Tác giả: Song Nguyễn

CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN
Tác giả: Song Nguyễn
Chương 6
Người mẹ nuôi kỳ lạ
Kể xong một giai đoạn, Dì Lan ngừng lại để lấy
hơi, ba lợi dụng ngay cơ hội đó,
góp ý thêm để Dì nghỉ lấy sức. Ba nói:
-
Quả là việc Chúa làm Dì nhỉ! Nếu như Dì Antony
không giải quyết được vụ giằng co đó, chắc chắn
là hậu quả đã xảy ra ghê gớm lắm rồi!
-
Vâng!
Ai
cũng thấy rõ như vậy! Dì Lan trả lời ba, giọng
Dì vẫn trang trọng như đang kể chuyện thánh.
Dì nói tiếp: một bên là những bệnh nhân
liều lĩnh dám thí “mạng cùi”, một bên là những
người coi cái chết nhẹ tựa “lông hồng”,
thì còn gì mà không nghiêm trọng được. Nhưng,
tiếng nhưng của Dì Lan làm ba giật mình,
ba
đoán chắc là câu chuyện Dì sắp kể còn ghê gớm
hơn câu chuyện Dì vừa
kể. Và
hình như chính Dì Lan cũng muốn tạo bầu không
khí trang trọng hơn để đưa ba vào câu chuyện Dì
sắp nói. Dì nói tiếng nhưng, rồi bỏ lửng.
Dì đưa mắt nhìn ba,
và khi nhận thấy ba chăm chú theo dõi câu chuyện
Dì kể,
Dì mới tiếp tục:
-
Bước đầu thành công của Dì Antony sánh với những
việc Dì làm sau đó kể ra còn nhỏ.
-
Việc giải quyết ổn
thoả
như vậy thật là đáng kể. Nếu
như không có Dì Antony, chắc chắn là có đổ máu
rồi còn gì, và hẳn tình trạng trại cùi cũng thay
đổi nhiều?
-
Đúng là như vậy! Nhưng việc giàn xếp để bệnh
nhân trở về trại,
còn dễ hơn lo cho một đám đông đảo bệnh nhân ăn
uống thuốc men. Ông coi đó, mặc dù trại lúc ấy
chưa được đông như bây giờ, tuy nhiên cũng có
tới hàng trăm người, chỉ lo cho họ ăn uống cũng
đủ chết rồi!
-
Dạ đúng! Ba góp ý với Dì Lan. Ba nói: về vấn đề
này tôi đã có kinh nghiệm. Gia đình tôi tất cả
chỉ có năm người, trong đó kể như hai lao động
chính, thế mà cũng chưa
giải quyết hết nhu cầu của gia đình, nói gì đến
lo cho hàng trăm người mà nhu cầu lại quá khác
biệt nhau. Ba thắc mắc hỏi Dì:
-
Xin Dì cho biết, Dì Antony đã làm thế nào giải
quyết được vấn đề lớn như vậy?
Dì Lan ngước mắt lên trời như vẫn còn ngạc nhiên
trước việc làm của người quá cố,
rồi
Dì nói:
-
Thật là một điều quá sức tưởng tượng của chúng
tôi. Dì Lan nhìn ba nói: ông coi như ngày nay,
chúng tôi bấy nhiêu người, phương tiện tuy có eo
hẹp, nhưng vẫn còn xoay sở được, lại còn được
các cơ quan giúp đỡ phụ thêm, thế mà thiếu thốn
lúc nào cũng có. Còn trong hoàn cảnh Dì Antony,
chỉ có một mình, phương tiện không, giúp đỡ cũng
không. Như vậy ông thấy không quá sức tưởng
tượng sao được!
Ba gật đầu nhất trí với Dì. Ba góp ý thêm:
-
Hơn nữa lại là một Dì phước mới khấn, tuổi đời
còn ít, lại chưa có dịp đảm nhận công tác quản
lý bao giờ?
-
Phải!
Đó
là điểm đáng nói nữa!
