo, mục vụ di dân, giáo dục...<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
		<br>
&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body></html>

PHP File Manager