|
Đôi khi ta nghe người ta nói rằng
các trước tác thiêng liêng ngày nay không phản ảnh trọn bộ tín lý về
Chúa Thánh Thần. Nhiệm vụ của các nhà chuyên môn là phải suy niệm sâu xa
hơn về công trình của Chúa Thánh Thần trong lịch sử cứu rỗi và các trước
tác thiêng liêng Kitô Giáo phải làm nổi bật hành động ban sự sống của
Người. Các trước tác này phải đặc biệt đào sâu mối liên hệ kín nhiệm
giữa Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Thành Nadarét, và cho thấy ảnh
hưởng của nó đối với Giáo Hội. Càng suy niệm thấu đáo các mầu nhiệm Đức
Tin hơn bao nhiêu, lòng đạo đức của ta càng trở nên chủ yếu hơn bấy
nhiêu (1).
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết như thế trong thông điệp “Tôn Sùng Đức
Mẹ” (Cultus Marialis) năm 1974. Điều Đức Thánh Cha có thể đã biết hay
không biết là Thánh Maximillian Kolbe (1894-1941) đã dành phần lớn đời
sống của ngài để khai triển ra một nền thần học về Đức Mẹ nói lên được
mối liên hệ kín nhiệm giữa Thánh Thần Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Thành
Nadarét; một nền thần học phong phú trong quán niệm, độc đáo trong
phương thức, và góp phần vào lòng đạo đức mang lại nhiều sinh lực hơn
cho các chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Trung thành với Thánh Truyền Công Giáo, Thánh Maximillian Kolbe tin rằng
Đức Maria có một vị thế hết sức trổi vượt trong kế hoạch cứu rỗi của
Thiên Chúa; là người cộng tác đầy ý thức vào mọi ơn thánh Chúa ban cho
con người. Tuy nhiên, trong khi Thánh Truyền, qua các nhà trước tác như
Thánh Louis de Montfort, hay nhấn mạnh tới Chức Làm Mẹ Thiên Chúa của
Đức Mẹ, coi như đó là nền tảng giáo huấn của mình, thì Thánh Kolbe lại
cho rằng tư cách trung gian phổ quát các ơn thánh của Đức Mẹ chủ yếu
liên hệ với và được dẫn khởi từ mối liên hệ thân mật và kín nhiệm với
Chúa Thánh Thần.
Vị thánh người Ba Lan này cho rằng mọi ơn thánh cuối cùng đều đến với
chúng ta từ Đức Chúa Cha, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Con một
của Người, và được Chúa Thánh Thần phân phối; và, khi phân phối các ơn
thánh ấy, Chúa Thánh Thần luôn hành động trong và qua Đức Mẹ, không phải
vì Người bắt buộc phải làm như vậy, nhưng chỉ vì, trong kế hoạch cứu rỗi
của mình, Thiên Chúa muốn làm như thế. Và sở dĩ Thiên Chúa muốn làm như
thế là vì một lý do: Chúa Giêsu, nguồn mọi ơn thánh, đã đến với chúng ta
qua Đức Mẹ nhờ công trình của Chúa Thánh Thần; bởi thế, quả thật mọi ơn
thánh đều đến với chúng ta qua Đức Mẹ, nhờ công trình của Chúa Thánh
Thần.
Mặt khác, Thánh Kolbe còn nói rằng con đường, qua đó, ơn thánh của Chúa
đến với chúng ta, tức từ Đức Chúa Cha, qua Đức Chúa Con và nhờ Đức Chúa
Thánh Thần, là nghịch đảo với con đường ta trở lại với Chúa. Con đường
ta trở lại với Chúa, tức việc ta yêu thương đáp trả tình yêu và ơn thánh
của Người, tiến từ Đức Chúa Thánh Thần (Đấng luôn hành động qua Đức Mẹ),
qua Đức Chúa Con và về cùng Đức Chúa Cha (2).