Đọc những trang nhật ký của Dì để lại về giai
đoạn này,
không ai có thể cầm lòng được. Đại ý Dì viết:
“Hôm từ giã mẹ và chị em, trở về trại. Giữa lúc
tâm hồn đang rối loạn như tơ vò: phần thương nhớ
người mẹ, người chị sớm hôm nương tựa, vỗ về,
dẫn dắt bước đường phục vụ, phải vội vã ra đi;
phần lo sợ cho bước đường tương lai thân gái lẻ
loi giữa một môi trường sống đầy chết chóc và
hiểm nguy hồn xác, không phải từng tháng, mà
phải kể hàng ngày, hàng phút. Giữa cảnh tượng ấy
thì hết người này đến người kia: người đến xin
Dì mở kho lấy gạo nấu cơm, người xin món này,
người xin món khác đến nỗi Dì không còn giờ còn
trí để mà nhớ mà sợ nữa…”.
Đến ngày thứ ba, Dì Antony viết tiếp:
“Đến
hôm nay mối bận tâm lớn nhất đó là lương thực.
Sau ba ngày kiểm soát toàn bộ trại, các kho chứa
cũng như các cơ sở làm ăn, sản xuất trong trại,
Dì đâm hoảng,
tất
cả đều bị đe
doạ
trầm trọng. Nhà kho chỉ còn trơ lại những cái
giá xếp lương thực gạo, bắp đã có khi lên tới
trần nhà, dấu vết những bao gạo còn để lại trên
tường hãy còn đó. Bây giờ trần nhà màng nhện rải
hầu khắp, còn dưới sàn nhà lỏng chỏng mấy bao
gạo, bao bắp cung ứng cho hàng trăm người, phỏng
được bao nhiêu ngày… Còn những cơ sở sản xuất
cũng chẳng khả quan gì hơn: vật liệu sản xuất
như đay, cói, tre; hầu hết những món đồ sản xuất
ở đây.
Thế
mà những vật liệu này cũng không còn nữa vì đã
nhiều ngày tình hình an ninh không bảo đảm, nên
những vật liệu phần không nhập trại được, phần ở
trại cũng không đi kiếm được, nên vật liệu cạn
dần.
Còn cơ sở chăn nuôi, đàn heo thiếu lương thực
nên phần ăn của chúng bị giảm bớt bất thình
lình, và vì chưa tập quen được với hoàn cảnh
mới, nên chúng kêu la suốt ngày…”.
Dì Antony cho mời ban đại diện tới để thông báo
tình hình lương thực và bàn kế hoặch đối phó.
Nhưng khi ban đại diện tới,
Dì Antony viết:
“Họ cũng chỉ biết nhìn Dì, nghe Dì nói và chất
thêm lo lắng”.
Nhưng trong cuộc gặp mặt này, Dì đã phát hiện
được một điều đáng sợ, có phần nguy hiểm của
những con người bị dồn vào thế đường cùng.
Sau khi nghe Dì trình bày tình hình lương thực
trong trại và viễn tượng sắp tới, một trong
những người đại
diện cộc cằn phát biểu: “Đến đây là bước đường
cùng rồi: trông cậy bên ngoài tiếp tế chắc chắn
là vô vọng, vì tình trạng ngoài xã hội hẳn là
chẳng có hơn gì trong trại. Còn ở trong trại với
hoàn cảnh này cũng chẳng có hy vọng gì sản xuất.
Ông ta kết luận: xin đề nghị với quý vị còn bao
nhiêu bò, heo, gà vịt… Để cũng chẳng có gì nuôi,
nên cho làm thịt cho trại đánh chén một bữa rồi
có chết cũng không hối…”.
Ý kiến của người đại diện đó không ngờ được
nhiều người đại diện tán đồng. Qua ánh mắt của
họ xem ra họ cũng nhất trí như vậy. Khám phá này
đã làm cho Dì Antony hoảng hồn, nó cho Dì thấy
hai điều:
một
là tình trạng chán nản, thất vọng đã lan rộng có
thể đưa đến bạo động và làm liều;
hai
là hầu như trong trại không còn uy quyền và mất
hết tin tưởng rồi. Cả hai đe dọa gần như ngoài
tầm tay với của Dì. Nhưng nếu Dì không gắng sức
vươn tới, chộp lấy cơ hội, trại sẽ tan vỡ.
