|
NHỮNG ƠN CHÚA THÁNH THẦN |
|
Thiện Hưng |
|
1. ƠN PHÁN ĐOÁN - Alfonso Carrasco Rouco Những ơn Chúa Thánh Thần là những sức mạnh giúp cho người tín hữu có thể hành động dưới sự gợi hướng, thúc đẩy và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chính nhờ các ân huệ đó mà đời sống luân lý có một hình thức và sự cần thiết riêng. Không chỉ các ân huệ Chúa Thánh Thần làm hoàn hảo các nhân đức khác nhau mà còn đi vào sâu trong nội tâm con người, làm cho con người sẵn sàng đón nhận một tác động hướng về cánh chung điều mà con người không thể tự mình làm được. Việc này vượt quá các nhân đức luân lý và đối thần cho dù được hoàn hảo nhờ ân sủng. Việc này chỉ có thể đến từ Chúa Thánh Thần. Tất cả các tín hữu đón nhận những ân Chúa Thánh Thần và Ngài luôn luôn ban ơn cho họ với một điều kiện duy nhất là người tín hữu phải sống trong ân sủng. Với cách này, bước đầu con người đạt tới sự hoàn hảo có thể có ngay trên trần thế, trong cuộc sống hàng ngày, sau đó tới sự hoàn hảo nơi thiên quốc. Tuy vậy, Thiên Chúa coi mỗi người theo cách sống và như một tạo vật có lý trí và tự do. Với lý do này, hành động của con người cần tìm kiếm sự hiểu biết việc mà họ phải làm. Đó là điều người ta gọi là « sự phán đoán » nhờ đó con người điều hướng các hành vi của mình. Ngoài ra, ơn phán đoán làm hoàn thiện nhân đức luân lý cẩn trọng. Với đức cẩn trọng giúp con người tìm ra lý do khả dĩ của hiểu biết mọi chuyện. Lý trí tự nhiên không có khả năng thấu hiểu hết trong chi tiết và tổng quát của những sự kiện và hiện hữu. Chính vì thế, con người cần đựợc hướng dẫn của Thiên Chúa và đón nhận sự hướng dẫn của Ngài như người ta chấp nhận lời khuyên của người khôn ngoan, vì Thiên Chúa biết hết mọi sự. Những ơn Chúa Thánh Thần giả định rằng con người tự do qui hướng về Thiên Chúa là cùng đích của mình nhờ các nhân đức đối thần, cách nào đó cũng bắt nguồn từ các ơn Thánh Thần. Như vậy, qua ơn phán đoán, lý trí con người được Chúa Thánh Thần huấn luyện những việc phải làm, đức cẩn trọng được nâng cao tới mức hoàn hảo và các hành vi nhân linh hướng về đời sống vĩnh cữu đều được Thánh Thần Tình yêu gợi hứng và hướng dẫn. Con người có thể đối diện với tất cả mọi sự với lòng tin tưởng và năng lực sáng tạo, đồng thời vượt lên trên những lo âu và nghi ngờ do lý trí trong một thế giới hay thay đổi bằng một tiêu chí phán đoán và một thước đo mới vượt lên trên sự cẩn trọng phải có. Nếu lý trí con người tự nhiên tìm kiếm những ý kiến hay nơi những con người khôn ngoan, thì ơn Chúa Thánh Thần làm soi sáng đặc biệt cho người có lòng tin trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, hầu giúp họ không những tự mình tiến bước một cách tự do mà còn làm cho họ thành những chứng nhân của đời sống theo Thánh Thần trong thế giới hôm nay. Đồng thời ban cho họ khả năng gợi hứng cho những người khác vì : tâm trí con người được Chúa Thánh Thần hướng dẫn sẽ có khả năng hướng dẫn chính mình và người khác. Ngoài ra, ơn phán đoán liên kết cách đặc biệt với lòng thương xót để giúp con người gắn liền những hành động của mình hướng về cánh chung. Điều này không thể hiểu được nếu không có sự trợ giúp của Thánh Thần. Với ơn phán đoán, con người khám phá đâu là linh dược duy nhất cho mình trong những hoàn cảnh cụ thể của thế giới và lịch sử. Chính vì thế, ơn phán đoán gắn liền với mối phúc thứ 5 : Phúc cho những ai có lòng thương xót. 2. ƠN CAN ĐẢM – GS. Michael F. Hull, New York Những ơn Chúa Thánh Thần làm hoàn tất và hoà hảo những nhân đức tự nhiên, đặc biệt bốn nhân đức căn bản: khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ. Nhờ ân sủng tác động trên bản chất tự nhiên và làm hoàn hoản, ơn Can đảm củng cố nhân đức Can đảm và thêm sức mạnh cho chúng ta hoàn thành ý muốn của Thiên chúa trong mọi sự. Những tài liệu Công đồng VatiCan II không coi ơn Can đảm như một nhân đức và ân ban tự bản chất mà là yếu tố cấu