Đối với Thánh Kolbe, vai trò hết sức nổi bật của Đức Mẹ trong sự sắp xếp
(ordo) này của Chúa, tức việc ơn thánh và tình yêu từ Chúa đến với con
người, và tình yêu từ con người đáp trả lại Thiên Chúa, đặc biệt phát
sinh từ việc ngài hợp nhất một cách độc đáo và hết sức thân mật với Chúa
Thánh Thần. Thánh nhân cho rằng Chúa Thánh Thần ngự trong linh hồn Đức
Mẹ một cách khôn tả đến độ vượt quá và sâu sắc hơn cả sự hợp nhất giữa
Chúa Thánh Thần và linh hồn ta nhờ ơn thánh hóa của Bí Tích Rửa Tội (3).
Để soi sáng phần nào sự kết hợp mật thiết giữa Đức Mẹ và Ngôi Ba Thiên
Chúa, Thánh Kolbe đã mô phỏng Thánh Truyền mà gọi Đức Mẹ là ‘người phối
ngẫu” của Chúa Thánh Thần (4). Nhưng ngài cũng cho rằng thuật ngữ này
không thoả đáng hoàn toàn, không lột tả trọn vẹn mối liên hệ mật thiết
và hết sức huyền nhiệm này. Vì trong hôn nhân, người đàn ông và người
đàn bà, nhờ ơn thánh bí tích, được hợp nhất thành “một thân xác”. Nhưng
sự kết hợp giữa Đức Mẹ và Chúa Thánh Thần mật thiết hơn nhiều sự kết hợp
trong hôn nhân. Đã đành, trong các loài thụ tạo do Chúa dựng nên, sự kết
hợp giữa vợ chồng là sự kết hợp mật thiết hơn hết. Nhưng Chúa Thánh Thần
sống ngay trong linh hồn Đấng Vô Nhiễm, trong thẳm cung chính con người
của ngài (5).
Điều gì đáng kể nhất trong mối liên hệ đặc biệt của Đức Mẹ với Chúa
Thánh Thần? Thánh Kolbe cho hay đó chính là việc ngài được vô nhiễm
nguyên tội từ lúc tượng thai, một việc sở dĩ có được là nhờ công trình
trực tiếp của Chúa Thánh Thần. Nhờ Đức Mẹ được Vô Nhiễm Thai, nên Chúa
Cha và Chúa Con muốn rằng Đức Mẹ sẽ kết hợp nên một với Thánh Thần Yêu
Thương chung của cả hai ngôi vị, một cách gần gũi và mật thiết đến có
thể cho phép Chúa Thánh Thần thực hiện được việc Nhập Thể của Ngôi Lời
ngay trong lòng Đức Mẹ, khiến ngài trở nên Mẹ Thiên Chúa; và mặt khác,
sự kết hợp này phải cho phép Đức Mẹ trở thành dụng cụ hay máng chuyển
qua đó Chúa Thánh Thần sẽ phân phát mọi ơn thánh do Chúa Kitô tạo lập
được. Thánh Kolbe nhấn mạnh rằng ý nghĩa chính xác của tước hiệu “Vô
Nhiễm Thai” là một mầu nhiệm lớn, quá sâu sắc và huyền nhiệm đến độ
không thể nào hiểu thấu.