Những phút căng thẳng cứ dần trôi qua, bao nhiêu
con mắt trong phòng họp đều hướng về Dì để chờ
đợi ý kiến của Dì. Ý kiến của một Dì phước non
trẻ ngây thơ như thiên thần mới giáng thế có thể
định đoạt cơ vận của trại đã xây dựng và vun
trồng hàng chục năm. Dì Antony ý thức rõ vai trò
của Dì. Trong lúc đó, Dì ghi lại: “Tự nhiên tôi
hết sợ, tuổi xuân của tôi như vuột khỏi tôi, tôi
trở nên già dặn và gần như liều lĩnh
-
liều lĩnh vì lời nói, nhưng thực tôi chưa dám
chắc về việc tôi sẽ làm…”.
Giữa lúc mọi người chăm chú chờ đợi, Dì Antony
đứng dậy, nét mặt Dì trở nên nghiêm khắc. Theo
như người chứng kiến kể lại: những nét thanh tú
đơn sơ như đã biến mất, nhường lại vẻ trịnh
trọng rắn rỏi của con người lãnh tụ. Giọng nói
của Dì cũng thay đổi: rắn chắc, cương quyết,
khác hẳn với giọng nói dịu dàng tươi mát của một
cô gái đang độ. Dì nhìn khắp mọi người có mặt
bằng tia mắt truyền lệnh, khiến những người
trước đó vẫn nhìn Dì bằng con mắt thương hại,
bắt đầu cảm thấy nơi Dì một cái gì khác thường.
Tạo được khí thế rồi, Dì bắt đầu nói:
-
Không thể được! Nhất định bằng mọi cách chúng ta
phải sống và phải duy trì trại. Bề trên đã trao
phó cho chúng ta, không lẽ chúng ta chịu buông
xuôi…
Nói rồi Dì vẫn đứng ngay như tượng đá và liếc
mắt dò xét mọi người. Lẽ dĩ
nhiên với uy thế Dì vừa tạo được, mọi người đều
nhất trí với Dì. Nói khác đi, người ta còn nhất
trí với Dì trước cả khi Dì phát biểu nữa. Bảo vệ
sự sống thì ai mà không muốn. Có thể có những
phút liều lĩnh người ta muốn chết, nhưng bình
thường thì bản năng con người là ham sống và sợ
chết. Bài ngụ ngôn của Lã
Phụng Tiên “Thần chết và lão tiều phu” là một ví
dụ. Còn duy trì trại cũng là điều thiết yếu gắn
liền với sự sống. Chính những bệnh nhân ý thức
rõ: đây là cứ điểm cuối cùng của họ có thể bám
vào mà duy trì sự sống,
phá nó đi thì chính họ là người thiệt thòi trước
nhất. Nhưng duy trì nó thì
phải duy trì như thế nào? Trong khi trại hết
lương thực, những nguồn tiếp tế bị cắt đứt,
nguồn lợi khả dĩ có thể phụ thêm cho nguồn lương
thực cũng gần như không thể duy trì được, thì
giữ trại làm gì? Giữ trại
trong hoàn cảnh này có khác gì ngồi bưng chén
cơm trong khi bụng đói meo và miệng cứ lép bép
nói “nhất định tôi không chết, nhất định tôi
không chết…”.
Quả nhiên sau khi Dì Antony tuyên bố lập trường
của Dì, một vị đại diện đứng lên phát biểu. Ông
nói:
-
Vâng Dì nói chúng ta phải sống và phải duy trì
trại… điều ấy chúng tôi nhất trí với Dì rồi,
nhưng xin Dì cho chúng tôi biết chúng ta giải
quyết những cái “phải” đó như thế nào?
Phát biểu của người đại diện vừa rồi cũng chính
là điều đang dày vò Dì Antony. Lời nói của ông
chẳng khác gì một cái đẩy nữa xô vào thêm những
cái đang ào tới Dì.
Dì Antony xửng người ra trước những yêu cầu
chính đáng của người đại diện: Dì muốn có uy
thế, muốn mọi người làm theo cái “phải” của Dì,
thì Dì phải đưa ra được cách giải quyết.
Nhưng phải giải quyết như thế nào đây?
