Tác giả: Song Nguyễn

CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN
Tác giả: Song Nguyễn
Chương 14
Bán đảo hồi sinh
Dì Lan trầm hẳn giọng xuống. Dì nói với ba như
Dì đang tâm sự với chính mình, Dì nói:
- Cuộc về nhà Cha của Dì Antony quá êm ái và nhẹ
nhàng, nhưng nó lại gây ra trong trại một biến
động hết sức to lớn: thương tiếc và cung
kính.Thay vì hồi chuông báo thức thì là những
tiếng chuông nhỏ giọt ngắn dài như những tiếng
rên rỉ cùng với làn gió biển dồn dập đổ vào
những than dừa nằm từng dãy dài cản gió, tạo nên
những âm thanh xào xạc đổ bể. Mặt trời dậy sớm
hơn, vào giờ này mọi ngày trời còn chập chuạng,
thế mà hôm nay người ta đã thấy rõ lối đi.
Tin Dì Antony đã về nhà Cha lan ra cả trại trong
khoảnh khắc, kẻ trước người sau nối tiếp nhau
vây kín khu các Dì sống. Tiếng khóc, tiếng nức
nở, than vãn như một làn điệu chuyển tới nhau
biến thành một dòng suối nước mắt bắt nguồn từ
muôn tấm lòng đang vỡ ra vì một hình ảnh lý
tưởng, một người mẹ, một người chị, một người
bạn thân đã vĩnh viễn ra đi. Nói chung, mọi
người đều thương tiếc và cung kính người quá cố.
Dĩ nhiên là mức độ có khác nhau tuỳ tình cảm
mỗi người dành cho Dì: chẳng hạn bé Mai Liên,
thầy Sáu Chích, những cộng sự viên thân thiết
của Dì, và những người già bệnh tật vào thành
phần cần phải chăm sóc đặc biệt… đều có thái độ
khác nhau đối với Dì.
Nhưng ngoài sự thương tiếc, mọi người trong trại
nói chung và cá nhân nói riêng đều cảm thấy một
sự cung kính đặc biệt đối với Dì Antony. Khác
hẳn với dự đoán lúc ban đầu khi Dì Antony bị
nhiễm lây trùng cùi: Dì Antony qua đi trong tình
trạng hiện thời của trại, chắc trại sẽ tan hoặc
lâm nguy. Trái lại, lúc Dì Antony vĩnh viễn ra
đi, bầu không khí bi quan đó không còn, vì từ
ban quản trị đến những bộ phận cần thiết trong
trại đã được chính Dì Antony chăm sóc, lo lắng
và chuẩn bị để có thể sinh hoạt được mà không
cần có Dì. Hơn nữa, năm tháng nay chính là thời
gian Dì đã thực tập sự vắng bóng Dì. Giờ đây mọi
cơ cấu trong trại hầu như đã trưởng thành.
Ngoài ra còn một yếu tố nữa là uy tín cá nhân
của Dì Antony. Có thể nói được rằng mọi người đã
nhìn thấy rõ sự thánh thiện của Dì, và những ơn
lạ mà Dì đã được Chúa ban cho, chẳng hạn như
việc Dì phải nằm yên một chỗ mà có thể quán
xuyến việc điều hành trong nhà còn hơn chính
người có trách nhiệm điều khiển bộ phận. Phần
thì mọi người cảm thấy khi mất Dì Antony, họ đã
được bù lại bằng một an ủi nào đó không diễn tả
được, nhất là bằng một dấu lạ hiển nhiên mà
chính người được đã công bố: em Mai Liên.
Như chúng ta đã biết trong suốt thời gian Dì
Antony đau yếu thì người ngày đêm gần gũi Dì,
giúp đỡ Dì là Mai Liên. Em rất được Dì thương
mến và truyền thụ đức tin cho em, đặc biệt là
trong thời gian Dì nằm bệnh. Ngoài những lúc Dì
Antony cầu nguyện với em bằng Thánh vịnh, Dì con
dạy em cầu nguyện bằng những lời tự phát đầy đức
tin mà em đã nhớ và viết lại chung trong cuốn
nhật ký của Dì Antony. Thế rồi, trước ngày Dì
Antony qua đời mấy bữa, bỗng dưng Dì thân mật
hỏi Mai Liên:
- Con có yêu Chúa không?
Con có mến Chúa không?
Con có tin Chúa hết lòng không?