Cách tiếp cận của Thánh Kolbe, nhất là việc ngài nhấn mạnh tới mối liên
hệ giữa ơn Vô Nhiễm Thai của Đức Mẹ với tư cách làm trung gian phổ quát
mọi ơn thánh của ngài, đã tìm được sự ủng hộ trong thông điệp Marialis
Cultus (Tôn Sùng Đức Mẹ) và nhiều trước tác khác của Thánh Truyền. Trong
Marialis Cultus, Đức Giáo Hoàng Phoalô VI nói rằng cùng với xu hướng
Kitô học trong lòng sùng kính đối với Đức Thánh Nữ Trinh, quả là thích
hợp nếu ta làm “nổi bật thêm lòng sùng kính này bằng một trong những sự
kiện chủ yếu của Đức Tin đó là Ngôi Vị và công trình của Chúa Thánh
Thần”. Cùng trong đoạn văn ấy, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI còn cho hay: cả
suy tư thần học lẫn phụng vụ đều nhấn mạnh đến việc: sự can thiệp đầy
thánh hóa của Chúa Thánh Thần nơi Đức Mẹ là giờ phút tuyệt đỉnh cho hành
động của Người trong lịch sử cứu rỗi. Tỉ dụ, một số giáo phụ và nhà văn
của Giáo Hội vốn kể sự thánh thiện tinh nguyên của Đức Mẹ là công trình
của Chúa Thánh Thần; như thể Đức Mẹ “được Chúa Thánh Thần nhào nặn để
trở thành một thứ vật chất mới và một thụ tạo mới”. Trong mối liên hệ
đầy mầu nhiệm giữa Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ, các vị này thấy ra một
khía cạnh gợi người ta nhớ tới hôn nhân… và các vị gọi Đức Mẹ là “Đền
Thờ Chúa Thánh Thần”, một biểu thức muốn nhấn mạnh tới tư cách thánh
thiêng của Đức Trinh Nữ, nay đã trở thành nơi ngự thường trực của Thánh
Thần Thiên Chúa. Đào sâu hơn nữa học lý về Đấng Phù Trợ, các vị thấy
rằng từ Người, giống như từ một suối nguồn, sự viên mãn của ơn thánh
(xem Lc 1:28) và sự dư thừa hồng phúc đã tuôn trào ra để trang sức cho
Đức Mẹ… Và trên hết, các vị đã chạy đến xin Đức Nữ Trinh cầu bầu ngõ hầu
được Chúa Thánh Thần ban cho khả năng có thể ‘phát sinh’ ra Chúa Kitô
trong linh hồn mình, như lời Thánh Ildephonsus từng cầu nguyện trong câu
kinh bất hủ: “Ôi Nữ Trinh rất thánh, con van xin Mẹ cho con có được Chúa
Giêsu nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng mà nhờ Người Mẹ đã hạ sinh Chúa
Giêsu…Ước chi con yêu mến Chúa Giêsu trong Chúa Thánh Thần, Đấng mà
trong Người Mẹ từng thờ lạy Chúa Giêsu là Chúa và ngắm nhìn Người như
Con Mẹ” (6).
Trong suốt cuộc sống trưởng thành của mình, Thánh Kolbe luôn cố gắng đào
sâu mối liên hệ độc đáo và kín nhiệm của Đức Mẹ với Chúa Thánh Thần. Một
cách đặc biệt, ngài coi các lời Đức Mẹ nói với Thánh Bernadette tại Lộ
Đức: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai” có một ý nghĩa mạc khải quan trọng về
phương diện này. Ta có thể nói: các lời Đức Mẹ nói với Thánh Bernadette
luôn luẩn quẩn trong đầu Thánh Kolbe; vì lúc nào ngài cũng cố gắng nắm
được tốt hơn mầu nhiệm sâu sắc ẩn sâu bên dưới. Ngài cho hay những lời
trên không những cho ta thấy sự kiện Đức Mẹ được tượng thai mà không
vướng tội, mà còn cho thấy cách thế đặc ân ấy thuộc về ngài nữa. Nó
không phải là một điều tùy thể (accident), mà là một điều gì đó thuộc về
chính bản tính của ngài. Vì ngài quả tình là Vô Nhiễm Thai bằng người”
(7).
Trong trước tác sau cùng, viết vài giờ trước khi bị Quốc Xã bắt giữ vào
ngày 17 tháng Hai năm 1941, Thánh Maximillian đạt tới một thông tuệ sâu
sắc, không những giúp ta hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa Đức Mẹ và Chúa
Thánh Thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn việc Người là Ngôi Vị Thiên Chúa
đã tự đời đời từ Chúa Cha và Chúa Con ‘mà ra’, cũng như nắm vững hơn vai
trò của Đức Mẹ trong việc phân phát mọi ơn thánh của Chúa cho con người
trong kế hoạch cứu rỗi của Người.
