cử hành Thánh Lễ Phúc Âm
Hoá tại Bicentennial Park
Nguồn:
VietCatholic Network
Lúc 8:27 giờ sáng thứ Ba 7 tháng 7, Đức Thánh Cha
Phanxicô đã bắt đầu ngày thứ ba cuộc viếng thăm Mỹ Châu La Tinh của ngài
bằng cách gặp gỡ các Giám Mục nước này tại Thủ Đô Quito trước khi cử hành
Thánh Lễ tại Bicentennial Park, trước đây vốn là phi trường cũ của Thành Phố.
Trong bài giảng nhân “Thánh Lễ Cầu Cho Việc Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc”, Đức
Thánh Cha đã nói về chủ đề hợp nhất và độc lập, ngài muốn kết hợp hai chủ đề
này với nhau “dưới thách thức phúc âm hóa tươi đẹp”. Ngài nói thêm: “chúng
ta phúc âm hóa không bằng những lời nói lớn lao hay các quan niệm phức tạp,
nhưng bằng ‘niềm vui Tin Mừng’”. Mở đầu bài giảng Đức Thánh Cha nói:
Anh chị em thân mến
Lời Thiên Chúa mời gọi ta sống hợp nhất để thế gian tin.
Tôi nghĩ về những lời âm thầm của Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc Ly đúng hơn
như là lời hô, tiếng gào nổi lên từ Thánh Lễ mà chúng ta đang cử hành tại
Bicentennial Park này. Đệ nhị bách chu niên mà công viên này tưởng niệm là
đệ nhị bách chu niên tiếng gào của Mỹ Châu La Tinh đòi độc lập. Nó là tiếng
gào đã nổi lên từ ý thức thiếu tự do, bị bóc lột và cưỡng đoạt, bị “lệ thuộc
những ý thích nhất thời của các quyền lực đương thịnh” (Niềm Vui Tin Mừng,
213).
Tôi muốn thấy hai tiếng gào đó hợp lại với nhau, dưới thách thức phúc âm hóa
đầy tươi đẹp. Chúng ta phúc âm hóa không bằng các lời lẽ đao to búa lớn hay
những quan niệm phức tạp, mà bằng “niềm vui Tin Mừng”, là niềm vui “tràn
ngập cõi lòng và đời sống của tất cả những ai biết gặp gỡ Chúa Giêsu. Vì
những người biết chấp nhận ơn cứu độ của Người đều được giải thoát khỏi tội
lỗi, buồn sầu, trống vắng và cô đơn nội tâm” (Đã dẫn, 1). Chúng ta, những
người đang tụ họp ở đây, cùng bàn với Chúa Giêsu, chính chúng ta cũng là một
tiếng gào, một lời hô phát sinh từ xác tín rằng sự hiện diện của Người dẫn
chúng ta tới hợp nhất, “hướng tới chân trời tươi đẹp và mời gọi người khác
dự bàn tiệc mỹ vị” (Đã dẫn, 15).
“Lạy Cha, xin cho chúng nên một… để thế gian tin”. Đó là lời cầu nguyện của
Chúa Giêsu khi Người ngước mắt lên trời. Lời cầu xin này phát sinh trong bối
cảnh truyền giáo: “Như Cha đã sai con vào thế gian, con cũng sai chúng đi
vào thế gian”. Lúc đó, Chúa đang cảm nghiệm ngay trong thân xác Người những
điều tệ hại nhất của thế gian, một thế gian mà tuy vậy, Người vẫn yêu tha
thiết. Biết rất rõ những mưu mô của nó, những giả trá của nó và những phản
bội của nó, Người vẫn không quay lưng, Người cũng không than vãn. Chúng ta
cũng thế, hàng ngày, chúng ta cũng gặp một thế giới tan nát bởi chiến tranh
và bạo lực. Điều dễ dãi là nghĩ rằng chia rẽ và hận thù chỉ liên quan tới
cuộc đấu tranh giữa các nước hay các nhóm trong xã hội. Đúng hơn, chúng là
biểu hiện của “chủ nghĩa duy cá nhân rất phổ biến” đang chia rẽ chúng ta và
khiến chúng ta kình chống nhau (xem Niềm Vui Tin Mừng, 99), của di sản tội
lỗi đang lấp ló trong lòng con người, một điều đang gây ra biết bao đau khổ
trong xã hội và khắp cùng tạo thế. Nhưng chính thế giới đảo điên này mới là
thế giới Chúa Giêsu sai chúng ta đi. Ta không được đáp ứng bằng thái độ hờ
hững hay than vãn rằng ta không đủ tài nguyên để thực hiện công việc, hay
tại các vấn nạn quá lớn. Thay vào đó, ta phải đáp ứng bằng cách tiếp nhận
lời hô của Chúa Giêsu và chấp nhận ơn thánh và thách đố trở thành những
người xây dựng hợp nhất.
