|
MEN TRONG BỘT |
|
Linh mục Gioan Maria Đoàn Phú Xuân, CMC |
|
ĐỨC BÁC ÁI |
|
GIÁ TRỊ SIÊU NHIÊN Yếu tính của đạo Công giáo là tình yêu thương: Yêu Chúa và yêu anh em. Vì thế Chúa Giêsu đã đặt giới răn yêu thương tha nhân ngang hàng với giới răn kính mến Chúa. Cứ xem đức bác ái với tha nhân, ta biết được lòng kính mến của một linh hồn và đo lường được sự thánh thiện của họ. Chúa Giêsu phán với các môn đệ; “Thầy ban cho các con điều răn mới: Là hãy thương yêu nhau” (Ga 13,34). Tại sao Chúa gọi là điều răn mới, vì nó đã có từ đời Môisen nghĩa là trước Chúa Kitô cả ngàn năm ? Lý do: - Chúa gọi giới răn mới vì cách thức thực hành phải mới hơn.Ví dụ trong đạo cũ người ta có thể báo thù “mắt đền mắt, răng đền răng”, nhưng theo Lời Chúa dậy: “Phải thương yêu kẻ thù nghịch” (Mt 5,45). - Còn gọi là giới răn mới vì Chúa mặc cho nó những giá trị mới như sẽ nói sau. - Gọi là giới răn mới vì lý do khác nữa là Chúa mở rộng biên cương của đức bác ái. Xưa kia người Do thái chỉ thương người đồng đạo và khinh bỉ dân ngoại. Nay Chúa muốn ta phải yêu thương hết mọi người, không phân biệt tôn giáo, quốc gia, giai cấp, chủng tộc. 2. CHÚA GIÊSU QUÍ MẾN ĐỨC BÁC ÁI NHƯ THẾ NÀO? Không những Chúa gọi là giới răn mới mà còn gọi là giới răn riêng của Ngài (Ga 15,12). Ngài gán cho nó những giá trị thần linh. Ngài đã ban giới răn này trong một khung cảnh trang nghiêm đầy ấn tượng bằng những lời trịnh trọng: “Thầy truyền cho các con...” Chúa đã chọn buổi chiều sau cùng của đời Ngài, giây phút não nùng cảm động nhất để trăng trối ý muốn Ngài, là ta phải thương yêu nhau. Trước đó Ngài đã quì xuống rửa chân cho từng môn đệ, hôn chân họ, như người nô lệ làm cho chủ. Ngài làm việc hèn hạ ấy để hầu hạ môn đệ, cốt ý để ai nấy nhớ mãi vẻ trịnh trọng của giờ phút lập giới răn yêu thương. Như thế chứng tỏ Ngài ôm ấp trong tim giới răn cao cả này và chờ đến lúc sắp lìa thế, Ngài mới long trọng công bố. 3. CHÚA GIÊSU MẶC CHO ĐỨC BÁC ÁI NHỮNG GIÁ TRỊ NÀO? - Giá trị thứ nhất là giá trị thần bí. Chúa phán: “Đâu có hai ba người nhân danh Thầy mà hội họp lại, Thầy sẽ ở giữa họ” (Mt 18,20). Theo lời Chúa dậy trên đây, nơi nào có sự hiệp nhất yêu thương, nơi đó có Chúa, gia đình ấy trở nên nhà của Chúa và người ở đó được hưởng sự hiện diện đặc biệt của Ngài.Và hẳn là, ngược lại, nơi không có sự hiệp nhất, sẽ là nơi ma quỉ ngự trị và không có Thầy ngự giữa. - Giá trị thứ hai là giá trị truyền giáo, hay là giá trị chứng tá. Chúa phán: “Nếu các con yêu thương nhau, thiên hạ sẽ cứ dấu ấy mà biết các con là môn đệ Thầy” (Ga 13,35). Sự anh em yêu thương nhau là dấu chỉ của người môn đệ Chúa Kitô, và là động lực thúc đẩy người ta tin theo Phúc âm. Đó là việc truyền giáo tốt nhất, vì nó làm chứng rằng đạo ta là đạo tốt lành. Thánh Polycapo, khi còn là ngoại đạo, ông đã đi lính. Một hôm quân đội của ông tới một miền quê, thiếu lương thực, được dân chúng vui vẻ cung cấp, ông hỏi thăm mới biết là những người dân tốt lành ấy là người giáo hữu của Đức Kitô. Sau này khi giải ngũ, ông đã tìm hiểu đạo Công giáo và đã trở lại, đi tu rừng và đã làm thánh. Nhờ gương bác ái của người Kitô hữu mà Giáo hội lan rộng khắp dân nước. - Gíá trị tu đạo của đức ái là giá trị thứ ba, nghĩa là đức ái làm nên hồn sống của mọi nhân đức, mọi nhân đức phải qui về đức ái. Thí dụ: Giữ đức trinh khiết là để yêu mến cả gia đình nhân loại thay vì yêu thương một cá nhân. Giữ đức khó nghèo là để cảm thông và chia sẻ với cấp nghèo khổ cùng cực, giữ đức tuân phục là để bớt gánh nặng cho bề trên và mọi người hợp nhất nên một. Nhân đức gì mà thiếu đức ái cũng méo mó, khô cằn, không đáng công bao nhiêu. - Nhân đức còn có giá trị phục sinh như lời Thánh kinh: “Vì ta thương yêu anh em, ta biết rằng mình đã biến từ chết sang sống” (Ga 3,14) và “Ai không yêu thương, sẽ phải chết” (1 Ga 3,13). - Sau cùng là giá trị thanh tẩy. Nhờ có đức ái ta được Chúa thứ tha tội lỗi “Bác ái che lấp được tội lỗi” (1 Pr4,8). Đến ngày phán xét, Chúa sẽ xử đoán ta theo đức bác ái, và tha thứ cho ta tùy ta tha thứ cho anh em “Nếu các ngươi tha tội cho người ta, Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha tội cho các ngươi” (Mt 6,14). Và vì thế, ai làm việc bác ái nhiều sẽ không bị phán xét nặng nề. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con phải thương yêu nhau. Chúa đã nhận giới răn yêu thương làm giới răn Chúa, Chúa lại mặc cho nó những giá trị vô song. Xin cho con hiểu biết giá trị cao quí của đức ái, để con say mê thực hành, hầu con được nên giống Chúa vì mỗi lần con làm gì cho người anh em, Chúa sẽ kể như con làm cho chính Chúa vậy. Xin Chúa làm cho con trở nên người anh hùng của đức bác ái, người tông đồ của đức bác ái đi tung vãi yêu thương khắp nơi, để mọi người sống yêu thương thuận hòa, khiến mọi hiềm khích phải tan biến và Chúa hiện diện khắp mọi nơi, muôn người đồng tâm nhất trí ca tụng Chúa. Amen. Tình yêu thương tha nhân phải siêu nhiên, nghĩa là bắt nguồn từ Chúa và phải qui hướng về Chúa. Lại phải yêu như Chúa yêu và vì ý Chúa muốn cho ta yêu tha nhân. Lý do đức bác ái huynh đệ : 1. ANH EM LÀ CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO VÀ LÀ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA Chúng ta yêu Chúa đương nhiên chúng ta cũng phải yêu mến những gì liên hệ Chúa. Mà người anh em là do Chúa dựng nên, không những dựng nên mà còn dựng nên theo hình ảnh của Chúa như lời Kinh thánh: “Ta hãy dựng nên loài người giống hình ảnh Ta” (St 1,26), nghĩa là con người có linh hồn thiêng liêng, có trí khôn và ý trí tự do. Bởi vậy yêu Chúa là phải yêu tác phẩm tuyệt vời của Ngài là con người, yêu hình ảnh Ngài là