Mai Liên thỏ thẻ trả lời Dì những vấn nạn đó. Dì
chớp mắt hài lòng và yên lặng hồi lâu. Mai Liên
vừa thắc mắc, vừa băn khoăn không hiểu Dì có ý
hỏi bé như vậy để làm gì, và bé chờ đợi Dì hỏi
tiếp để có thể biết ý Dì. Bỗng dưng Dì mở mắt ra
và chăm chăm nhìn Mai Liên làm con bé hoảng hốt.
Nó nắm lấy cánh tay của Dì Antony, hai bàn tay
của Dì lúc đó đã sưng rất lớn, em thổn thức nói
với Dì:
- Thưa Dì, con có điều gì làm Dì buồn?
- Không, con đáng khen lắm! Bỗng Dì đổi giọng
trang nghiêm, Dì hỏi con bé:
- Con có tin Chúa có thể chữa bệnh cho con được
không?
Chữa bệnh, một thứ bệnh nan y, hiện thời chưa
phương thuốc nào trị nổi thứ bệnh ghê gớm này.
Và người mắc phải bị coi như một đại hoạ, bị
gia đình xã hội chạy trốn, tránh né còn hơn
tránh một con vật. Vì vậy được khỏi bệnh là một
mơ ước không có thực. Dù vậy, Mai Liên cũng cung
kính trả lời Dì:
- Dạ! Con tin Chúa là Đấng toàn năng, Ngài có
thể làm được mọi sự Ngài muốn và Ngài đã từng
làm như thế cho nhiều người…
- Con xin Chúa đi và Dì sẽ cầu nguyện phụ với
con.
Và quả nhiên khi Dì Antony nhắm mắt, thì Mai
Liên cũng được khỏi hẳn cơn bệnh hiểm nghèo đó.
Việc con bé Mai Liên đang giúp đỡ Dì Antony được
khỏi bệnh một cách lạ lùng bỗng dưng làm tăng uy
tín và thế giá của Dì Antony rất nhiều. Yếu tố
này đã giữ vững tinh thần của mọi người trong
trại, dù là vắng Dì Antony. Và quả nhiên ngày
mai táng Dì không còn đượm nét thê lương như
những đám tang người thân yêu. Trái lại, nó trở
thành một cuộc kiệu thánh và những tiếng than
khóc đã trở thành một bài kinh.
- Thưa Dì! Như vậy từ ngày Dì Antony qua đời,
chắc là trại này được nhờ lời cầu nguyện của Dì
nhiều lắm?
- Điều đó thì chắc chắn có rồi, nhưng nhiều ít
còn do nhận thức của mỗi người.
- Chắc là ông cũng muốn biết một số sự kiện
quanh việc can thiệp của Dì Antony?
- Dạ! Đó là điều tôi ước mong!
- Như tôi vừa nói với ông, hầu hết tất cả các
bệnh nhân ở đây đều tin vào thế giá và uy tín
thánh thiện của Dì Antony. Ngay khi an táng Dì,
từlúc di quan đến lúc hạ huyệt phải mất cả buổi:
không phải vì đám rước linh đình gì, vì trong
trại còn đang gặp nhiều khó khăn về vật chất,
nhưng về tinh thần thì quả thật không có một đám
tang nào trong trại có được tình cảm sâu đậm như
vậy. Mọi người từ cá thể cũng như tập thể, cả
đến khu nhà bếp, trại chăn nuôi cũng muốn làm
thế nào phải đưa xác Dì Antony ghé qua, để nhờ
công nghiệp và lời bầu cử của Dì. Rồi cả nam lẫn
nữ, thanh niên đều muốn được khiêng xác Dì, vì
gương của Mai Liên được khỏi bệnh còn đang đánh
động ước muốn của mọi người.
Mặc dù không phải ai cũng được ơn như Mai Liên,
nhưng có một điều này: các bệnh nhân tin tưởng
vào Chúa hơn. Ngay chính sự hiện diện của Dì
Antony và công việc phục vụ của Dì cho bệnh
nhân, cũng đã làm cho những người có chút công
tâm nhận định: vì lý do nào mà một con người
thanh xuân đầy sức sống và tương lai, dám dấn
thân ở với các bệnh nhân nan y.