Chính Dì cũng chưa nắm vững được tình hình nội
bộ và nhất là lơ mơ hay nói khác đi rất lơ mơ
tình hình bên ngoài. Cái đó cũng không có gì lạ
vì Dì mới lớn lên trong bốn bức tường của tu
viện, còn xa lạ với những chuyện điều hành, nhất
là giao tế bên ngoài. Nhưng giờ đây dù muốn dù
không, Dì cũng phải đưa ra được giải pháp. Dì
Antony nhìn người đại diện như để trấn áp đối
phương,
rồi
Dì dõng dạc nói:
-
Khi yêu cầu quý vị là tôi đã có kế hoạch,
tuy nhiên thời gian quá gấp rút và công việc quá
bề bộn… Dì đằng hắng như cố nuốt trôi cơn xúc
động vừa dâng lên đóng cứng cổ họng Dì.
Không ngờ cử chỉ này gây được sự chú ý và
thông cảm mãnh liệt của các đại diện.
Dì nói tiếp:
-
Tôi chưa có thể thảo hết được kế hoạch
đó. Tôi hứa sẽ soạn thảo chi tiết và cụ thể, rồi
sau đó tôi sẽ trình bày với quý vị.
Ngưng một lát để tạo sự chú ý, Dì nói:
- Nhưng
việc làm ngay bây giờ tôi đề nghị là trong trại
sẽ áp dụng ngày một bữa cơm, một bữa cháo…
Dì Antony vừa dứt lời thì một số đại diện thở
dài, xì xào trao đổi; nhưng ánh mắt của Dì
Antony đã áp đảo được những bất mãn không thể
tránh được đó. Giải tán cuộc họp ban đại diện
rồi, trở về phòng Dì Antony thả mình xuống ghế
rồi thở hắt ra. Nỗi lo sợ ập đến vây kín Dì.
Trước mắt Dì từng trăm từng ngàn câu hỏi đặt ra.
Trước mắt Dì vấn đề nào Dì cũng thấy ngõ cụt,
trong khi đó cảnh mênh mông hoang vắng trong căn
phòng của tu viện với những chứng tích còn ngổn
ngang chưa hề được thu dọn càng làm cho Dì hoảng
hốt. Dì nhắm mắt lại và gục đầu xuống bàn để
khỏi nhìn thấy cái quen thuộc chung quanh. Dì
viết tiếp: “Mình nức nở và than với Chúa:
Ai cứu
con khỏi nỗi sợ ny!
Mọi quyền năng, lạy Cha, chỉ nơi Ngài,
Xin giúp con, xin đoái nhìn thương xót!...
Con khốn cùng và lòng đau như thắt,
Xin cứu
con
thoát
khỏi bước ngặt nghèo,
Gỡ chân con khỏi mắc lưới giăng treo,
Cậy trông Chúa, một lòng con trông cậy!
(x.
Tv 24)
Rồi ngày một, ngày hai, ngày ba hy vọng vẫn xa
vắng, giải pháp vẫn chưa tìm ra. Ban ngày Dì
Antony đôn đảo có mặt khắp nơi trong trại để giữ
vững tinh thần và tác động các bệnh nhân vững
tin, ban đêm Dì chạy đến nhà tạm ăn vạ Chúa.
Nhưng bệnh nhân vì phần ăn bị hạn chế, cơn đói
mỗi lúc một tăng, nên họ hết than vắn, thở dài
kêu ca và mong mỏi giải pháp của “vị thiên sứ”.
Còn Dì vẫn chưa tìm ra giải pháp, nên một đàng
vì công việc Dì phải gặp mọi người, một đàng Dì
sợ gặp họ.
Đối với bệnh nhân thì vậy, còn với Chúa tha hồ
cho Dì Antony kêu khóc, năn nỉ, Chúa vẫn lặng
thinh y hệt cảnh Chúa nằm ngủ trên thuyền của
Phêrô giữa lúc sóng gió nổi dậy làm cho thuyền
của Phêrô muốn lật nhào. Nhưng Phêrô còn may
hơn, vì dù sao cũng có
Chúa
nằm đó,
và Phêrô có thể đánh thức Chúa dậy được.