chính người anh em ta gặp, dù con người ấy tàn tật, bệnh hoạn, xấu xí hay sao đi nữa, không yêu họ là không yêu hình ảnh Chúa. 2. ANH EM LÀ GIÁ MÁU CHÚA KITÔ Con người khi đã sa ngã lại được cứu chuộc. “Thiên Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban chính Con Một Ngài” (Ga 3,1) để làm Đấng Cứu Thế chuộc tội cho mọi người và cho từng người. Do đó, người nào cũng có thể được cứu độ bằng giá Máu Chúa kitô, hoặc đã được Máu ấy cứu độ rồi. Đã yêu Chúa, cũng phải yêu thương kẻ được Chúa cứu vớt. Ghét anh em là ghét giá Máu Chúa. 3. ANH EM LÀ ĐỀN THỜ SỐNG CHÚA THÁNH THẦN Những ai đã được rửa tội, linh hồn họ trở nên đền thờ cho Chúa Thánh Thần như lời Kinh thánh “anh em là đền thờ Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em” (1 Cr 5,19). Thánh đường nào cũng đáng ta tôn kính vì là nhà của Chúa, nhưng thánh đường sống động còn đáng ta tôn kính hơn, đó chính là người anh em có Chúa đang ngự trong linh hồn. 4. ANH EM LÀ CHI THỂ ĐỨC KITÔ Khi rửa tội, ta đã trở thành chi thể mầu nhiệm của Đức Kitô (1 Cr 6,15). Chúa Kitô là Đầu, mỗi người chúng ta là chi thể, và Giáo hội là nhiệm thể. Không ai yêu đầu lại ghét tay chân. Cũng thế, không thể yêu Chúa Kitô là Đầu Giáo Hội mà lại ghét anh em là chi thể của Giáo Hội được. Mặt khác, Chúa Kitô cũng tự đồng hóa với ta. khi Saolô bắt bớ các giáo hữu, Chúa đã hiện ra đánh ngã ông, Chúa đã phán: “Saolô, Saolô, sao ngươi tìm bắt Ta” (Cv 9,4). Saolô bắt bớ các giáo hữu, đâu có bắt Chúa, mà Chúa lại hỏi thế, chứng tỏ Chúa coi mỗi người giáo hữu là chính Ngài. Ngài cũng đã phán điều này về cảnh phán xét chung “Khi các ngươi làm điều gì cho người rốt hết trong anh em là làm cho chính ta” (Mt 25,40). Chúa còn coi ai đón tiếp một trẻ nhỏ vì danh Chúa là đón tiếp chính Chúa nữa (Mt 18,5). 5. ANH EM LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA TA TRÊN ĐƯỜNG VỀ TRỜI Hết thảy mọi người còn sống trên dương thế, đều là bạn của ta trên đường về quê trời, trên đường đi về quê trời, vừa xa, vừa khổ, ta lạ lẫm về phong tục, ngôn ngữ của Nước trời, lại thêm ma quỉ gài bẫy ta mọi nơi, mọi chốn, lắm lúc ta cảm thấy cô đơn, nhưng nhờ có người anh em cùng đi với ta, vui buồn có nhau, nâng đỡ, khích lệ nhau, do đó, ta bớt cô đơn trên đường theo Chúa. Chính vì thế yêu thương anh em là bổn phận của ta. Họ là bạn đồng hành, là căn cớ để ta ân thưởng. Những lý do trên đây hoàn toàn là lý do siêu nhiên, làm cho đức ái của ta có công trước mặt Chúa. Vì ta không cảm thấy thất vọng trước sự thấp hèn, nết xấu của tha nhân, khi ta yêu họ, mà chỉ đón nhận sự bội bạc vong ân. Nếu ta yêu họ vì lý do tự nhiên: tài ba, giỏi giang, trí thức, giầu có, tử tế với ta, có duyên dáng, lợi khẩu.v.v. ta sẽ thất vọng, vì xa xa thì thấy họ tốt, gần thì thấy khó thương, con người lại mau thay đổi, ta sớm bỏ cuộc và từ yêu sang ghét không mấy chốc. Chỉ yêu vì lý do như nói trên, đức ái của ta mới hữu công, mới bền bỉ, ta mới có sức mạnh để chịu đựng và đi đến cùng. THAN THỞ VÀ CẦU NGUYỆN Lạy Chúa mến yêu, con cảm tạ Chúa đã ban cho giới răn yêu thương. Chúa đã dạy và đã làm gương để con bắt chước. Xin Chúa sống trong con để yêu thương mọi người như Chúa đã yêu con và dạy con. Xin Chúa mở rộng tầm mắt đức tin của con để con khám phá ra Chúa ẩn nấp trong người anh em, để qua dáng vẻ tầm thường, xấu xa bề ngoài của họ, con nhìn ra được mặt thần linh của Chúa. Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi tranh chấp oán thù. Xin làm cho con trở nên một anh hùng của đức bác ái, để con ở đâu, ở đó có hòa thuận yêu thương. Xin cho nụ cười luôn nở trên môi con, để con làm tươi nở trên những đôi môi héo hắt từ lâu, nụ cười hồn nhiên và khoan khoái. Xin cho con yêu mến Chúa không biết mệt và yêu người không biết mỏi. Xin cho con nên một thiên thần hòa bình tung vãi khắp nơi niềm vui của đức bác ái linh hoạt, sống động và thực tế. ĐỨC BÁC ÁI (3) Đức ái huynh đệ Chúa dạy ta phải có những đặc tính sau đây: 1. SIÊU NHIÊN Nghĩa là bắt nguồn từ lòng mến Chúa, và phải qui về Chúa. Tôi yêu thương người anh em không phải vì họ có tài, vì họ tử tế với tôi, vì họ có nhiều nét hấp dẫn làm tôi cảm phục, hay vì họ khổ mà tôi thương hại họ. Yêu như thế chỉ là tự nhiên không có công gì trước mặt Chúa. Tôi phải yêu thương họ vì những lý do cao thượng và qui về Chúa như đã suy gẫm ở bài trước đây. Họ là hình ảnh Chúa, là tác phẩm của Chúa, là chi thể Đức Kitô, là đền thờ Chúa Ba ngôi, là bạn đồng hành của tôi trên đường về quê trời. Tôi yêu họ vì Chúa truyền dạy, vì Chúa đã yêu họ, vì Chúa đã yêu tôi, đã làm gương cho tôi yêu họ. 2. PHỔ QUÁT Nghĩa là phải yêu hết mọi người không trừ một ai. Hết mọi người đang sống trên trần gian dù họ là người ngoại quốc, người xấu xí, giầu nghèo, mọi rợ, thô bạo, dù họ không đồng quan điểm với tôi, hay chống đối tôi, mưu mô hãm hại tôi, dù họ không cùng tín ngưỡng với tôi, dù họ tội lỗi hèn hạ. Tôi phải yêu thương hết thảy vì họ từ Chúa sinh ra, đều được Chúa chết thay cho họ, nay họ còn như Saolô bắt đạo, mai họ có thể trở thành thánh Phaolô tông đồ dân ngoại. Nay họ đang là người gái điếm tội lỗi tràn đầy, mai kia họ sẽ trở thành thánh nữ Madalena, ai biết được. Chúa không loại trừ ai, tôi cũng không loại trừ ai khỏi trái tim của tôi. Tôi phải yêu các linh hồn luyện tội, các linh hồn làm thánh trên trời. Còn các linh hồn còn đang trầm đọa trong hỏa ngục, họ không bao giờ có thể được cứu độ nữa, nên không thuộc về đức ái đúng nghĩa của tôi. 3. YÊU BÌNH ĐẲNG Nghĩa là tôi muốn người ta làm gì cho tôi, tôi cũng phải muốn làm cho người ta thể ấy, vì trước mặt Chúa, tôi và người ta đều bình đẳng, nghĩa là cũng là công