Rồi đến khi Dì Antony đau bệnh, sức chịu đựng
gan dạ và hy sinh của Dì lại càng là một lời nói
hùng hồn vì lý tưởng. Đến lúc Dì qua đời với
những dấu lạ ngay trước mắt, thì không ai có thể
phủ nhận sự can thiệp của Chúa và tin rằng có
Chúa.Quả vậy, cái chết của Dì Antony đã khơi dậy
lòng tin của mọi người từ trong trại đến ngoài
trại. Trong trại một số bệnh nhân vốn là người
ngoại đã ngỏ ý xin tòng giáo để được Dì Antony
che chở phù hộ cho. Đối với những người ngoài
trại, tin tức không đầy đủ của Dì Antony lọt ra
ngoài. Người ta đồn đãi đến nỗi chính quyền địa
phương phải tổ chức những buổi học tập để ngăn
chặn và “bài trừ mê tín dị đoan”. Do đó, vấn đề
an ninh trại cũng được kiểm soát chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, số đông thì chưa chắc, nhưng số ít
chẳng hạn như gia đình anh đội trưởng du kích
bảo vệ khu trại cùi đã trở về với Chúa… Cũng có
thể nói nhờ uy tín và ảnh hưởng của Dì Antony,
ban điều hành đã giữ được đoàn kết nhất trí với
nhau trước những khó khăn thử thách.
Ngoài những khó khăn vật chất mà trại thường
xuyên gặp phải, kể từ ngày trại gần như bị cắt
đứt mọi trợ giúp bên ngoài. Nhưng những ngày Dì
Antony còn, Dì xoay sở tháo vát, vấn đề cũng
tương đối đỡ. Nay lợi dụng cơ hội công việc làm
ăn trì trệ, nguồn thu hoạch bị thất thoát nhiều,
chế độ cá nhân chủ nghĩa nổi dậy: mạnh ai người
ấy sống, làm ít đòi nhiều, gây nên sự chia rẽ
trong trại. Ban điều hành trại mà điển hình là
thầy Sáu chích là trưởng ban, thầy được toàn thể
trại đề cử liền sau khi Dì Antony qua đời để
thay cho người trưởng ban cũ đau nặng. Thầy đã
cương quyết và khôn khéo phá vỡ được óc cá nhân,
trở lại đoàn kết gắn bó lấy nhau. Và cũng nhờ đã
sửa chữa kịp thời và gây được tình thương yêu
đoàn kết, nên trước áp lực rất mạnh giải tán
trại, hoặc thu gọn chỉ giữ những người không còn
khả năng… Ban điều hành đã vận động thành công,
quyết tâm giữ trại và xin hoàn toàn tự túc. Mặc
dù vấn đề giữ nguyên trạng vị trí trại tạm gác,
nhưng những áp lực bên trong bên ngoài vẫn ngấm
ngầm hoạt động gây xói mòn.
- Dì có thể cho tôi biết một số hoạt động gây
xói mòn và cách thầy Sáu xử trí ra sao?
- Những chuyện này, thầy Sáu hiện còn đây, thầy
có thể trả lời cho ông rõ. Nhưng chắc là ông
không có nhiều giờ, vậy tôi xin trả lời ông vắn
tắt và khi có điều kiện thầy Sáu sẽ cho ông biết
về chi tiết, chẳng hạn… Dì Lan nói tiếp:
- Thầy Sáu phải ra trước nhân dân để trả lời về
vụ thầy đã hủ hoá với cô trưởng phòng nữ để cô
phải tự tử.
Nội dung câu chuyện trong đơn tố cáo đại ý:Cô
trưởng phòng nữ là người đứng đầu phòng ngủ gồm
toàn các thiếu nữ chưa có gia đình bị bệnh. Các
cô sống chung với nhau và thường làm công tác
chung trong nhà dệt chiếu, may mặc… Người đứng
đầu toán, các cô gọi nửa kính trọng nửa đùa giỡn
lâu dần thành quen: trưởng phòng-phòng ở đây là
phòng ngủ. Vì là trưởng phòng, nên cô cũng có
nhiều công việc phải quan hệ với trưởng ban điều
hành. Nếu xét bên ngoài thì cô trưởng phòng cũng
có duyên, ăn nói hấp dẫn, cử điệu nhẹ nhàng, dễ
gây được cảm tình với người đối thoại, nhất là
giới nam. Thật sự cũng nhờ tài ngoại giao của cô
trưởng phòng, chị em được nhờ nhiều lắm và các
cô rất hãnh diện về trưởng phòng của mình.
Công việc và tình cảm của phòng nữ đang càng
ngày càng tốt đẹp, thì ngược lại cô trưởng phòng
chớm nở những nét lo âu kém vui. Con người của
cô cũng có chút thay đổi tác động đến chị em.
Tuy nhiên, công việc làm của cô không có gì bê
trễ, nhưng có điều liên hệ giữa cô với thầy Sáu
có nhiều hơn…
Thế rồi một đêm, cô đã ngủ và rồi không dậy nữa.