Hơn nữa,
Phêrô là đàn ông, có nhiều bạn hữu ở bên, lại là
tay chài lưới, Phêrô cũng có thể khả dĩ chống
chọi được với sóng gió. Đàng này,
quay đi ngó lại chỉ có mình Dì, Chúa thì hiện
diện vô hình, chị em không còn một ai, hơn nữa
lại là thân gái. Nhưng Dì
vững tin: nhất định Chúa phải thương Dì hơn.
Niềm tin đó đã đem đến cho Dì một niềm an ủi và
bình tĩnh lạ thường. Mặc dù Dì chưa nhìn thấy
một dấu tích gì để đặt giải pháp, nhưng Dì mơ hồ
nó sắp đến với Dì. Thế rồi Chúa thức dậy… và
Ngài thực hiện chương trình của Ngài:
Một buổi tối nọ, sau khi được tin người gác cổng
báo tin có người lạ muốn gặp Dì. Họ hỏi rõ tên
Dì Antony. Nhân viên hữu trách đi báo tin cho Dì
Antony, nhưng khi đi tìm Dì, họ phải hoảng hốt
vì không thấy Dì Antony ở trong phòng. Họ đập
cửa, gọi tên
Dì cũng không thấy Dì trả lời. Họ cậy cửa vào
nhà tìm khắp nơi cũng không thấy Dì. Giường ngủ
của Dì vẫn còn treo nguyên chứng tỏ Dì chưa vào
giường. Người ta báo động hốt hoảng đi tìm Dì,
mãi một lúc sau người ta mới đoán ra Dì ở trong
nhà thờ. Người chứng kiến thuật lại:
Nhìn qua khe cửa nhà nguyện, họ nhìn thấy Dì
Antony đang chăm chú quỳ chầu Mình Thánh Chúa.
Bên ngọn đèn thắp sáng hơn ngọn đèn chầu mọi
khi, Dì Antony nhìn vào nhà tạm một cách hết sức
chăm chú, mặt Dì tỏa ra một làn sáng kỳ lạ, y
như một thiên thần đang quỳ chầu bên tòa Chúa.
Thấy cảnh tượng linh thiêng đó, người tìm Dì đã
tính để yên không dám phá quấy Dì, nhưng lệnh
của người gác cổng nói rõ: mấy người lạ mặt xin
gặp Dì Antony có chuyện khẩn cấp.
Sau một hồi tần ngần đắn đo, người hữu trách đập
cửa nhà nguyện và lên tiếng kêu Dì. Dì Antony
nhanh nhẹn ra cửa tiếp người kêu Dì. Hình như Dì
đã linh cảm thấy điều gì,
nên khi bước ra khỏi cửa nhà nguyện,
Dì hỏi người tìm Dì:
-
Sao ai đưa lương thực đến đó?
Người tìm Dì đứng ngây người ra. Anh ta không
biết trả lời Dì sao, vì anh có nghe ai nói với
anh về người mang lương thực đến đâu? Anh chỉ
được người gác cổng báo cho biết là có người lạ
cần gặp Dì Antony có thế thôi.
Đợi giây lát không thấy người tìm Dì trả lời. Dì
đoán anh ta không biết gì để trả lời Dì.
Dì Antony đập vào vai người tìm Dì, Dì
nói:
-
Thôi được anh đi với tôi ra nhận lương thực.
Người chứng kiến kể lại: Dì Antony nói y như
việc Dì đã biết trước rồi.
Dì Antony ra tới cửa, người giữ cửa mới chịu cho
người lạ mặt vào trong. Gặp người lạ,
Dì Antony cũng nói y như với người quen thuộc
với
công việc thường xuyên rồi, mặc dù đây là lần
đầu. Dì nói:
-
Quý ông mang lương thực đến cho chúng tôi đấy à?
Người khách lại đứng ngây người ra nhìn Dì và
không biết nói gì khác bằng cách tiết lộ công
tác anh
đảm
nhận:
Toà
Giám Mục đã thúc bọn họ thồ bắp ra cho trại.
Ngoài ra người khách lạ còn trao tay cho Dì lá
thư của
Toà
Giám Mục gửi.
Đọc thư và nhận lương thực rồi, Dì Antony nói ba
câu bốn điều giã từ khách, rồi Dì hớt hải bỏ
phòng khách trở về đến nỗi Dì cũng chẳng cho
biết số lương thực vừa nhận phải mang về kho hay
để đâu?
