| Đại Lễ Chúa Tình Thương |
|
Mối Liên Hệ Thiết Yếu Giữa Tình Thương Chúa Và Thiên Chức Linh Mục |
| Lm. George - Dịch giả: Ngọc Đính, CMC |
|
Thiên Chúa yêu thương chúng ta bằng một tình yêu giao ước, một tình yêu đoan kết và tín trung, đó là tình yêu hiền phụ. Tình yêu của Người còn mang tính dịu dàng và cảm thông, đó là tình yêu hiền mẫu. Tóm lại, Thiên Chúa đầy nhân lành. Người là chính Tình Thương. Tình Thương là chính yếu tính của việc nhập thể cứu chuộc và thiên chức linh mục của Chúa Kitô. Tự bản chất, thiên chức linh mục của Chúa là một công trình của tình thương dựa trên giao ước mà Thiên Chúa đã thực hiện với con người. Chúa Kitô đã đem tặng ân tình thương của Thiên Chúa đến cho con người, đem đến ơn thứ tha tội lỗi qua việc hy sinh Mình và Máu Thánh của Người ? như một giao ước mới và trường cửu của Tình Thương Thiên Chúa. Hơn nữa, chính Thiên Chúa đã muốn chúng ta trở nên đồng sự để cùng cộng tác với Người vào công trình tình thương này. Do hiệu lực nhiệm tích Thánh Tẩy, và cụ thể hơn nữa là hiệu lực của nhiệm tích Truyền Chức, chúng ta được tấn phong thành những thừa tác viên của Chúa Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm, Ðấng Cứu Thế và Trung Gian. Cũng như Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội, chúng ta cũng là những cộng sự viên với Chúa Kitô trong công trình cứu chuộc và trung gian ? tức là công trình của tình thương. Là những linh mục, chúng ta được đặt định làm những dòng kênh chuyển thông và khí cụ của Tình Thương Thiên Chúa qua các nhiệm tích Thánh Thể và Xá Giải. Ðối với các linh mục, kết luận và hệ quả từ giao ước Tình Thương Thiên Chúa và tương quan cộng tác của chúng ta vào giao ước ấy chính là: lòng sùng kính Tình Thương Chúa không còn phải là một tùy chọn nữa. Lòng sùng kính Tình Thương Chúa thuộc về chính bản chất của thiên chức linh mục. Ðó chính là nguyên nhân ra đời của quyển sách này: để trình bày cho các linh mục những lời của Chúa và của thánh nữ Faustina về lòng thương xót. Lòng Sùng Kính Tình Thương Chúa Thế thì lòng sùng kính Tình Thương Chúa là gì? Ðó không phải chỉ là "lại thêm một lòng sùng kính nữa." Ðúng hơn, đó là điều mà lòng sùng kính chân thực phải có trong ý nghĩa căn bản của no - đó là sự tận hiến, một dâng hiến với lời thề hứa long trọng. Theo nghĩa này, lòng sùng kính Tình Thương Chúa là một cam kết trọn vẹn với Chúa Tình Thương ? để sống nhân lành như chính Người là Ðấng Nhân Lành. Ðó là một giao ước của tình thương. Ðối với lòng sùng kính Tình Thương Chúa, các linh mục có thể dễ dàng nêu lên phản bác: "Phải chăng lại thêm một lòng sùng kính nữa? Chúng tôi không cần thêm những lòng sùng kính nào nữa." Nhưng tôi muốn trả lời rằng như vậy là làm cho vấn đề sùng kính trở nên lạc hậu! Ðây không phải sự hy hiến chúng ta dâng lên Thiên Chúa, nhưng là sự hy hiến Thiên Chúa dành cho các bạn và cho tôi. Vấn đề của lòng sùng kính này chính là vì Thiên Chúa là Tình Thương và Người muốn biểu lộ tình thương đối với tất cả mọi người (x. Rm 11:32). Lòng sùng kính này đã được làm nổi bật nhờ các mặc khải Chúa ban cho thánh nữ Faustina, bắt đầu từ năm 1931 và tiếp tục cho đến khi thánh nữ qua đời vào năm 1938. Sứ điệp của Chúa là một sứ điệp tình thương. Ðây là lúc để trở về với Tình Thương Chúa trong lúc vẫn còn thời giờ của lòng thương xót, trước khi ngày phán xét đến. Chúa đặc biệt yêu cầu: hãy tín thác vào lòng thương xót của Người; hãy thỉnh cầu và tôn vinh lòng thương xót của Người bằng cách lãnh nhận lòng thương xót ấy; hãy cao rao lòng thương xót của Người và hãy sống nhân lành với nhau. Ðó là điều cốt lõi của Phúc Âm! Hơn nữa, ngoài nhiệm tích Thánh Thể và nhiệm tích Xá Giải, qua thánh nữ Faustina, Chúa còn ban cho chúng ta những phương thế đặc biệt để kín múc Tình Thương của Người, đó là: bức ảnh Chúa Tình Thương với hàng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa," chuỗi