Trong trước tác này, Thánh Kolbe nói rằng: trong khi Đức Mẹ là một thụ
tạo Vô Nhiễm Thai, được dựng nên nhờ tình yêu của Thiên Chúa và nhờ công
trình của Chúa Thánh Thần để trở thành một thụ tạo duy nhất được tràn
đầy ơn thánh và được chỉ định làm Mẹ Thiên Chúa, thì Chúa Thánh Thần là
đấng Vô Nhiễm Thai từ thuở đời đời và không phải là tạo vật, Đấng ‘đã
được tượng thai’ bằng tình yêu tự đời đời diễn ra giữa Chúa Cha và Chúa
Con; một tình yêu hoàn hảo đến độ đã được ngôi vị hóa. Bởi thế, Thánh
Kolbe nói rằng Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Thai được dựng nên; và ngài được
như thế là nhờ công trình trực tiếp của Đấng Vô Nhiễm Thai không phải là
thụ tạo. Cả hai sự ‘tượng thai’ này đều là hoa trái tình yêu của Chúa;
sự tượng thai đầu là thụ tạo và được thực hiện trong thời gian; sự tượng
thai sau không phải là thụ tạo và là từ thuở đời đời. Một cách đầy ý
nghĩa, chính ở đây, trong những chữ viết cuối cùng của ngài, Thánh Kolbe
đã tặng danh xưng “Đấng Vô Nhiễm Thai Không Được Dựng Nên” (Uncreated
Immaculate Conception)" cho Chúa Thánh Thần để phân biệt với Đức Mẹ, vốn
là “Đấng Vô Nhiễm Thai Được Dưng Nên” (Created Immaculate Conception).
Rõ ràng là, trong các trước tác của mình, Thánh Kolbe đã nắm rất vững
nền thần học của Thánh Tôma Tiến Sĩ. Ngài biết rằng ta chỉ có thể đặt
tên cho Thiên Chúa bằng các thụ tạo mà thôi; vì Thánh Tôma Aquinô, trong
phần đầu cuốn Summa Theologiae (Tổng Luận Thần Học), từng nói rằng lời
nói là dấu chỉ các ý niệm, và ý niệm là tương hợp (similitude) của sự
vật… Hệ luận là ta có thể đặt tên cho sự vật bao lâu ta hiểu rõ chúng.
Ta biết Thiên Chúa nhờ các thụ tạo như là nguyên lý của chúng. Bởi thế,
theo cách đó, Người có thể được chúng ta đặt tên nhờ các tạo vật, nhưng
lẽ dĩ nhiên cái tên chỉ về Người không phát biểu được chính yếu tính
thần linh của Người (8).
Thánh Kolbe cũng biết rằng Thánh Tôma không đặt tên riêng cho đấng thứ
hai được phát sinh ra (procession) từ Ba Ngôi Thiên Chúa, vì nơi thụ
tạo, việc sinh ra (generation) là nguyên lý thứ nhất của sự thông truyền
bản tính (communication of nature), và việc sinh ra chỉ có thể gán cho
việc phát sinh ra trí hiểu của Thiên Chúa (Ngôi Lời); chứ không thể áp
dụng cho việc phát sinh ra ý chí (Tình Yêu). Bởi thế, việc phát sinh mà
không phải là sinh ra, vì không có tên riêng, nên được gọi là “phà hơi”
(spiration), tức việc phát sinh ra Thánh Thần (9). Đàng khác, Thánh Tôma
còn nói rằng vì việc phát sinh ra Tình Yêu nơi Thiên Chúa không có tên
riêng, nên Ngôi Vị phát sinh ra cách đó cũng không có tên riêng (10),
mặc dù sau đó, thánh nhân vẫn dành cho Ngôi Vị này những tên riêng như
“Tình Yêu” (11) và “Hồng Ân” (Gift) (12) trong khi nhận rằng làm thế chỉ
vì “nghèo nàn trong ngôn từ”.
Trong trước tác sau cùng của mình, Thánh Kolbe viết tiếp rằng: Mọi sự
hiện hữu, bên ngoài chính Thiên Chúa, vì từ Thiên Chúa mà ra và luôn
luôn tùy thuộc vào Người, nên mang nét hao hao phần nào đó giống như
Đấng Dựng Nên mình… bởi vì mọi loài thụ tạo đều là hậu quả của Đệ Nhất
Nguyên Nhân.