Người trực thấy Dì Antony vội vã trở về, tần
ngần một lát anh cũng theo sau. Và rồi anh đã
thấy Dì trở vào nhà nguyện, mở cửa nhà nguyện
lách mình bước vào trong nhà nguyện, rồi khép
cửa lại như không muốn cho ai thấy. Anh bước tới
không dám phá quấy Dì, anh nhìn vào khe cửa,
thấy Dì Antony đã vặn to ngọn đèn chầu lên và Dì
đang quỳ gục đầu y như Dì đang khóc thì phải.
Mãi đến sáng Dì mới trở ra phòng khách, nét mặt
tươi mát, nụ cười chúm chín không có một chút gì
mệt nhọc lo âu. Dì xem xét từng bao bắp rồi phát
biểu rất thành thạo, Dì nói:
-
Thứ này để ăn, thứ kia để giống… Thứ để giống
phải giữ thế này… Thứ ăn phải làm như thế này,
thế kia… Dì còn vui vẻ nói pha trò:
kế
hoạch
mình chắc ăn như bắp…
Sau khi nhận được đồ tiếp tế cách kỳ lạ, Dì
Antony biết rằng Chúa không nỡ để những “người
yêu” của Ngài phải đau khổ hơn.
Mặc
dù với lượng tiếp tế hạn chế này chẳng thấm tháp
vào đâu so với nhu cầu, nhưng nó đã chứng tỏ một
điều hy vọng đang tới. Tác động đó đã đưa đến
cho Dì Antony một an ủi rất lớn, nhất là những
lời lẽ Đức Giám Mục viết cho Dì. Trong niềm an
ủi đó, Dì lại mời các người đại diện trong trại
tới để bàn thảo kế hoạch cứu sống trại.
Dì Antony là người có mặt trong phòng họp trước
giờ họp, Dì thăm hỏi, an ủi từng người.
Đúng đến giờ họp thì bầu không khí đã đầy
ắp tình thương và trang trọng, khác hẳn với bầu
không khí trước đây: thất vọng và căng thẳng…
Chính những người trước đây bất mãn và đòi Dì
đưa ra kế hoạch cứu sống cụ thể, thì giờ đã thay
đổi. Người đại diện bữa
trước đòi hỏi Dì đứng dậy phát biểu đầu tiên,
ông ta nói:
-
Tôi xin lỗi Dì về đòi hỏi bữa trước. Lúc đó tôi
quá chán nản và thất vọng, và có lẽ các bạn tôi
đây cũng thế. Nhưng nay tôi xin rút lại đòi hỏi
đó. Tôi chỉ xin Dì ở với chúng tôi, có Dì là
chúng tôi sẽ sống.
Trong cảnh này Dì Antony có viết:
“Khi ông M. nói xong, tôi đưa mắt nhìn mọi
người. Thấy mọi người có vẻ hài lòng về lời phát
biểu của ông. Tuy nhiên để bảo đảm chắc chắn,
tôi hỏi ý kiến các ông:
-
Các ông có cần tôi đưa ra kế hoạch nữa không?
Cả hội nghị đều đồng loạt biểu quyết không cần.
Sự đồng tâm đó khiến mình mừng run lên…”.
Còn theo những người chứng kiến kể lại thì
chính những
động lực
của Dì đã
làm cho mọi người mềm lòng,
và hết muốn đòi hỏi gì ở nơi Dì Antony nữa.
Mặc
dù bữa ăn vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu:
thay vì một bữa cơm bữa cháo,
bây giờ một bữa cơm độn, một bữa bắp theo tiêu
chuẩn.
Nhưng
cái làm cho người ta xúc động đó là sức khỏe của
Dì Antony xuống dốc trông thấy: mới có một ít
ngày thế mà những nét thanh tú tươi mát ở nơi Dì
đã gần như biến mất. Dì gầy hẳn đi, nước da tái
mét; mặc dù nét tươi vui vẫn còn đó, nhưng con
mắt cuồng thâm chứng tỏ Dì mất ngủ liên miên…
Những người chứng kiến kết luận: chúng tôi sợ Dì
lo nghĩ quá mà chết sớm thì chắc chắn trại cũng
sẽ chết theo…
Thế là thay vì Dì Antony triệu tập các đại diện
để trình bày kế hoạch,
thì bây giờ trở thành cuộc trao đổi thông cảm.