Cô trưởng phòng đã chết bất đắc kỳ tử. Người ta
xầm xì với nhau: cô bị trúng gió chết, người
khác có ác ý cho rằng cô tự tử. Rồi người ta
thêu dệt: nào là cô đã quan hệ tình cảm bất
chính với thầy Sáu Chích nên có thai. Thai đó đã
được năm tháng… Thấy nguy, cô không thể che giấu
được, cô đã uống thuốc tự tử.
Nhưng câu chuyện xầm xì đó đã xẹp vì mọi người ở
đây thấy không có một bằng chứng nào kết tội
thầy Sáu, và cũng đều thấy tư cách của thầy Sáu.
Thế rồi vào lúc đang có những khó khăn đe doạ
sự tồn tại của trại, thì câu chuyện của thầy Sáu
và cô trưởng phòng được khơi lại.
Ra trước bàn giấy của chính quyền, thầy bị buộc
tội đã gây nên cái chết của cô trưởng phòng.
Cũng có một số người trong trại đưa ra trường
hợp này, trường hợp khác chứng tỏ quan hệ tình
cảm giữa thầy Sáu và cô trưởng phòng, nhưng
những tố cáo đó không đủ yếu tố để buộc tội.
Ngay cả bằng chứng cô tự tử cũng không ai chứng
minh được. Sau cùng, người ta chỉ quy trách cho
ban điều hành mà thầy Sáu làm trưởng ban là biết
có trường hợp, hay ít ra nghi vấn có tự tử không
báo cáo rõ với chính quyền. Nhưng thực sự lúc cô
trưởng phòng chết, mọi người đều cho rằng cô
trúng gió và không ai đặt vấn đề…
Chưa hết, sau câu chuyện thầy Sáu với cô trưởng
phòng, tiếp đến chuyện thầy Sáu bị tố cáo hối
mại quyền thế, ăn chặn, khai man với tập thể để
hưởng thụ và đòi truất phế thầy Sáu. Lần này
thầy Sáu bị mời ra trụ sở để điều tra về đơn tố
cáo: nào là thầy hống hách, chà đạp nhân phẩm
của người khác, gây thương tích cho bệnh nhân.
Thực tế câu chuyện xảy ra thế này: trong trại có
mấy thanh niên cứ lén lút mua rượu uống, trong
số này có một anh hễ cứ say thì gặp ai cũng gây
sự và làm những điều mất thuần phong mỹ tục. Đã
nhiều lần thầy Sáu cảnh cáo băng này và riêng
anh chàng này. Hôm đó anh ta lại say và có phần
bê bối hơn mọi lần. Thế là thầy Sáu ra lệnh bắt
nhốt anh ta vào nhà kho, cố ý để anh ta ngủ say,
cất những đổ vỡ cho trại. Không ngờ trong khi
đưa anh ta vào nhà, anh ta chống cự. Và trong
lúc giằng co, anh ta té, mặt đập xuống đường gãy
mấy cái răng. Việc làm đó mọi người ở trại đều
cho là hợp lý, hợp tình, và còn biết ơn thầy Sáu
nữa là khác. Thế mà bây giờ thầy Sáu bị hàm oan.
Còn việc khai man để thủ lợi: nếu có cũng chẳng
phải mình thầy Sáu hay ban điều hành hưởng, mà
toàn trại được hưởng. Vả lại việc khai báo đó là
việc làm của người quản lý, thành viên trong ban
điều hành. Hơn nữa, công việc cũng chẳng đáng:
đó là nhân dịp lễ, trại có làm đơn xin hạ mấy
con heo, nhưng người quản lý không cân đo gì,
chỉ phỏng đoán và chắc phỏng đoán nhẹ cân để dễ
có lý do. Không ngờ công việc đã qua cả tháng
rồi mới bị khơi lại, và nhân thừa ra các công
việc khác nữa để kết tội. Tuy nhiên, những khó
khăn này cũng như bao nhiêu khó khăn khác lần
lượt qua nhờ sự giúp đỡ của thần hộ mạng?
Nhưng điều đáng ghi nhớ nhất đó là ngày trở về
của các Dì. Gần 6 năm trại chỉ còn một Dì duy
nhất, và hơn 1 năm trại hoàn toàn vắng bóng các
“thiên thần áo trắng”. Ngày các Dì trở về là một
ngày phục sinh của trại. Nhận xét này chính
thầy Sáu đã phát biểu trong ngày đón tiếp các
Dì.
Phần chúng tôi, những người nhận trách nhiệm
phục vụ trong trại này. Ngày trở về trại này
cũng là một ngày ghi nhớ sâu sắc cho chúng tôi.