Đúng là những ngôn từ ta dùng để nói về các thực tại thụ tạo chỉ nói lên
sự hoàn hảo của Chúa một cách ngập ngừng, có giới hạn và loại suy
(analogical) mà thôi. Chúng chỉ là những tiếng vang ít nhiều từ xa vọng
lại nói về các phẩm tính của chính Thiên Chúa, cũng như các thực tại thụ
tạo mà chúng đứng thay cho.
Nhưng há “tượng thai” không phải là một luật trừ hay sao? Không; không
bao giờ có luật trừ nào cả (13). Đứng trên quan điểm của trường phái
Tôma, điều vị thánh người Ba Lan này viết trong trước tác sau cùng của
ngài quả là sáng chói. Ngài biết rằng tại Lộ Đức, Đức Mẹ tự định nghĩa
ngài là sự Tượng Thai Vô Nhiễm. Mặc dù không hoàn toàn thấu hiểu ý nghĩa
thuật ngữ này khi áp dụng vào Đức Mẹ, nhưng ngài hiểu tạm đủ nó muốn nói
Đức Mẹ chính là sự Tượng Thai Vô Nhiễm; ta cũng có thể nói: sự Tượng
Thai Vô Nhiễm nằm ngay trong “chính bản tính của Đức Mẹ”. Trong các câu
chữ sau cùng, sau khi viết rằng Chúa Cha sinh hạ (begets) từ thuở đời
đời và Chúa Con được hạ sinh (begotten) từ thuở đời đời, Thánh Kolbe đã
áp dụng ý niệm hay cái tên mà Đức Mẹ, trong tư cách thụ tạo, đã dùng để
tự định nghĩa về mình, cho Thiên Chúa; nhất là cho Chúa Thánh Thần: Chúa
Thánh Thần là ai? Là sự đơm bông tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Nếu
hoa trái của tình yêu thụ tạo là sự tượng thai thụ tạo, thì hoa trái của
tình yêu Thiên Chúa, vố là nguyên mẫu của mọi tình yêu thụ tạo, nhất
thiết phải là sự “tượng thai” Thiên Chúa. Bởi thế, Chúa Thánh Thần chính
là “sự tượng thai không được dựng nên nhưng có tính đời đời”, là nguyên
mẫu của mọi sự tượng thai vốn nhân thừa sự sống suốt tận cùng vũ trụ
(14).
Thánh Kolbe nhận định rằng: về phương diện phát sinh của Thiên Chúa,
tượng thai có thể có hai nghĩa. Thứ nhất, nó có nghĩa như một hành vi
của tri thức qua đó người ta “tượng thai” một ý niệm nghĩa là một khái
niệm (concept); và đó là cách Thánh Tôma dùng để mô tả việc Ngôi Lời đã
phát sinh ra sao từ Chúa Cha (15). Thứ hai, nó có nghĩa như một hành vi
của ý chí, mà Thánh Tôma vốn mô tả như một “thúc đẩy và chuyển dịch
hướng về một đối tượng” (16). Thánh Tôma nói rằng “việc phát sinh ra ý
chí (tức Tình Yêu trong Chúa Ba Ngôi) được thực hiện… bằng một thúc đẩy
và chuyển dịch hướng về một đối tượng”. Như thế, ta có thể nói rằng tình
yêu được “tượng thai” giữa hai chủ thể. Đó chính là cách Thánh Kolbe
dùng hạn từ ấy để mô tả việc phát sinh ra Tình Yêu nơi Chúa Ba Ngôi.
Ngài nói rằng ta có thể đặt tên riêng cho việc phát sinh ấy là sự (hay
Đấng) Tượng Thai Vô Nhiễm Không Được Tạo Dựng Nhưng Có Tính Đời Đời”,
một cái tên có thể mô tả được hành vi yêu thương (tức hành vi của ý chí)
phát sinh từ thuở đời đời giữa Chúa Cha và Chúa Con.
Hơn nữa, tận cùng hay cùng đích của hành vi yêu thương phát sinh từ thuở
đời đời giữa Chúa Cha và Chúa Con kia, một tình yêu hoàn hảo vì có tính
Thiên Chúa, có thể được ngôi vị hóa. Thánh Kolbe gọi Ngôi Vị ấy, một
Ngôi Vị vốn là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa, bằng tên riêng là sự
Tượng Thai Vô Nhiễm Không Được Dựng Nên Nhưng Có Tính Đời Đời.