Thật ra nó cũng chính là những điểm trong kế
hoạch của Dì, nhưng nó không còn tính cách pháp
lý mà là những góp ý thông cảm,
và
không phải do tình cảm nữa mà rất thực tế và hợp
lý. Dì Antony đưa ra chương trình trồng tỉa,
giống trồng tỉa, đất đai canh
tác,
nhân công đảm trách…
Dì trình bày chương trình của Dì với một niềm
tin tưởng y như Dì đã nắm được thành công trong
tay. Thực sự niềm tin tưởng này như một luồng
điện chuyển sang các đại diện. Bình thường mà
xét, thì chương trình của Dì Antony có nhiều
không tưởng ngay cả đối với những người bình
thường khỏe mạnh, thế mà ở đây lại đối với bệnh
nhân. Nhưng bây giờ gần như vì thương Dì, vì sợ
Dì lo lắng quá mà chết nên người ta cũng thử
làm…
Còn Dì Antony càng lúc càng tin tưởng vì thấy
Chúa đã hành động.
Toà
Giám Mục đã đặc biệt quan tâm theo dõi và yểm
trợ Dì hết mình, rồi ban đại diện lại nhất trí
với Dì,
nên Dì càng say sưa lao vào chương trình kinh tế
cứu sống trại.
Tuy nhiên không phải mọi sự đều trôi chảy theo
dòng, ngược lại đá tảng, đá ngầm, bờ bụi không
thiếu, đáng kể nhất là đối với bệnh nhân vừa
bệnh, bụng đói, chưa
quen
làm và làm cũng chưa chắc ăn… Dù vậy Dì Antony
vẫn kiên quyết. Lúa bắp trồng xuống nắng mưa
không đều, lớp chết, lớp cằn cỗi, thêm vào đó
sâu bọ phá hoại, thú rừng dày xéo… Chính trong
ban đại diện cũng nhiều người ngã lòng. Họ kể
lại: nhiều người chúng tôi cũng muốn buông xuôi,
nhưng cứ thấy Dì Antony lặn lội leo trèo, đội
nắng dầm mưa vun quén từng cây giống, chắt chiu
từng luống rau thì rồi chúng tôi cũng phải cố.
Nhưng không phải chỉ có mấy ông đại diện ngã
lòng,
mà ngay Dì Antony cũng ghi lại trong giai đoạn
này: “Mình tin rằng Chúa không bỏ “người yêu”
của Chúa, nhưng những thử thách Chúa đổ xuống
liên miên làm cho mình tối tăm mặt mũi lại…”.
Và quả nhiên, niềm tin của Dì Antony đã có kết
quả: lần đầu tiên trại đã có
mùa thu hoạch lương thực,
mà từ trước đến giờ hầu như chưa có; hay nói
khác đi, có nhưng trại mới làm tượng trưng thôi,
bây giờ quy hoạch quy mô lớn: nào là bắp, cây
lương thực này,
lúa
và rau cỏ… phần lớn là bắp vì đất đai ở đây thích
hợp
với Cả trại đều phấn khởi kết quả tay mình làm
ra. Thế là vừa tự sản xuất vừa được tiếp tế bên
ngoài, tiêu chuẩn phần ăn được nới rộng làm cho
lớp da nhăn nheo vì thiếu lương thực dần dần
được
bớt đi. Kết
quả bước đầu
đã
là yếu tố đi lên của những ngày sau. Trại đã có
hy vọng thoát khỏi cảnh tan rã.
Những người chứng kiến trong giai đoạn đó vẫn
không quên khúc Thánh
vịnh
Dì dạy họ đọc:
Từ cao thẳm, Chúa đổ mưa xuống núi,
Đất thấm nhuần phước lộc trời ban,
Khiến
cỏ xanh
nuôi gia súc từng đàn
Cho người dùng,
làm thảo mộc tươi tốt,
Kiếm
ra cơm bánh,
kiếm ra từ
ruộng đất
Cho
no lòng chắc dạ
bánh cơm Cha…
(x.
Tv 103)