trình sáng tạo của Chúa, cũng được Chúa đổ Máu để cứu chuộc. Chúa còn đòi người ta phải yêu anh em như Chúa yêu, có nghĩa là sẵn sàng hiến thân vì anh em khi Chúa muốn. Vì những đặc tính trên đây, đức ái Công giáo khác hẳn với: - Chủ nghĩa nhân đạo, nghĩa là yêu đồng loại theo tính tự nhiên, thấy người khác hoạn nạn thì thương tâm, điều này tốt, nhưng không đáng công trước mặt Chúa trong thế giới mai hậu trên trời. - Thương hại lối trịch thượng, Nghĩa là bố thí cho người khác một chút tình thương, một chút của cải vì tội nghiệp họ, bố thí cách khinh bỉ, cách trịch thượng làm giảm nhân phẩm của họ, bắt họ phải chịu ơn mình, lợi dụng sự giúp đỡ để bắt người thụ nhân phải lụy phục mình. - Ăn sang ăn trả lối dân ngoại, nghĩa là tử tế với người tử tế với mình, chào hỏi người chào hỏi mình, giúp đỡ người biết điều, biết cảm ơn mình, còn ai xỏ xiêng thì mình kiêng mặt ra. Xem thế đủ biết đức ái Phúc âm dạy là một nhân đức cao cả, vô vị lợi, yêu thương không cần đáp đền, và làm phúc tay trái không cho tay mặt biết, không khua chuông gõ mõ cho người ta biết việc bác ái của mình. Đức bác ái Công giáo không biên giới, nghĩa là không bị giới hạn bởi ranh giới quốc gia, chủng tộc, không bao giờ có sự kỳ thị màu da, tiếng nói, ý thức hệ. Nó phải vượt lên trên tấỉt cả, vì mọi người đều là con một Cha trên trời và là anh em với nhau. 4. ÍCH LỢI CỦA ĐỨC BÁC ÁI a) Đức bác ái là thước đo lòng mến Chúa:Không ai tin được kẻ mến Chúa mà lại ghét anh em, vì thế cứ dấu ta yêu thương tha nhân nhiều hay ít mà ta biết được ta yêu mến Chúa nhiều hay ít. Ta phải cảm tạ Chúa vì Chúa đã kể việc ta làm cho anh em là làm cho chính Ngài, để có người anh em mà ta có dịp đền đáp ơn Chúa và có cơ hội tỏ lòng ta yêu Chúa. b) Đức ái giúp ta được tha tội lỗi và thoát khỏi cuộc phán xét: Thánh kinh đã quả quyết: “Bác ái che lấp tội lỗi”(1Pr.4,7). “Nếu con không tha cho anh em, Cha Ta cũng không tha cho con”(Mt.6,14). Và ngày phán xét, Chúa chỉ hỏi ta về đức ái mà thôi. c) Đức ái giúp ta nên thánh rất mau: Càng yêu anh em càng nên giống Chúa, vì Chúa xuống thế gian chỉ vì con người. Mỗi khi ta làm một việc bác ái, lòng chúng ta được mở rộng, ơn Chúa đổ xuống rất nhiều, ích kỷ hẹp hòi bớt đi, Chúa thay thế dần cái tôi của ta, chẳng mấy chốc mà ta nên thánh thiện. d) Đức ái giúp ta tập nhân đức nhiều:Nhờ việc thực thi bác ái, ta thêm nhẫn nại, can đảm, tế nhị, khiêm tốn, vui vẻ, cao thượng. Ở đâu có đức ái, ở đó có hòa bình, có an vui, có hy vọng, có tình người và tất nhiên có Thiên Chúa hiện diện. Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng bông hoa bác ái Chúa đã mang từ trời xuống, triển nở trong mảnh đất tâm hồn con, xin đừng để con úa tàn vì làn gió ích kỷ, bụi bặm của cái tôi hẹp hòi của con. Ước chi hương thơm bác ái của con luôn tỏa lan làm vui lòng Chúa và làm mát lòng người, để con ở đâu Chúa được ca tụng ở đó, người ta xích lại gần nhau hơn, cõi lòng giá lạnh được ấm lại và ánh sáng hy vọng bừng lên phá tan mọi hận thù đen tối. Amen. Đức bác ái huynh đệ hết sức cao quí và có tầm mức quan trọng trong việc nên thánh. Tuy nhiên thực hành được nhân đức này rất khó khăn, khó khăn về phía ta và phía anh em. 1. VỀ PHÍA THA NHÂN Đức tin dậy rằng anh em là hình ảnh Chúa, là giá Máu Chúa, giúp anh em là giúp Chúa... Nhưng trong thực tế, người sống quanh ta mang nhiều khuyết điểm làm ta rất khó chịu và ác cảm. - Có người khó hợp với ta do tính tình: nóng nảy, hay soi mói, hay dựngchuyện để phê bình, hay bêu xấu ta. - Có người ích kỷ, chỉ ăn người, nhiều khi bất công, mượn vay không sòng phẳng. - Có người rất dữ tợn, hơi chạm đến họ, thù dai, tàn nhẫn, nói bóng nói gió, lấy oán báo ơn, mưu mô độc ác. - Người khác ganh tỵ, ghen tương, khôn vặt, đổ thừa. - Có người lại kiêu ngạo, ra bộ ta đây, khinh bỉ ta, chọc ghẹo, cậy quyền thế lấn át, cậy tài giỏi lên nước. - Có người tham lam, dối trá, thất tín, hứa hão, lường gạt. Khó mà tả hết được thói xấu con người. Ây là chưa kể “bá nhân bá tánh”. Không làm sao vừa ý họ được. Mà đã không vừa ý là gièm pha, moi móc, hành tỏi, bỏ vạ cáo gian, ít xuýt ra nhiều,suy bụng ta ra bụng người, thấy ta nhịn nhục họ làm tới, ta im lặng họ cho là ngu, là có tội, ta lên tiếng họ cho là già mồm, ta càng nhẫn nại họ càng làm tới... Từng ấy thói xấu mà bảo ta phải thương yêu thì khó khăn vô cùng. 2. VỀ PHÍA TA Chính mỗi người chúng ta cũng mang thói xấu như mọi người. Ta muốn nên tốt nhưng con người cũ của ta cứ xúi ta làm ngược lại. Nơi ta có nhiều hèn yếu, nghịch đức ái: - Tính ích kỷ của ta bao giờ cũng muốn thủ thân, lo cho mình, bất cần tha nhân. - Tính tự ái làm ta dễ phật ý, oán giận và muốn trả đũa. - Tính chủ quan làm ta chỉ nghĩ mình là hay là phải, người khác không ra gì. Do đó ta dễ lên án tha nhân, coi thường họ. - Tính kiêu ngạo ai chạm đến ta, ta tức giận. Ai chê ta, ta dễ buồn. Ai nịnh bợ ta, ta dễ có thiện cảm. Ta chỉ làm ơn cho người tử tế với ta, và ác cảm với người không ưa và xử với họ theo con mắt tự nhiên xác thịt hơn là theo đức tin. - Tính nhẹ dạ, dễ tin điều xấu hơn là điều tốt của người ta, dễ nói tới người vắng mặt, làm ta dễ lỗi đức ái trong lời nói, tư tưởng. - Tính nóng giận làm ta dễ xung, dễ cứng cỏi và hành động vội vã, thiếu khôn ngoan. Vì thế để thực hành giới răn quan trọng này, chúng ta có bổn phận sau đây: a) Phải suy ngắm thật nhiều về tầm quan trọng và tính cách khẩn thiết Chúa đòi, cũng như Chúa thưởng công bội hậu cho những ai thi hành. Chúa phạt nặng nề những lỗi về đức ái, để ta có xác tín sâu xa và quyết tâm thực hành. b) Phải có đức tin mạnh mẽ để nhìn ra ý Chúa nơi tha nhân, để thắng được thói xấu nơi họ, nghĩa là chỉ lưu tâm tới điểm cốt yếu là yêu họ như Chúa muốn, chứ không vì họ mới yêu thương. c) Phải hãm dẹp những thói xấu ta thường có như đã nói trên, mới thông cảm với tha nhân mà yêu thương họ. Ngày nào đức mến Chúa vững mạnh nơi ta, ngày ấy ta có đủ sức để tự chủ và làm việc bác ái. Khi nào ta khô khan, đức tin yếu, lúc ấy ta thường ích kỷ, khép kín và coi thường tha nhân bằng con mắt lãnh đạm, khinh bỉ, tìm cách xa lánh họ để khỏi bị quấy rầy, và rất dễ từ khước giúp đỡ họ, lại còn kết án họ là khác. Rất cần bền bỉ để từ bỏ mình và đem đức tin để nhìn tha nhân, mới hy vọng giữ được đức bác ái này, như Chúa dạy. Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, Chúa đã yêu thương hết thẩy không trừ ai, xin Chúa ban cho con biết mình con là hèn hạ và đầy khuyết điểm, để con từ bỏ chính mình con, vì có từ bỏ chính con, con mới yêu thương, đón nhận người khác được. Xin cho con nhớ luôn rằng con nhịn người khác, thì người khác cũng phải nhịn con, như thế con sẽ nhẫn nại, thông cảm và tha thứ cho mọi người. Xin cho con biết sửa mình luôn, để con có đủ tư cách và sức mạnh để phục vụ người anh chị em sống quanh con, như Chúa đã yêu họ vậy. Amen Muốn thực hành đức ái cách hữu hiệu và trọn hảo như Chúa đòi buộc, trước hết ta phải hãm dẹp cái tôi ích kỷ, tự ái, hẹp hòi, rồi nhìn vào Chúa Kitô để theo gương Ngài mà cư xử với người anh em ta gặp. 1. KHÁM PHÁ RA CÁI TỐT HƠN NƠI NGƯỜI KHÁC ĐỂ CẢM PHỤC Chúa Kitô là Thiên Chúa làm Người, Ngài thấu rõ lòng mọi người, biết hết thói xấu của họ, nhưng Chúa vẫn đề cao cái gì hay nơi người đối diện. Chúa đã khen đức tin của người Canaan khi bà đến xin chữa cho con gái bà (Mt 15,25), Chúa khen đức tin của viên bách quân đội trưởng (Mt 8,10), tỏ ra cảm phục ông ta. Phần chúng ta cũng phải theo gương Chúa khám phá những gì tốt nơi anh em để cảm phục họ, nói đúng hơn, cảm phục công trình Thiên Chúa đã làm nơi họ. Ai cũng có cái xấu, nhưng ai cũng có cái tốt, cái hay. Cái xấu của người khác thường đập vào mắt chúng ta, làm cho ta đễ thấy.Còn cái tốt của họ khó thấy hơn, phần thì phải ở lâu với họ mới gặp, phần vì ta tự ái khó nhìn ra cái tốt của họ, sợ họ tốt làm ta giảm giá. Vì thế, ta phải chịu khó nhìn ra cái tốt nơi người khác, và đủ can đảm để nhìn nhận cái tốt của họ, vừa để cảm phục họ, cảm phục Chúa đã làm điều tốt nơi họ, làm ta bớt đi sự mặc cảm tự nhiên với họ. Gặp ai, thì việc đầu tiên của ta là chú ý đến cái tốt của họ như: khỏe mạnh, vui vẻ, có tài, tử tế, chịu khó..v..v. Đừng để ý nhiều tới cái xấu của họ. Đó là bước đầu để bước vào thực thi đức bác ái siêu nhiên. 2. TÔN TRỌNG THA NHÂN Khi ta đã khám phá ra những điều tốt nơi người khác và nghĩ đến họ là con cái Chúa, là hình ảnh Chúa, là ta tôn trọng họ: - Tôn trọng phẩm giá, không thể khinh họ được. - Tôn trọng quyền lợi và địa vị của họ. Ai cũng có quyền lợi tinh thần và vật chất, nhất là khi họ có một địa vị gì trong Giáo hội, hay địa vị xã hội, ta phải tôn kính họ. Chính Chúa Kitô cũng kính trọng các nhà cầm quyền đạo đời, Chúa đã nộp thuế cho nhà vua, cho đền thờ, Chúa đã lễ độ với các thầy cả Do thái. - Tôn trọng tự do, sở thích của tha nhân. Mỗi người được tự do tư tưởng, có lập trường riêng, có sở thích riêng. Chúng ta phải tôn trọng lập trường của họ, sở thích của họ miễn là không phạm tới ai, không nên công kích họ, ép họ theo ý mình. - Tôn trọng tiếng tốt của họ, vì thế không được nói hành, nói xấu, gièm pha, bình phẩm. 3. THÔNG CẢM VÀ CHIA SẺ Là người ai cũng muốn được chia sẻ tâm tình, muốn được người khác thông cảm với mình. Vì thế, người có đức bác ái thật là một người biết thông cảm và chia sẻ với anh em mình. Thông cảm và chia sẻ với họ về niềm vui nỗi buồn, về tất cả lao nhọc, về thất bại và thành công. Chia sẻ cho họ và chia sẻ với họ. Chia sẻ tâm tình, chia sẻ miếng cơm manh áo, chia sẻ quyền lợi, uy tín, những gì có thể chia sẻ được, để giữa ta và người anh em có sự trao đi đổi lại. Như thế mới có tình yêu thương nhau thật, tránh tình trạng mỗi người là một hòn đảo, không ai biết ai, xía vào tâm tư riêng của họ, khi họ không thích. 4. ĐỐI THOẠI Muốn thông cảm và chia sẻ, chúng ta phải biết đối thoại. Đối thoại là hai người nói chuyện tình nghĩa với nhau để tìm ra một sự thật. Đối thoại không phải là cãi vã, là nói cho biết tay, là nói cho bõ tức, như thế chỉ là độc thoại, không ai nghe ai, như cuộc đối thoại của hai người điếc. Đối thoại đúng nghĩa là nói chuyện tình nghĩa, lắng nghe nhau, thành thật, thẳng thắn, phục thiện, với mục đích là khám phá ra sự thật. Nếu cha mẹ, anh chị em, bạn hữu, bề trên bề dưới biết đối thoại với nhau theo đúng nghĩa của nó như đã nói trên, thì bứt đi được bao nhiêu hiểu lầm hiềm khích, tránh được bao nhiêu hờn giận, cãi vã, hận thù. Muốn thế phải bớt đi tự ái, phải khiêm nhường can đảm ngồi lại với nhau, nghe nhau và can đảm nhận sự thật. THAN THỞ VÀ CẦU NGUYỆN Lạy Chúa Giêsu là gương mẫu của đức bác ái, Chúa đã làm gương cho con trong việc tôn trọng người khác khi Chúa quí mến trẻ nhỏ, lắng nghe người nghèo khó bệnh tật quấy rầy, khi Chúa nhẫn nại đối thoại với mọi thứ người, thiện tâm như Nicôđêmô, ác ý như bọn biệt phái. Chúa yêu thương tất cả, vì Chúa nhận ra công trình của Chúa Cha nơi các thụ tạo. Xin Chúa dạy con biết nhìn ngắm gương Chúa, biết mau mắn nhận ra công cuộc kỳ diệu của tình yêu Chúa nơi người anh em để con cảm phục, tôn trọng, thông cảm và chia sẻ với họ, như Chúa đã làm vì yêu thương chúng con.Amen. THỰC HÀNH ĐỨC ÁI Sau khi đã khám phá những điều tốt nơi anh em để cảm phục, để tôn trọng họ, để thông cảm và chia sẻ với họ, ta sẽ dễ hiểu họ và nghĩ tốt cho họ, và không xét đoán họ. 1. THẾ NÀO LÀ KHÔNG XÉT ĐOÁN ANH EM? Đúng ra xét đoán hay là phán đoán gồm cả nghĩ tốt và nghĩ xấu cho người khác, nhưng ở đây khi Chúa cấm xét đoán người khác phải hiểu là lên án hay nghĩ xấu cho tha nhân. 2. TẠI SAO LẠI KHÔNG ĐƯỢC XÉT ĐOÁN THA NHÂN Chúa cho ta có trí khôn để phân biệt phải trái, thấy điều gì hay ta phải nhận là hay, dở phải biết là dở. Chúa đâu có buộc ta phải nghĩ ngược lại, hay lại cho là dở và dở lại cho là hay. Điều Chúa nói ở đây là đừng có lên án chủ ý của họ, vì chỉ có mình Chúa biết rõ lòng người, còn ta chỉ thấy bề ngoài. Vì thế Chúa đã phán: “Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán” (Mt 7,1), “Các ngươi xét ai thế nào cũng sẽ bị xét đoán lại như vậy, các ngươi đong đấu nào sẽ được đong lại cho các ngươi đấu ấy” (Mt 7,2). 