Thánh Tôma vốn cho rằng: “Ta chỉ có thể đặt tên cho Thiên Chúa từ các
thụ tạo. Vì nơi thụ tạo, việc hạ sinh là nguyên lý duy nhất của việc
thông truyền bản tính, nên việc phát sinh nơi Thiên Chúa không có tên
riêng hay tên đặc thù, ngoài chính việc hạ sinh. Bởi thế, việc phát sinh
mà không phải là hạ sinh mãi mãi không có tên đặc thù” (17). Nhưng việc
Tượng Thai Vô Nhiễm của Đức Mẹ nhận diện không những cách thức ngài được
tượng thai (chỉ một hành động); tên ấy còn nhận diện chính con người của
ngài nữa. Như Thánh Kolbe từng nói, sự Tượng Thai Vô Nhiễm “không phải
là một cái gì tùy thể [accidental]; nó là một cái gì thuộc về chính bản
tính của ngài. Vì ngài là chính sự Tượng Thai Vô Nhiễm bằng người”.
Thánh Kolbe chính xác muốn nói gì khi ngài viết rằng sự Tượng Thai Vô
Nhiễm “thuộc về chính bản nhiên của ngài” tức Đức Mẹ? Chính thánh nhân,
khi xem sét chủ đề này, cũng phải nhìn nhận rằng ta đang giáp mặt với
một mầu nhiệm khôn tả. Ngay từ năm 1933, ngài từng viết rằng: “Đấng Vô
Nhiễm là đấng nào và có nghĩa là gì? Ai có thể hiểu ngài một cách hoàn
toàn được?... Mọi người chúng ta có thể hiểu “mẹ” có nghĩa gì; nhưng “Mẹ
Thiên Chúa” thì là một điều gì đó mà lý trí của ta cũng như trí khôn hữu
hạn của ta không thể nào thực sự nắm bắt được. Cũng thế, chỉ có Thiên
Chúa mới thực sự hiểu được “vô nhiễm” nghĩa là gì mà thôi. Cùng lắm, ta
chỉ có thể phỏng đoán là “được thụ thai mà không mang tội”; nhưng “Tuợng
Thai Vô Nhiễm” là một biểu thức có rất nhiều trong các mầu nhiệm của Đạo
(18). Và trong trước tác cuối cùng vào ngày 17 tháng Hai năm 1941, Thánh
Kolbe một lần nữa đặt câu hỏi: “Ôi lạy Đấng Tượng Thai Vô Nhiễm, vậy Mẹ
là ai?”.
Có lẽ trước hết, ta nên xem sét điều Thánh Kolbe không đề cập tới trong
lời phát biểu của ngài rằng việc Tượng Thai Vô Nhiễm “thuộc về chính bản
tính của Đức Mẹ”. Rõ ràng, ngài không nói: Đức Mẹ không có một bản tính
nhân loại do việc hạ sinh nhân bản đem lại. Đức Mẹ hoàn toàn là nhân
bản. Ngài tiếp nhận bản tính nhân loại của mình từ cha mẹ tự nhiên của
ngài qua việc hạ sinh nhân bản. Thiển nghĩ, Thánh Kolbe cũng không có ý
nói Đức Mẹ có một bản tính “siêu nhân” hay lúc ngài được Tượng Thai Vô
Nhiễm, một sự gì đó đã “được thêm vào” cho bản tính nhân loại của ngài.
Hiệu quả của việc thêm thắt này khiến ngài trở thành điều gì đó khác với
hữu thể nhân bản. Không; trong yếu tính, Đức Mẹ là nhân bản trọn vẹn,
giống như chúng ta vậy. Điểm dị biệt giữa Đức Mẹ và mọi thành viên khác
trong gia đình nhân loại liên quan tới ơn thánh; nó nằm trong sự kiện
này là ngay giây phút đầu tiên ngài được tạo dựng hay tượng thai, vì
công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, ngài được ban một ơn thánh hay một đặc
ân đặc biệt, ơn mà Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Piô IX, trong thông điệp
dùng để định nghĩa Tượng Thai Vô Nhiễm, tức thông điệp Ineffabilis Deus
(Thiên Chúa Khôn Tả), đã cho rằng luôn gìn giữ Đức Mẹ khỏi mọi vết nhơ
của Nguyên Tội.