Không hề thiếu xác tín hay sức mạnh trong tiếng gào đòi tự do nổi lên hơn
200 năm nay. Nhưng lịch sử cho ta hay nó đã tấn tới ngay khi các dị biệt cá
nhân được để qua một bên, cùng với lòng thèm muốn quyền lực và việc thiếu
khả năng biết đánh giá cao các phong trào giải phóng khác, tuy có khác biệt
nhưng không vì thế mà chống đối.
Phúc âm hóa có thể là một con đường để hợp nhất các hy vọng, các quan tâm,
các lý tưởng và ngay cả các viễn kiến ảo tưởng của ta nữa. Tôi từng nói rằng
“trong thế giới chúng ta, nhất là tại một số quốc gia, những hình thức khác
nhau của chiến tranh và tranh chấp đang tái xuất hiện, thế nhưng các Kitô
hữu phải kiên định trong ý hướng tôn trọng người khác, chữa lành các vết
thương, xây dựng các cây cầu, củng cố các mối liên hệ và “chịu đựng các gánh
nặng của nhau” (Niềm Vui Tin Mừng, 67). Ước nguyện hợp nhất bao hàm niềm vui
hân hoan và an ủi trong việc phúc âm hóa, niềm xác tín rằng chúng ta có cả
một kho tàng để chung chia, một kho tàng càng chung chia lại càng lớn hơn,
và trở thành càng ngày càng nhậy cảm hơn đối với các nhu cầu người khác (xem
đã dẫn, 9). Do đó, cần phải làm việc để đạt được tính bao hàm ở mọi bình
diện, để tránh các hình thức vị kỷ, để xây dựng thông đạt và đối thoại, để
khuyến khích hợp tác. Chúng ta phải hiến trái tim mình cho các người đồng
hành với chúng ta suốt dọc hành trình, không hoài nghi hay bất tín. “Tin
tưởng người khác là một nghệ thuật, và hòa bình là một nghệ thuật” (đã dẫn,
244). Sự hợp nhất của chúng ta khó có thể toả sáng nếu tính thế gian tâm
linh khiến chúng ta tranh chấp nhau để đi tìm quyền lực, danh ntiếng, khoái
lạc hay an toàn kinh tế một cách vô ích.
Sự hợp nhất như thế đã là một hành vi truyền giáo rồi, “để thế gian tin”.
Phúc âm hóa không hệ ở việc cải đạo, nhưng ở chỗ, bằng chứng tá của ta, ta
lôi cuốn được những người đang ở phía xa, nhờ khiêm cung xích lại gần những
người đang cảm thấy xa cách Thiên Chúa và Giáo Hội, những người đang sợ sệt
hay dửng dưng, và nói với họ: “Với lòng kính trọng và yêu thương lớn lao,
Chúa cũng đang mời gọi các bạn làm thành phần của dân Người” (Niềm Vui Tin
Mừng, 113).
Sứ mệnh của Giáo Hội như một bí tích Cứu Rỗi cũng liên quan tới căn tính của
Giáo Hội như một dân lữ hành được mời gọi ôm trọn mọi dân tộc trên thế giới.
Sự hiệp thông giữa chúng ta càng nồng đượm, sứ mệnh của chúng ta càng trở
nên hữu hiệu hơn” (xem Đức Gioan Phaolô II, Pastores Gregis, 22). Trở thành
một Giáo Hội truyền giáo không ngừng đòi hỏi phải cổ vũ hiệp thông, vì
truyền giáo không chỉ liên quan tới các khu ngoại vi mà thôi… Chúng ta cũng
cần là những nhà truyền giáo ngay bên trong Giáo Hội nữa, chứng tỏ rằng Giáo
Hội là “bà mẹ vươn tay ra, là tổ ấm chào đón, là trường không ngừng dạy hiệp
thông truyền giáo” (Aparecida Document, 370).