3. TAI HẠI CỦA SỰ XÉT ĐOÁN NGƯỜI KHÁC a) Ta rất dễ sai lầm, hoặc vì ta kiêu ngạo, dễ lấy mình hơn, nên khó công minh nhận ra cái tốt của họ, hoặc vì ta không rõ ý hướng của họ khi hành động, ta thường suy bụng ta ra bụng người, ta có ý xấu cứ tưởng họ cũng xấu như ta, hoặc vì ta không đủ dữ kiện để phán đoán, nên lầm lẫn, hoặc vì ta sẵn có thành kiến với họ trước, đã yên trí họ không tốt, thì họ có tốt mấy ta cũng phủ nhận, hoặc vì ta chủ quan, dễ tin, vội vã thiếu công minh, thiếu chín chắn, thấy bề ngoài đã vội vã kết luận. b) Chuốc lấy cho mình sự phán đoán của Chúa: như Chúa đã nói trên, ta xét đoán hẹp hòi cho anh em sẽ bị Chúa xét đoán nghiêm thẳng cho ta như vậy. Chúa đã dùng một dụ ngôn về một người mắc nợ chủ, chủ tha cho hắn nhưng người đầy tớ này không tha nợ cho bạn, nên bị Chúa tống vào ngục (Xem dụ ngôn đầy tớ mắc nợ chủ. (Mt 18, 21-35). c) Đoán xét cho người khác là việc bất công, vì chỉ có Chúa có quyền lên án, còn ta là anh em với nhau không ai đặt ai làm quan tòa để xét xử anh em. 4. THÀNH TÍCH VỀ VIỆC CHÚA THƯỞNG CÔNG CHO NGƯỜI NGHĨ TỐT VỀ ANH EM trong sách “dạy đi đàng nhân đức trọn lành”, tác giả là thánh alphonso ligouri đã kể lại một câu truyện một tu sĩ trong lúc ngất trí được xem thấy cuộc rước trên trời, các thánh xếp hàng cung nghinh chúa, ai nấy đều có đôi mắt sáng ngời, nhưng một vị có cặp mắt sáng hơn các vị khác như hai ngọn đèn pha vậy. vị tu sĩ này thắc mắc tự hỏi: ông thánh này là ai mà có cặp mắt sáng như thế? và thầy tu này được chúa trả lời rằng, đó là linh hồn khi còn sống ở thế gian luôn luôn nhìn anh em với cặp mắt ngay lành, đoán ý tốt cho mọi người, nên trên trời linh hồn ấy được trọng thưởng như vậy. 5. phải phê phán công việc người khác theo tiêu chuẩn nào? Hay nói cách khác: Phải đoán ý lành như thế nào ? a) Nếu ta không rõ việc làm tốt hay xấu, đúng hay sai thì cứ phải cho là tốt. b) Nếu người ta việc làm xấu mà ta không biết rõ chủ ý của họ thì phải cho rằng họ lầm mà thôi, chứ chủ ý của họ là tốt. c) Nếu việc họ làm là xấu, mà chủ ý của họ cũng xấu, ta phải cho họ là yếu đuối, chứ không cố tình. Nếu địa vị ta vào địa vị họ, thì chắc ta còn tệ hơn họ nữa. Thánh Philipphê đệ Nêri một hôm ông thấy người ta áp giải một tên cướp đi xử tử, Ngài tự nhủ rằng “đấy là Philipphê nếu không có ơn Chúa”, nghĩa là thánh nhân có ý nói rằng: Nếu Chúa không thương ngài đặc biệt, thì ngài cũng không hơn gì anh tử tội này. 6. LÀM SAO ĐỂ CÓ TÂM TÌNH ĐOÁN Ý LÀNH CHO THA NHÂN Muốn được tâm tình này, ta phải luôn nghĩ tới sự yếu đuối của ta và khám phá không ngừng cái hay cái tốt của tha nhân và cũng phải sợ lý đoán công lý của Thiên Chúa nữa. Mặt khác khi nghĩ tới ích lợi lớn lao của việc đoán ý lành cho tha nhân như: được Chúa xử rất nhân từ, được tha nhân quí mến, được tâm hồn mở rộng, bình an và thanh thỏa, ta sẽ phấn khởi mà xét đoán rộng rãi cho người anh em. THAN THỞ VÀ CẦU NGUYỆN Lạy Chúa Giêsu, trên thập giá hấp hối, Chúa đã đoán ý lành cho những người đao phủ đóng đinh Chúa “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Xin Chúa dạy cho con biết luôn luôn đoán ý tốt cho anh em, để đến khi con ra trước tòa án trung thẩm của Chúa, con cũng được Chúa cầu bầu cho con như vậy trước mặt Thiên Chúa Cha. Xin Mẹ Maria in sâu vào lòng con mệnh lệnh của Chúa: Ngươi đừng lên án ai, để khỏi bị kết án. Amen. THỰC HÀNH Tha thứ là đặc tính của Thiên Chúa, và Chúa muốn cho con cái Chúa phải bắt chước Chúa mà tha thứ cho nhau. Bởi đó tha thứ là một yếu tố quan trọng của đức bác ái. 1. TẠI SAO TA PHẢI THA THỨ CHO ANH EM? - Vì Chúa tha thứ cho chúng ta. Mỗíi ngày chúng ta phạm đến Chúa không biết bao nhiêu lần, phạm tội trong tư tưởng, ngôn ngữ, hành động, thiếu sót, lỗi nặng, lỗi nhẹ, phạm đi phạm lại, thế mà mỗi khi chúng ta kịp ăn năn là Chúa tha ngay. Nếu Chúa đã tha cho ta, và còn tha nữa vì bao lâu còn sống ta còn phạm lỗi, thì đến lượt ta, ta cũng phải tha cho anh em, như thế mới là hợp lý. - Chính Chúa truyền dạy ta phải tha thứ, để được Chúa thứ tha. Sau khi dạy ta cầu nguyện bằng kinh lạy Cha, Chúa đặt điều kiện “Nếu các ngươi không tha cho anh em, Cha Ta cũng không tha cho các ngươi” (Mt 6,15). - Đức công bằng buộc ta phải tha cho anh em, vì con người ai cũng yếu đuối, cũng cần được tha thứ để lấy lại sự bình an của tâm hồn. Nếu ta sai lỗi yếu đuối mong được tha nhân thông cảm như thế nào, thì ta cũng phải hiểu nhu cầu như vậy nơi người anh em. - Sự tha thứ đem lại nguồn vui cho tâm hồn, sự bình an nội tâm và nhất là làm cho cõi lòng chúng ta rộng mở. Người để lòng thù hằn, không bao giờ được nếm thử niềm vui thanh cao, quảng đại. - Càng tha thứ nhiều, ta càng nên giống Chúa. Chúa đã lấy dụ ngôn đứa con phung phá để tả lòng Chúa ước ao được tha cho tội nhân, nói cách khác, Chúa luôn luôn tha thứ, nhưng nếu ta không đón nhận mà còn