Vị thánh người Ba Lan này chắc chắn biết rõ: ơn thánh vốn xây trên bản
nhiên. Nói rằng Tượng Thai Vô Nhiễm có ý nói tới điều gì đó có tính yếu
tính nơi Đức Mẹ, như một phần trong chính bản tính nhân loại của ngài,
hơn là một ơn thánh đặc thù nào đó, có thể đi ngược lại thông điệp của
Đức Piô IX; vì nếu Đức Mẹ, trong chính bản tính, trong chính yếu tính,
là sự Tượng Thai Vô Nhiễm, chả hóa ra ngài không cần đến bất cứ một ơn
thánh đặc thù nào giúp ngài được như thế hay sao. Bởi thế, cần phải giải
thích cặn kẽ các ngôn từ của Thánh Kolbe khi quả quyết rằng Tượng Thai
Vô Nhiễm vốn thuộc về chính bản tính của Đức Mẹ; hẳn thánh nhân sử dụng
kiểu nói ấy để chuyên chở ý nghĩa này: sự Tượng Thai Vô Nhiễm là một
điều gì đó đã trở thành một phần của Đức Mẹ đến độ ngài có thể dùng nó
để định nghĩa về chính mình.
Chính nhờ ơn thánh và đặc ân đặc thù đó, không ban cho bất cứ một hữu
thể nhân bản nào khác ngoài Đức Mẹ, nên ngài mới nói được rằng “Ta là
Đấng Tượng Thai Vô Nhiễm”. Ơn thánh đặc thù đó, một ơn thánh vốn kết hợp
ngài một cách khôn tả với Chúa Thánh Thần và đã giúp ngài trở thành Mẹ
Thiên Chúa, và là người hợp tác một cách tích cực và có ý thức vào mọi
ơn thánh Chúa ban cho con người, đã được đồng hóa với chính con người
Đức Mẹ một cách mật thiết đến độ ngài thật sự có thể đồng hóa ơn thánh
đó với chính bản ngã, chính con người của mình.
Ở đây, có một loại suy có thể giúp ta hiểu điều trên. Chúa Giêsu Kitô có
thể nói rất đúng rằng: “Ta là Linh Mục Đời Đời”. Người là Linh Mục
Thượng Phẩm Đời Đời do sự kết hợp nhị tính (hypostatic union) qua đó
Người, vốn là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, tự kết hợp với một bản
tính nhân loại, và do sự kiện này là Người tự dâng mình vừa như Linh Mục
vừa như Của Lễ Hy Sinh trên Thánh Giá ở Đồi Canvariô. Không ai khác có
thể tự hào như thế được (dù những người được thụ phong vào chức linh mục
thừa tác, được chia sẻ chức linh mục của Chúa Kitô, có thể nói rằng “Tôi
là một linh mục”). Cũng giống như thế, Đức Mẹ có thể nói rất đúng rằng:
“Ta là sự Tượng Thai Vô Nhiễm (được dựng nên)” vì ơn thánh và đặc ân đặc
thù này đã không được ban cho bất cứ thụ nào khác ngoài ngài ra. Như thể
ngài muốn nhắn với ta: “Ta, và chỉ một mình ta, được gìn giữ khỏi mọi
vết nhơ của tội lỗi ngay ở giây phút ta được tượng thai. Chỉ có ta được
kết hợp nên một với Chúa Thánh Thần, một cách dấu ẩn và mầu nhiệm mà
thôi. Chỉ một mình ta là Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời trở thành Xác
Thịt. Và chỉ một mình ta hợp tác với hết Trái Tim Vô Nhiễm của ta vào
cái chết cứu chuộc của Con Trai ta, và nay đang hợp tác với Chúa Thánh
Thần trong việc phân phát mọi ơn thánh do Chúa Giêsu tạo lập được nhờ
công nghiệp của Người”.
(còn một kỳ) |