hạt kính Chúa Tình Thương, lễ kính Chúa Tình Thương, và việc cầu nguyện vào đúng giờ Chúa tử nạn trên thập giá. Việc mô tả kỹ hơn những yếu tố của lòng sùng kính này sẽ cho thấy đó là một lòng sùng kính của linh mục như thế nào. Ðức Lêô Cả nhiều năm trước đây đã chỉ thị cho các linh mục hãy rao giảng về Tình Thương Chúa, ngài nói rằng chúng ta không còn một lựa chọn nào khác trong vấn đề này: Linh mục không có quyền khước từ việc rao giảng về một mầu nhiệm quá ư vĩ đại như vậy, hơn nữa linh mục không thể thiếu chất liệu để diễn giảng về một đề tài mà chưa bao giờ được nói cho đầy đủ; và nếu trước tôn nhan vinh quang của Thiên Chúa, tuy chúng ta thấy mình không xứng đáng để diễn giảng về những công trình của Tình Thương, nhưng chúng ta hãy nỗ lực và dâng hiến trí năng của mình đến độ vận dụng tất cả mọi khả năng lợi khẩu (Sermo I, de Passione). Ðức Gioan Phaolô II, trong bức tông thư Thiên Chúa Giàu Lòng Xót Thương (Dives in Misericordia) cũng nói về việc cao rao Tình Thương. Giáo Hội của thời đại chúng ta? phải trở nên ý thức đặc biệt và sâu xa về nhu cầu làm chứng cho Tình Thương Chúa trong sứ mạng trọn vẹn của mình, theo bước chân của truyền thống Cựu và Tân Ước, và trước nhất chính là của Chúa Giêsu Kitô và các Tông Ðồ của Người (VII, phần Giới Thiệu). ? Giáo Hội phải coi việc tuyên xưng và đưa mầu nhiệm Tình Thương - như đã được mặc khải một cách đầy đủ nhất trong Chúa Giêsu Kitô (#14) - vào cuộc sống là một trong những bổn phận chính yếu của mình ? trong mọi giai đoạn lịch sử và nhất là trong thời buổi hiện tại của chúng ta. Những Thái Ðộ Với Mặc Khải TưMột số linh mục cũng như giáo hữu thường có thành kiến đối với các mặc khải tư, cho dù là những mặc khải đã được Giáo Hội chuẩn nhận. Thái độ của các linh mục ấy được thể hiện qua những câu đại loại như : "Ôi, chỉ là mặc khải tư." "Tôi chẳng cần mặc khải tư nào hết." "Cái đó đâu phải cho tôi." "Tôi có thành kiến đối với các lòng sùng kính và các đền thánh." Nhưng thật đáng tiếc, những thái độ như vậy thực sự là những vật cản đối với việc lắng nghe tiếng Chúa và Ðức Mẹ trong thời đại hiện nay. Trong bài giảng tại Fatima (ngày 13.5.1982), Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói lên thái độ của Giáo Hội đối với mặc khải tư trong một tuyên bố rõ ràng. Ngài trích dẫn lời Công Ðồng Vaticanô II và áp dụng vào trường hợp các mặc khải tại Fatima: Giáo Hội vẫn luôn giáo huấn và tiếp tục tuyên bố rằng mặc khải của Thiên Chúa đã đến chỗ toàn thành trong Ðức Giêsu Kitô, Ðấng là viên mãn của mặc khải, và "chúng ta không phải chờ đợi một mặc khải công nào khác nữa trước khi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta hiện đến trong vinh quang" (Dei Verbum, 4). Giáo Hội đánh giá và thẩm định các mặc khải tư dựa trên tiêu chuẩn phù hợp với mặc khải công ấy. Nếu Giáo Hội đã chấp nhận sứ điệp Fatima, trước hết là vì sứ điệp này bao hàm một chân lý và một lời mời gọi có nội dung căn bản chính là chân lý và lời mời gọi của Phúc Âm. "Hãy hối cải và tin vào Phúc Âm" (Lc 1:15): đây là những lời đầu tiên mà Ðấng Thiên Sai đã nói với nhân loại. Sứ điệp Fatima, trong cốt lõi căn bản, cũng là một lời mời gọi hoán cải và sám hối như trong Phúc Âm. Chỉ bằng một vài câu, Ðức Gioan Phaolô II đã phác ra vị trí của các mặc khải tư ? đó là một chân lý và một lời mời gọi của chính Phúc Âm. Những ngôn từ và những hành động của Ðức Gioan Phaolô II rất rõ ràng và mạnh mẽ, nhưng chúng tôi thiết tưởng các suy tư khác cũng ích lợi. Thiên Chúa đã không ngừng nói với Dân Người sau cái chết của vị Tông Ðồ sau cùng là thánh Gioan, người môn đệ dấu yêu. Các mặc khải công được đóng lại bằng cái chết của thánh Gioan, nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục nói với chúng ta và ban cho chúng ta sự đảm bảo về cuộc vinh thắng của Người. Vấn đề ở đây là: Ai đang lắng nghe tiếng Chúa nói? Sau