nghi ngờ, Chúa sẽ lấy điều đó làm cực lòng. 2. PHẢI THA THỨ NHƯ THẾ NÀO? - Đã tha là tha hẳn, không bao giờ nhắc lại lỗi lầm của tha nhân. Gương Chúa Giêsu tha cho thánh Phêrô tội ba lần ông chối Chúa. Trước khi trao cho ông lòng tín nhiệm của Chúa, Chúa cắt đặt ông làm đầu Giáo hội, Chúa không hề nhắc lại tội cũ của ông. Chúa chỉ hỏi ông ba lần: “Con có mến Ta hơn những người này không?” (Ga 21,15-17). Ngài không hề nhắc lại tội Phêrô chối Ngài. - Chúa còn tín nhiệm tội nhân hối cải y như xưa, không hề có chút hằn thù hay khinh bỉ. Đứa con hoang đàng khi đã biết lỗi của mình được người cha chạy ra đón, ôm hôn và bảo đầy tớ lấy áo đẹp nhất mặc cho, lấy giầy và nhẫn xỏ cho, làm tiệc lớn ăn mừng. Phêrô khi đã xám hối vẫn được đặt làm Giáo hoàng, kế vị Chúa ở trần gian. Các tông đồ bỏ Chúa trốn đi, khi trở về, Chúa vẫn đặt các ông làm cột trụ Hội thánh. Phần chúng ta khi tha thứ cho anh em cũng phải tha thứ cho trọn vẹn, tha hẳn, không nhớ giai, không đay nghiến, tha tự đáy lòng và cố gắng xử cho tế nhị để người tha không nhục nhã, mặc cảm. - Bao nhiêu lần người ta xúc phạm đến ta, ta cũng phải tha hết, Chúa đã bảo thánh Phêrô phải tha cho anh em “đến bảy mươi lần bảy ”(Mt 18,22), có nghĩa là tha luôn mãi, bao nhiêu lần cũng tha hết. Ngày nay ta đi xưng tội bao nhiêu, ta cũng được tha hết. 3. LÀM THẾ NÀO ĐỂ THA THỨ NHƯ VẬY ĐƯỢC? - Trước hết phải suy niệm về lòng thương xót vô cùng của Chúa đối với ta. Dụ ngôn “người con hoang đàng”, “người đầy tớ mắc nợ chủ mười ngàn nén bạc”, “câu truyện Chúa tha cho Phêrô, cho người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang....”, là đề tài thường xuyên cho ta suy nghĩ, tòa giải tội, cây thập giá ở trước mắt ta luôn, để nhắc ta biết rằng Chúa luôn luôn tha cho ta. - Khi ta đọc kinh Lạy Cha, ta đừng quên rằng Chúa chỉ tha cho ta tùy mức độ ta tha cho anh em. - Ta cũng đừng quên rằng chỉ có tha thứ mới có hòa thuận, bình an và niềm vui. - Ta phải tập cho quen nếm được niềm vui ngọt ngào của sự được tha thứ. Nói cách khác mỗi lần ở tòa giải tội ra về, ta phải thấy lòng nhẹ nhàng lâng lâng và vui mừng lớn lao. Người thu thuế Lêvi đã cảm được niềm vui mừng này, nên ông đã làm tiệc linh đình thiết đãi bạn hữu sau ngày ông được Chúa tha tội và được gọi làm tông đồ. Giakêu cũng thế, một người bóc lột dân lành khét tiếng, đã được Chúa tha và ông đã hứa đền gấp bốn những ai bị ông bóc lột, lấy nửa phần gia tài mà chia cho người nghèo khó, và tâm hồn ông vui như em bé ngày tết. Khi ta cảm nghiệm niềm vui được tha thứ, ta sẽ biết ơn Chúa và thứ tha rộng rãi cho những ai xúc phạm đến ta. THAN THỞ VA CẦU XIN Lạy Chúa Giêsu hay thương xót và tha thứ, xin cho con luôn cảm nghiệm được niềm vui được tha tội, xin ban cho con thông cảm được với nỗi nặng lòng của người khác khi họ xúc phạm tới con và đến xin con tha thứ. Xin cho lời nguyện của Chúa trên thập gía : “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”(Lc.23,34) trở thành lời nguyện thường nhật của con. Amen THỰC HÀNH Chịu đựng lẫn nhau là một yếu tố quan trọng để thực thi đức bác ái. Ai chịu đựng giỏi thì giữ đức bác ái tốt. 1. LÝ DO PHẢI CHỊU ĐỰNG LẪN NHAU - Vì không ai giống tính tình ai, quan niệm khác nhau, sở thích khác nhau, người nọ làm khổ người kia là lẽ dĩ nhiên, không nhịn nhục giỏi là đổ vỡ và tai hại cho cả hai bên. - Không ai trong chúng ta đã lên mức hoàn thiện mà không vô tình phạm tới người khác, họ phải chịu đựng ta nhiều, ta đâu có biết, thì phần ta cũng phải chịu đựng họ. Đó là công bình. - Mặt khác, người có ý xấu làm khổ ta thì cũng có nhiều người vô ý, hay có khi có ý tốt, mà vẫn làm khổ ta vì họ lầm hay không hiểu ta. Vì thế ta phải chịu đựng cũng không lạ. - Chúa khuyên dạy ta phải chịu đựng nhịn nhục khi Ngài phán: “Phúc cho người hiền lành...phúc cho người khóc lóc(Mt.5,4-5)...” kẻ hiền lành, kẻ khóc lóc là kẻ phải chịu đựng nhiều. - Thánh Phaolô trong các thư của ngài đều khuyên ta nhẫn nhục “Đức ái tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7; x. 1 Pr 3,8). 2. ÍCH LỢI CỦA CHỊU ĐỰNG Người đời không có đức tin hay đức tin kém thì coi ta chịu đựng như là dại dột, họ khích ta phản ứng hoặc họ làm tới khi chúng ta nhịn. Nhưng trước mặt Chúa, trước lương tâm và lẽ phải, chịu đựng là điều rất khôn, rất lợi. - Không phải là người ta miệng dữ tợn luôn luôn là được cuộc, nhiều khi vì họ yếu lý mà phải dùng đến võ lực “cả vú lấp miệng em”. Nhưng thực ra sẽ trả lời ai hay ai dở. - Người nhịn giỏi là người có sức mạnh nội tâm, có đủ ý chí kìm hãm tính nóng, có đủ khôn ngoan để suy tính lợi hại, con người không chịu đựng nổi là người yếu y chí, hấp tấp, thiếu khôn ngoan. - “Một nhịn chín lành”, lúc đầu nhịn ta rất khó chịu, bị người ta chê cười, đối phương lên nước, tự ái của ta bị xúc phạm. Tuy nhiên, nếu nhịn được ta sẽ thấy bình an, hiên ngang, và phấn khởi, không bao lâu ta sẽ thấy kết qủa tốt đẹp của sự chịu đựng của ta và những người chung quanh sẽ thán phục. - Người chịu đựng sẽ là người như Chúa phán: “Phúc cho con khi bị vu oan, bách hại, vì phần thưởng các con trên trời lắm lắm” (Mt 5,11). - Không nhịn nhục ta sẽ phải hối hận rất nhiều vì nhiều phản ứng sẽ làm đổ vỡ, chia rẽ không hàn gắn được, xóm ngõ chê cười, vạch áo cho người xem lưng. - Chúa rất yêu thích những người nhịn nhục vì họ giống Chúa, Ngài sẽ thêm sức cho họ và sẽ đứng về phía họ để bênh vực, bảo vệ và minh oan cho họ không sớm thì muộn. Nhất là Chúa sẽ chúc phúc đặc biệt cho đời sống của họ được vui tươi, may lành, thánh thiện. 