Như tôi đã trình bày với ông: ngày mà chị em
chúng tôi, những người ngoại quốc phục vụ trong
trại này phải bỏ nơi này, chỉ còn lại một mình
Dì Antony, người Việt Nam được ở. Cả nhà dòng
chúng tôi đều bối rối, đau khổ, nhưng hoàn cảnh
không thể làm khác được. Do vậy, chúng tôi hết
sức lo lắng cho người chị em chúng tôi. Đàng
khác, chúng tôi cũng tưởng hoàn cảnh lẻ loi ấy
sớm chấm dứt, không ngờ kéo dài quá lâu.
Với thời gian kéo dài và cực kỳ khó khăn, chúng
tôi chỉ còn biết cầu nguyện và phó thác người
chị em chúng tôi cho Chúa. Còn về phần vật chất,
chúng tôi cũng gặp khó khăn chung của đất nước,
nên cũng chỉ có thể giúp đỡ trại rất ít. Đàng
khác, nếu có cũng không dễ gì chuyển đến trại
được. Tuy nhiên chúng tôi rất vui mừng và hãnh
diện về người chị em chúng tôi đã làm tròn trách
nhiệm ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Thực
tế nó vượt rất xa những lời lẽ, mà vì khiêm
nhường Dì Antony đã không viết cho Mẹ Bề Trên
chúng tôi trong mấy lá thư chúng tôi nhận được
trong những năm Dì Antony sống một mình.Qua
những lá thư đó, Dì Antony đã tường thuật tỉ mỉ
công việc trong trại, những thuận và hại của
từng giai đoạn. Nhưng Dì đã làm nhẹ bớt những
trở ngại, nhất là những đau khổ nặng nề đè trên
Dì, có lẽ để làm nhà dòng đỡ lo lắng cho Dì và
cho bệnh nhân.
Đùng một cái nhà dòng nhận được tin Dì qua đời.
Thật sự tin Dì qua đời nhà dòng nhận được cũng
gần cả tháng. Tin đến với nhà dòng như một tiếng
sét đánh, sập đổ mọi hy vọng mỏng manh đang có.
Mọi người trong nhà từ Mẹ Bề Trên đến chị em đều
than thở với nhau: số phận trại cùi mất mẹ rồi
sẽ ra sao? Những bệnh nhân già yếu, bất lực sẽ
sống thế nào… Hàng trăm câu hỏi đặt ra, nhưng
không câu trả lời.
Từ ngày đó cả nhà dòng chúng tôi đều lo lắng,
hướng về đây và đã cố gắng vận động để có người
lên thay thế, nhưng vẫn không được giải quyết.
Cho đến khi tình hình thay đổi, công việc hàng
đầu của dòng chúng tôi là lo liệu có một số chị
em tới địa điểm lớn nhất và quan trọng nhất
trong công tác tông đồ của hội dòng chúng tôi.
Tôi là người may mắn được theo chị em lên đây và
được chứng kiến cái cảnh đoàn tụ, một cái cảnh
nhiều nước mắt hơn nụ cười. Bước vào cổng trại
việc đầu tiên của chúng tôi là đến viếng thăm mộ
người chị em chúng tôi. Từ Mẹ Bề Trên giám tỉnh
đến chúng tôi, khi thấy ngôi mộ sơ sài của người
chị em, không ai giữ nổi giọt lệ. Và khi quỳ
xuống chung quanh nấm mộ, phải một hồi lâu chúng
tôi mới đọc nổi Thánh vịnh cầu cho người chị em
chúng tôi.Nhưng trước thái độ đau buồn cực độ
ấy, chúng tôi lại thấy được sự tin tưởng trước
thái độ hân hoan của các bệnh nhân đón ch1ung
tôi, và nhất là thái độ hết sức bình tĩnh và cao
cả của thầy Sáu, trưởng ban điều hành.
Một điều an ủi cho chúng tôi nữa là cô Mai Liên,
một nhân chứng thế giá về uy tín lời cầu bầu của
Dì Antony. Em đã được khỏi bệnh, trường hợp có
một không hai ở đây, liền sau cái chết của Dì
Antony. Và cũng từ đây chúng tôi được thấy và
được nghe nói rất nhiều về người chị em chúng
tôi. Tôi chỉ tóm lại một điều: Hội dòng chúng
tôi rất hãnh diện về người chị em chúng tôi: Dì
Antony Nhẫn và tạ ơn Chúa:
Phúc thay kẻ Ngài tuyển chọn
Lưu lại ngay trong Thánh điện Ngài
Ân huệ nhà Chúa, tôi no đầy
Lộc thánh đền Ngài cho tận hưởng…
(x. Tv 64)