đây là một số lý do khác giúp chúng ta trân trọng các mặc khải tư hơn: * Thiên Chúa là Ðấng tự do. Người có thể nói với chúng ta nếu Người muốn. Thiên Chúa có những điều quan trọng để nói với chúng ta. * Những mặc khải tư là các sự kiện lịch sử. * Các mặc khải tư xác nhận Phúc Âm. * Các mặc khải tư nhấn mạnh đến các chân lý đức tin và luân lý trong bối cảnh hiện tại. * Các mặc khải tư đưa ra sự hướng dẫn lựa chọn một đường lối trong những thời buổi khủng hoảng. * Nội dung của các sứ điệp rất phong phú cho việc xây đắp đức tin của chúng ta. Một suy tư khác nữa là việc thực thi các lời mặc khải tư thuộc về những đoàn sủng mà Công Ðồng Vaticanô II đã khuyến khích: "Phải lãnh nhận các đoàn sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và phù hợp với các nhu cầu của Giáo Hội" (Lumen gentium, 12). Ðức giám mục Gaber của giáo phận Regensburg đã nói lên những lời cảm động về vấn đề mặc khải tư với đại hội Fatima diễn ra tại Freiburg, Ðức Quốc, ngày 23.9.1973 như sau: Một lần nữa chúng tôi xác nhận rằng mặc khải công đã đóng lại với Chúa Kitô và các Tông Ðồ của Người. Nhưng như vậy không có nghĩa là Thiên Chúa phải nín lặng, không thể nói thêm gì với Dân Người nữa. Và như vậy, như một số tín hữu vẫn nghĩ - Chúa ở xa cách và bỏ mặc thế gian hay sao? Ðó không phải là một Thiên Chúa thực sự rất kỳ lạ hay sao? Thiên Chúa đã minh nhiên phán bảo qua các tiên tri của Người rằng "Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng. Ta sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta" (Cv 2:17; x. Ga 3:1-5). Lời tiên tri ấy lẽ nào lại bị giới hạn vào ngày Ngũ Tuần đầu tiên hay sao? Chắc chắn là không" (Fatima: The Great Sign, Francis Johnston, A.M.I., Washington, N.J., 07882). Thánh Tôma Tiến Sĩ cũng bàn về lời tiên tri rằng: Ðối với việc hướng dẫn các hành vi con người, mặc khải tiên tri đã được đa dạng hóa không theo quá trình thời gian, nhưng theo nhu cầu các hoàn cảnh; bởi vì như đã viết trong sách Châm Ngôn: "Nơi đâu không có lời tiên tri, người ta sống không kìm hãm" (Cn 29:18). Ðó là lý do trong mọi thời đại, người ta đều được Thiên Chúa dạy bảo về những điều phải làm, để mưu ích phần rỗi cho những người được tuyển chọn. Cũng trong bài viết trên, thánh nhân còn viết: Trong mỗi thời đại, luôn luôn có những người được ban thần khí tiên tri, mục đích không phải là để đặt thêm giáo lý mới bắt người ta phải tin, nhưng là để quản trị các hoạt động của con người (Summa II, II, Q. 176, a.6). Cha Karl Rahner, dòng Tên, trong bài "Theology of Devotion to the Sacred Heart" (Thần Học về việc Sùng Kính Thánh Tâm) đăng trong ấn phẩm Theological Investigations (vol. III, pp. 338, 339) có giải thích rằng trong khi các mặc khải tư không đưa ra thêm giáo lý mới bắt phải tin, nhưng đưa ra sự hướng dẫn đặc biệt cho Giáo Hội, đề cao những phương cách cụ thể và khẩn thiết để ứng dụng đức tin vào hành động. Các mặc khải tư trình bày cho chúng ta cách đánh giá của Thiên Chúa về điều gì cần thiết nhất trong các thời kỳ riêng biệt. Về vấn đề này, cha Walter Kern, trong tác phẩm Updated Devotion to the Sacred Heart, cũng góp thêm một suy tư quan trọng. Ngài giải thích rằng các mặc khải tư ?được ban như một ơn đặc biệt để mưu ích cho nhân loại nói chung. Người ta vẫn có thể được rỗi linh hồn mà không một ơn đặc biệt nào từ Thiên Chúa, nhưng vấn đề ở chỗ là Thiên Chúa đã ban, và vì ơn ấy đang hay đã hữu ích, nên người ta phải trân trọng nó.
Nhất là trong những
thời buổi thử thách như thời đại của chúng ta hiện nay, chúng ta cần
phải lắng nghe lời Chúa đã tuyên phán rõ ràng và mạnh mẽ như tiếng kèn
vang dậy. "Giả như kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ, thì ai sẽ chuẩn bị
chiến đấu?" (1 Cr 14:8). Ai sẽ nghe được và hành động? Ai sẽ có thể cùng
thưa lên như Samuel, "Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng
tai nghe" (1 Sm 3:9)?
Chương I
|