3. LÀM SAO ĐỂ CHỊU ĐỰNG ĐƯỢC? - Phải luôn luôn dùng ánh sáng đức tin để nhìn ra ý Chúa trong vấn đề, nhìn ra Chúa trong người anh em trái ý ta. - Phải suy ngắm nhiều về đức ái cao quí, về phần thưởng lớn cho ai biết nhịn nhục, về gương hiền lành của Chúa Giêsu. - Phải ý thức rằng chính ta làm phiền lòng người khác nhiều, để ta có bổn phận phải chịu đựng người khác mới công bình. - Phải tập nhịn nhục những cái to, nhỏ trái ý hằng ngày cho quen, và phải cầu xin ơn sức mạnh của Chúa Thánh Linh. 4. GƯƠNG NHỊN NHỤC CỦA CHÚA GIÊSU Chúa phải nhịn nhục đủ mọi thứ người. Các môn đệ dốt nát, đầy thói xấu, tranh nhau ngôi thứ, mà đã sống với Chúa nhiều năm vẫn không hiểu Chúa. Các ông hèn nhát bỏ chạy khi Chúa bị bắt. Chúa phải nhịn các Pharisiêu tìm cách bắt bỏ Chúa, gài bẫy Chúa, mưu hại Chúa. Chúa phải chịu đựng nhà cầm quyền tra tấn vô lý, kết án bất công. Chúa phải nhịn nhục dân chúng mới hôm trước đi rước Chúa vào thành thánh, hôm sau đã đả đảo Chúa, hô đóng đinh Chúa. Mới hôm trước được ăn bánh hóa nhiều, được xem kẻ chết sống lại, hôm sau đã la lối kết án tử cho Chúa. Chúa phải chịu đựng người họ hàng cho là Chúa điên khùng, man mát. Chúa phải nhịn nhục người đồng hương không tin Chúa, khinh dể và toan xô Chúa xuống chân đồi cho chết. Không thể nào kể hết gương chịu đựng của Chúa, nhất là trong suốt cuộc thương khó. Phải lần dở Phúc âm, suy niệm luôn luôn, ta mới thấm thía được gương nhịn nhục của Chúa. THAN THỞ VÀ CẦU NGUYỆN Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, Chúa đã dạy con phải bắt chước Chúa, xin ban cho con biết nhịn nhục chịu đựng hết mọi người vì Chúa, chịu thua thiệt để được lợi các linh hồn, chịu lép vế để được bình an thần linh nội tâm. Xin cho con hiểu rằng thành công của con không ở chỗ làm nhiều mà là chịu đựng giỏi, để con trở nên nữ tỳ khiêm nhường của Chúa như Đức Maria Mẹ của con vậy. Amen. THỰC HÀNH ĐỨC BÁC ÁI Ngoài những tâm tình yêu thương phải có với tha nhân như: khám phá ra những điều hay nơi người anh em để cảm phục họ, tôn trọng, tìm hiểu, chia sẻ, thông cảm, đoán ý lành, tha thứ, nhịn nhục... Ta phải có những hành vi khác phải làm, đó là phục vụ anh em, hay nói theo kiểu bình dân là hầu hạ anh em. 1. LÝ DO PHỤC VỤ ANH EM Chính Chúa Giêsu đã dạy và đã làm gương cho ta trong việc hầu hạ anh em. Ngài phán: “Trong các con ai trọng nhất sẽ làm đầy tớ các con” (Mt 23,11).Chỗ khác Ngài nói: “Ta đến không phải để được hầu hạ, nhưng đến để hầu hạ và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc thiên hạ” (Mt 21,28). - Nói chưa đủ, Chúa đã làm việc hầu hạ: Chúa săn sóc các tông đồ khi các ông đi giảng về mệt nhọc, Chúa quì xuống rửa chân cho các môn đệ, Chúa lau chân cho các ông. Chúa đến tận nhà ông Giairô để chữa con ông khỏi chết... - Chúng ta là chứng tá của Chúa, ta cũng phải noi gương Chúa để phục vụ anh em, vì : - Khi hầu hạ anh em, là chúng ta hầu hạ chính Chúa như Chúa đã phán: “Mỗi lần ngươi làm gì cho người rốt hết trong các anh em Ta đây, là làm cho chính Ta” (Mt 25,40). - Lý do nữa khiến ta phải hầu hạ anh em là vì: “Lời nói lung lay, gương lành lôi cuốn”. Chính việc phục vụ họ mới chứng tỏ ta yêu thương họ và cảm hóa họ nên tốt. 2. NHIỀU HÌNH THỨC PHỤC VỤ Không phải cứ làm vài việc của người đầy tớ như giặt quần áo, nấu cơm, là phục vụ mà thôi. Phục vụ có nghĩa là giúp đỡ người khác thật tình phần hồn phần xác để họ được nâng đỡ, cho cuộc sống tinh thần, vật chất thoải mái hơn. Vì thế người dưới hầu hạ người trên là thường, nhưng người trên cũng phải hầu hạ người dưới, như bà mẹ dọn bữa, giặt giũquần áo cho con, ngoài việc phục vụ vật chất còn có sự phục vụ tinh thần như cầu nguyện, hướng dẫn, an ủi, khích lệ, nâng đỡ... Ta kể ra đây một ít công việc cụ thể ta có thể làm để phục vụ anh em trong Đức Kitô. Trong gia đình, đối với anh chị em, cháu chắt.. ngoài xóm ngõ đối với bạn hữu, người thân thuộc, ân nhân hay những kẻ chỉ rình làm hại ta, ta đều có bổn phận phục vụ họ, tùy theo hoàn cảnh khả năng và khôn ngoan. - Săn sóc tinh thần cho các em, bảo ban, hướng dẫn, khích lệ, cầu nguyện, thăm viếng... - Lo cho các em theo bổn phận, đứa nào chưa có gia thất, lo công ăn việc làm, may mặc, thuốc men, chi dùng và các nhu cầu sinh sống cho nó. Lo xây dựng gia đình, tập nghề cho các em. - Phục vụ khách hàng đúng hẹn, đúng mức, đúng tiêu chuẩn và lời hứa, đúng nghĩa vụ. - Cho khách đỗ nhà, thăm viếng kẻ yếu đau, giúp người hoạn nạn, cùng túng, đóng góp vào việc công ích của xứ đạo, xóm làng, cộng tác tinh thần vật chất vào công việc của Giáo hội như đào tạo linh mục, cổ võ ơn thiên triệu, rao giảng Tin mừng, việc bác ái từ thiện. - Tham gia những tông đồ giáo dân để làm việc cho Giáo xứ, trong các hội đoàn hay tổ chức khác có mục đích xây dựng Giáo hội, Nhiệm Thể Đức Kitô, tùy thời giờ, sức khỏe gia cảnh và sự khôn ngoan cho phép. Ít ra cũng phải mau mắn và năng phục vụ tinh thần cho tha nhân như: Cầu nguyện cho kẻ có tội, cho kẻ thù nghịch, kẻ hấp hối, an ủi người khổ đau, khuyên nhủ người mê muội. 3. THÁI ĐỘ VÀ TƯ CÁCH PHỤC VỤ Việc làm tốt đẹp, nhưng thái độ của ta và tư cách của ta khi làm rất quan trọng. Vậy ta phải có tư cách nào ? - Nói chung ta phải có tư cách bà mẹ và của người tôi bộc: là bà mẹ để yêu thương, ân cần cẩn trọng- là nô bộc để khiêm tốn, tận tụy, không quản ngại điều gì. - Nói riêng người phục vụ phải có mấy đức tính sau đây: - Khiêm nhượng: Hầu ai là phải tự hạ dưới người mình hầu, vì thế thiếu khiêm tốn làm sao chu toàn bác ái, còn nói gì đến phục vụ nữa. Mặt khác phục vụ cũng đòi phải kín đáo, tế nhị, cẩn trọng, không khua chuông gõ mõ việc mình làm, rất cần khiêm tốn mới âm thầm làm. - Tận tụy: Đức tính riêng biệt của người hầu hạ là quên mình nghĩ tới người khác, hy sinh tất cả để chiều ý