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu có thể được thể hiện vì Người đã thánh hiến
chúng ta. “Vì chúng, Con đã thánh hiến Con để chúng cũng được thánh hiến
trong sự thật”. Đời sống tâm linh của người rao giảng Tin Mừng phát sinh từ
sự thật sâu sắc đó, một sự thật không được lẫn lộn với một ít thao tác tôn
giáo nhằm an ủi. Chúa Giêsu thánh hiến chúng ta để chúng ta đích thân gặp gỡ
Người. Và cuộc gặp gỡ này, ngược lại, sẽ dẫn chúng ta đi gặp gỡ người khác,
can dự vào thế giới chúng ta và khai triển lòng say mê phúc âm hóa (xem Niềm
Vui Tin Mừng, 78).
Sự thân mật với Thiên Chúa, tự nó vốn không thể hiểu được, đã được mặc khải
bằng những hình ảnh nói với chúng ta về hiệp thông, thông đạt, hiến mình và
yêu thương. Vì lý do này, sự hợp nhất mà Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta tiến
tới không phải là sự độc dạng, mà đúng hơn là “sự hòa hợp nhiều mặt và có
tính mời gọi” (Niềm Vui Tin Mừng,117). Sự phong phú trong các dị biệt của
ta, sự đa dạng của chúng ta, một sự đa dạng trở thành hợp nhất mỗi khi chúng
ta tưởng niệm Thứ Năm Tuần Thánh, làm chúng ta đề phòng mọi mưu mô toàn trị,
ý thức hệ hay phe phái. Sự hợp nhất này cũng không phải là một điều ta muốn
lên khuôn thế nào, muốn đặt điều kiện ra sao, quyết định ai có thể thuộc về
ai không thể thuộc về mặc ý. Chúa Giêsu cầu nguyện để tất cả chúng ta đều
trở nên thành phần của một đại gia đình trong đó, Thiên Chúa là Cha của
chúng ta và tất cả chúng ta là anh chị em. Điều này không có nghĩa phải có
cùng nếm trải, cùng quan tâm, cùng tài năng như nhau. Chúng ta là anh chị em
bởi Thiên Chúa dựng nên ta vì yêu thương và định cho ta làm con cái nam nữ
của Ngưòi, hoàn toàn do sáng kiến của Người (xem Eph 1:5). Chúng ta là anh
chị em bởi “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Người xuống tâm hồn ta mà kêu
‘Abba, Cha ơi!’” (Gl 4:6). Chúng ta là anh chị em, bởi, nhờ được máu Chúa
Giêsu Kitô công chính hóa (xem Rm 5:9), chúng ta đã qua sự chết bước vào sự
sống và được trở nên “những kẻ đồng thừa hưởng” lời hứa (xem Gl 3:26-29); Rm
8:17). Đó là ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã làm nên khả hữu cho ta, và được Giáo
Hội công bố với niềm vui: được là thành phần “cái chúng ta” của Thiên Chúa.
Tiếng gào của chúng ta, tại địa điểm này vốn được nối kết với tiếng gào
nguyên thủy đòi tự do cho đất nước này, đã vang vọng lời Thánh Phaolô: “Khốn
cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cor 9:16). Đây là tiếng gào
không kém khẩn thiết và thúc bách như tiếng gào đòi độc lập. Nó cũng xúc
động trong tính nhiệt tình của nó. Ước mong mỗi người trong anh chị em là
chứng nhân của sự hiệp thông huynh đệ sẽ toả sáng khắp cùng thế giới.
Sẽ đẹp đẽ xiết bao nếu mọi người biết ngưỡng phục cách ta chăm sóc lẫn nhau,
cách ta khuyến khích và giúp đỡ lẫn nhau. Hiến mình sẽ tạo ra mối liên hệ
liên ngã; ta không hiến “sự vật” mà hiến chính mình mình. Trong bất cứ hành
vi cho đi nào, ta cũng hiến mình ta. “Hiến mình” nghĩa là để mọi sức mạnh
của tình yêu ấy tức Thánh Thần của Thiên Chúa, bén rễ trong đời ta, mở rộng
lòng ta cho sức mạnh sáng tạo của Người. Khi ta hiến mình, ta khám phá ra
căn tính đích thực của ta là con cái Thiên Chúa theo hình ảnh Chúa Cha và là
những người ban sự sống, giống như Ngưòi; ta khám phá ra rằng ta là anh chị
em của Chúa Giêsu, Đấng ta là các chứng nhân. Phúc âm hóa có nghĩa như thế;
đây là cuộc cách mạng mới, vì đức tin của chúng ta luôn có tính cách mạng,
đây là tiếng kêu gào sâu thẳm và lâu dài nhất của chúng ta.