người được hầu, làm cho họ được hài lòng, như làm cho chính Chúa vậy. - Tế nhị: Giúp đỡ người khác nhưng không làm cho họ nghĩ ngợi, khéo léo để họ nhận cách vui lòng “cách tặng quí hơn của tặng” phương ngôn Việt nam đã dạy như vậy. THAN THỞ VÀ CẦU NGUYỆN Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ở giữa các môn đệ như người đầy tớ, chứ không như chủ nhân các ông. Xin Chúa ban cho con đầy lòng bác ái, thương xót, để con thể hiện tình yêu thương anh em bằng việc làm cụ thể, hầu cho mọi người tiếp xúc với con cảm nghiệm được lòng Chúa thương xót họ. Xin Mẹ Maria ban cho con tâm hồn trắc ẩn, tế nhị, dịu dàng và tận tụy, luôn vui tươi khi phục vụ anh em như Mẹ. Sau khi đã suy niệm về giá trị và tầm quan trọng của đức yêu thương anh em, những khó khăn và phương thế thực hành, ta có thể tạm kết thúc trong bài suy niệm này, tức là sự liên hệ chặt chẽ giữa đời tận hiến và đức yêu thương tha nhân. 1. CHÚA GIÊSU TẬN HIẾN CHO THIÊN CHÚA VÀ CON NGƯỜI Khi vào đời làm người, Đức Kitô đã thưa: “Này Con xin đến để thực thi ý Chúa” (Dt 10,7) và suốt đời Ngài đã lấy ý Chúa để làm của ăn của uống (Ga 4,34). Ý Chúa dậy là cứu độ con người đã hư hỏng vì phạm tội. Thật vậy, Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã xuống thế làm Người chỉ vì phần rỗi của ta, như lời kinh Tin Kính: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế”. Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Chúa (St 1,27) nên Chúa đã thương yêu con người trên mọi loài ở trần gian. Lúc con người sa ngã, phản bội, Chúa vẫn yêu thương và sai Con Ngài giáng thế để cứu vớt họ (Ga 3,17), như Chúa đã phán: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài cho thế gian” (Ga 2,16). Như vậy, Chúa Giêsu được Cha sai vào thế gian là để tận hiến mình cho con người. Chúa ước ao chịu chết cho ta, cho loài người chúng ta đến nỗi Chúa đã phán: “Ta ước ao ăn bữa vượt qua này với chúng con biết chừng nào” (Lc 22,15) nghĩa là Chúa ước ao chết cho ta. Suốt đời giảng đạo của Chúa, Chúa luôn luôn đề cao con người, đồng hóa họ với Ngài và trọng thưởng cho ai thương người, lên án gắt gao những ai hạ giá con người. Ngài còn dạy ta phải bắt chước Ngài để yêu thương con người như Chúa đã yêu ta. 2. NGƯỜI TẬN HIẾN VÀ ĐỨC YÊU THƯƠNG Việc tận hiến của ta là dựa trên sự tận hiến của Chúa Giêsu, nên cũng phải nhằm cùng một mục đích như Chúa, nghĩa là tận hiến cho Thiên Chúa để nhờ Ngài cứu vớt anh em cho Chúa, dâng lại cho vinh quang Ngài đã mất vì anh em chúng ta phạm tội. Do đó việc tận hiến của chúng ta là lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa, để Chúa tự do sử dụng ta làm khí cụ cứu chuộc anh em, chinh phục các linh hồn cho Chúa, các linh hồn Chúa đã dựng nên, đã đổ hết Máu để cứu vớt họ. Một khi chúng ta đã tràn đầy Chúa, chúng ta luôn luôn phải ôm ấp nhân loại trong con tim, gánh vác nhân loại trên vai, dắt họ về với Cha Cả. Đức ái của linh hồn tận hiến chiều dọc hướng về Chúa, vươn lên tới Ngài không ngừng, nhưng chiều ngang qui về nhân loại, bao bọc chở che hết mọi người không trừ ai. 3. MỐI LO ÂU LỚN LAO HÀNG ĐẦU CỦA LINH HỒN TẬN HIẾN Thiên Chúa không bao giờ rời xa con người. Chúa Giêsu đã lên án những lề luật, tập tục hay lối đạo đức nào mà làm xa cách con người với Thiên Chúa. Ngài bênh vực dân nghèo, người bị áp bức, cô đơn, đau khổ, góa bụa, bệnh hoạn. Chúa đi tìm tội nhân, tha thứ cho họ, cuối cùng Ngài cũng chết nhục nhã cũng chỉ vì con người. Linh hồn tận hiến cho Chúa cũng phải có một tâm tình như vậy. Họ không thể đến với Chúa một mình, mà phải đến với cả gia đình nhân loại. Họ từ bỏ thế gian, nhưng sống giữa thế gian, họ sống cho một mình Chúa, nhưng không phải vì thế mà không biết đến ai. Sứ mệnh của họ là: “yêu mến Chúa và làm cho Chúa được yêu mến” hay nói cách khác là: “yêu Chúa và làm cho tha nhân mến yêu Chúa”. Họ không thể an tâm nhìn biết bao linh hồn hư đi vì mắc mưu ma quỷ. Họ không thể nhìn thấy Chúa chết uổng công, khi các linh hồn từ chối ơn cứu độ. Họ không thể để Chúa bị xúc phạm, khinh dể, bởi các hình ảnh sống động của Chúa quay lưng lại với Ngài. Kinh nguyện của họ đều hướng về phần rỗi nhân loại để làm cho Chúa được vinh danh nơi các linh hồn. Họ ôm ấp trong lòng cả một thế giới mênh mông với hơn 4 tỷ người mà quá 3/4 là vô đạo. Họ yêu mến hết mọi linh hồn, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu các tội nhân, nâng đỡ người cùng khổ. Họ hy sinh của cải, thời giờ, sức khoẻ, quyền lợi và cả mạng sống để cứu vớt các linh hồn. Họ không ngồi yên cho đến khi Chúa cho họ biết, họ đã hết thời giờ trên dương thế. Không một tiến bộ hay thoái lui nào của con người mà không ảnh hưởng tới họ. Dù họ là nữ tu kín cổng cao tường, hay là hoạt động, dù họ là giáo dân vất vả làm việc hay bệnh nhân đau yếu, cuộc đời của họ vẫn mang tính chất tông đồ, mở mang Nước Chúa trên khắp thế gian, cho tới ngày thế mạt. THAN THỞ VÀ CẦU NGUYỆN Lạy Chúa Giêsu, tận hiến cho Chúa là trở nên bà mẹ các linh hồn, có nhiệm vụ ân cần lo lắng cho cả nhân loại mà Chúa đã đổ hết Máu Chúa để cứu độ . Xin Chúa ban cho con một tâm hồn từ mẫu, biết yêu thương tất cả, lo lắng cho tất cả. Xin cho con tâm tình Mẹ Maria khi Mẹ đứng dưới chân Thập giá để trở nên Mẹ nhân loại, để con mở rộng vòng tay yêu thương ôm ấp cả nhân loại vào lòng. Xin cho ngọn lửa yêu mến Chúa, cũng làm cho đức ái của con cháy bừng đối mọi người anh em Chúa đã ban cho con. Amen Sau hết xin đoái thương đến dân tộc con, đến các nhà cầm quyền. Xin ban hòa bình trên quê hương con, cũng như hòa bình cho khắp thế giới. Xin Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse chuyển cầu cho con. |
|
|