thành các nhân đức và ân ban khác. Ví dụ như trong Gaudium et spes, số 62 và 75, Perfectae caritatis, số 5 và Apostolicam actuositatem, số 17. Chúa Thánh Thần ban ơn Can đảm được nói rõ ràng trong thơ gởi tín hữu Philipphê của thánh Phaolô: “Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành sẵn cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu.” (Ph 3, 14) Thánh tiến sĩ Tôma đã bàn rất dài và ơn Can đảm trong Summa Theologiae: Ơn Can đảm, trước tiên là nhân đức luân lý (I-II, q. 123), tiếp theo là ơn Thánh Thần (II- II, q. 139). Khi coi ơn Can đảm như một nhân đức, thánh Tôma theo triết gia Aristote trong Ethique de Nicomaque, nhưng khi bàn đến ơn Can đảm như một nhân đức nền tảng, thánh Tôma vượt lên trên Aristote. Bởi vì, thánh nhân coi ơn Can đảm có thể bảo đảm sự vững chắc chung cho tất cả các nhân đức. Nếu tất cả các nhân đức đều đúng như vậy và nếu các nhân đức phải áp dụng trong đời sống luân lý, thì mỗi nhân đức phải thực thi với một sự chắc chắn thì chỉ có ơn Can đảm mới bảo đảm được như vậy. Vì thế, ơn Can đảm là một nhân đức chính trong tương quan với các nhân đức khác như: hiền hoà, quãng đại, nhẫn nại và kiên trì. Trong chừng mực là ơn Chúa Thánh Thần, thánh Tôma coi ơn Can đảm như một nhân đức siêu nhiên khi qui chiếu vào Isaia 11, 2. Chính vì phần thưởng sự sống vĩnh cửu là mục đích cho tất cả những hành vi tốt và là sự giải phóng các nỗi lo sợ, ơn Can đảm gợi hứng cho chúng ta lòng tin tưởng. Nhờ đó, cho phép chúng ta chống lại tất cả những kẻ thù. Điều này rõ ràng đòi phải có nhân đức Can đảm, dù cho điều này có đi xa hơn nữa, vì ơn Can đảm không lệ thuộc vào mục đích hướng tới của những cố gắng của chúng ta hay lệ thuộc vào những ngăn trở phải vượt qua. Thánh Tôma qui chiếu về thánh Augustin (Sem. Dom. in Monte, 1) và thấy có một tương quan giữa ơn Can đảm và mối phúc thứ 4: “phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.” (Mt 5, 6) Với ơn phán đoán, ơn Can đảm là ân huệ giúp chúng ta kiên trì trong việc tìm kiếm sự thánh thiện và Thiên Chúa. Trong diễn văn ngày 15 tháng 5 năm 1989, trước khi đọc kinh Lạy Nữ vương thiên đàng, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhận xét : hơn bao giờ hết cho ngày hôm nay, nhân đức luân lý Can đảm rất cần được nâng đỡ bằng ơn Chúa Thánh Thần và chính là ơn Thánh Thần. Ơn Can đảm là một sự thúc đẩy siêu nhiên làm tăng thêm sức mạnh cho tâm hồn không những trong những thời khắc bi thảm như là việc tử đạo, nhưng còn trong những lúc khó khăn của cuộc sống hàng ngày để luôn sống trung tín ; tăng sức chịu đựng những xúc phạm và những tấn công bất công ; trong sự kiên trì trên đường chân lý và lương thiện ngay khi đối diện với hiểu lầm và thù địch. Can đảm - ơn Chúa Thánh Thần, không làm biết mất những thăng trầm và những cám dỗ trong cuộc sống. Nhưng ơn Can đảm làm cho chúng ta chia sẻ trực giác của thánh Phaolô và để sống trung tín : « Vì vậy chúng tôi cảm thấy vui mừng khi mình yếu đối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh » (2 Cor 12, 10). 3. ƠN KHÔN NGOAN - Fr. Gregory D. Gaston, STD (Manille) Cũng như những ơn khác của Chúa Thánh Thần, ơn Khôn ngoan kèm theo ơn thánh hoá làm cho con người sẵn sàng đón nhận sự linh hứng và những tác động của Chúa Thánh Thần đồng thời làm tràn đầy và làm hoàn hảo tất cả các nhân đức nơi những ai đón nhận. Điều đặc biệt của Ơn Khôn ngoan là làm mở rộng tâm hồn cho Chúa Thánh Thần trong việc chiêm ngắm những điều thần linh và giúp cho con người lượng giá những câu hỏi về thế giới và về thần linh theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Ơn Khôn ngoan gợi hứng cho con người lòng kính sợ con thảo đối với Thiên Chúa và đổ vào tâm hồn sự bình an lành thánh. Lấy một ví dụ cụ thể trong việc đào tạo linh mục, người ta có thể đọc thấy trong tông huấn Partores Dabo Vobis, số 10, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh sau khi mô tả hoàn cảnh phức tạp của việc huấn luyện các linh mục hôm nay, là làm sao huấn luyện các linh mục tương lai vượt lên trên những hoàn cảnh hiện tại và có khả năng truyền bá Tin mừng cho thế giới hôm nay. Ngài cho rẳng chỉ đơn giản cho thấy những sự kiện thì không đủ, nhưng phải thực hiện một nghiên cứu “khoa học” để có một sơ đồ cụ thể về những điều kiện văn hoá-xã hội và giáo hội. Giải thích những hoàn cảnh rất quan trọng mặc dù không phải lúc nào cũng dễ dàng. Việc giải thích này cần thiết phải có một sự biện phân theo Tin mừng. “ Việc biện phân này được soi sáng và củng cố bởi Thánh Thần. Chính Người gợi lên trong mọi nơi mọi lúc lòng tuân phục đức tin, lòng Can đảm để bước theo Thầy Giêsu. Ơn Khôn ngoan xét đoán mọi sự mà chẳng có ai xét đoán được (x. 1 Cor 2, 15) dựa trên lòng trung tín vào những lời hứa của Thiên Chúa Cha.” Việc huấn luyện các linh mục vượt lên trên những khả năng thông thường và những xét đoán của nhân loại. Ơn Khôn ngoan làm cho các nhà huấn luyện các chủng sinh nhạy bén với những tác động thần linh và cho phép họ hướng dẫn các chủng sinh cách hữu hiệu nhất. Chúng ta cầu xin ơn Khôn ngoan không phải chỉ cho những dịp quan trọng và còn thực thí thánh ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Những lời trong tông huấn Vita Consacrata, số 71, áp dụng tốt cho những tu sĩ cũng như cho các linh mục triều và giáo dân. Toàn thể nhân vị « được mời gọi tìm kiếm và yêu mến Thiên Chúa hết tâm hồn và hết sức mình » (x. Đnl 6, 5) và yêu mến tha nhân như chính mình » (x. Lc 10, 27 ; Mt 22, 37-39). Vì vậy, chúng ta phải không ngừng khẩn cầu Thiên Chúa ơn Khôn ngoan trong cuộc chiến đấu trong cuộc sống hàng ngày (x. Sg 9). Với sự trợ giúp của ơn Khôn ngoan, chúng ta xét đoán theo những tiêu chuẩn của Thiên chúa chứ không phải của chúng ta. Tốt hơn nữa, chúng ta thử làm cho những tiêu chuẩn của chúng ta đồng bộ với Thiên Chúa. Chúng ta tìm kiếm một sự « đồng chất » với Thiên Chúa, nhờ đó có sự đồng bộ với Thiên Chúa làm cho chúng ta luôn luôn mong muốn điều tốt. 4. ƠN THÔNG MINH - Gs. Galot, Roma Lần đầu tiên Chúa Giêsu loan báo việc Chúa Thánh Thần đến trong bữa Tiệc ly, Ngài gọi Chúa Thánh Thần là Thần Khí sự thật. « Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một ấng Bảo Trợ khác dến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng cẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em » (Ga 14, 16-17). Sứ mạng chính yếu của Chúa Thánh Thần hợp với tên của Người. « Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em » (Ga 16, 13-14). Tất cả chân lý được mạc khải bởi Chúa Thánh Thần, nhưng những điều Chúa Giêsu đã giảng dạy và trình bày sẽ được ứng dụng rõ ràng cho mọi trường hợp tương lai. Chúa Thánh Thần không chỉ làm cho chúng ta đi vào ánh sáng thần linh của chân lý mà Chúa Giêsu rao giảng, nhưng Người còn đưa chúng ta thông hiểu và đồng hoá với mạc khải. Trong Cựu ước, Thần khí của Thiên Chúa được nhận biết qua những ơn Khôn ngoan và ơn Thông minh đổ xuống một vài người. Cách đặc biệt, Đấng Mesia được loan báo như người đầy ơn Thánh Thần. Nhiều ơn khác nhau được liệt kê trong sách Isaia 11,2 : ơn đầu tiên là ơn Khôn ngoan và ơn Thông minh : « Thần Khí Đức Chúa ngự trên vị này : thần khí khôn ngoan và minh mẫn... » Không có gì đáng ngạc nhiên về chất lượng « khôn ngoan và minh mẫn » nơi người lãnh đạo tối cao nhất là vua Mesia. Nhưng điều làm chúng ta chú ý nhất là những chất lượng này chỉ có thể đến từ trên cao chứ không phải do sự phát triển những năng lực tự nhiên. Những năng lực tự nhiên hiện diện và biểu lộ nơi nhiều người. Nhưng để hoàn thành sứ mạng do ý muốn của Thiên Chúa trao phó, đấng Mesia cần có ân ban thần linh có phép ngài biện phân ý muốn này. Các ơn Khôn ngoan và Thông minh không phải chỉ dành riêng cho đấng Mesia. Toàn dân Do thái được coi là những người sở hữu những ơn này khi họ đến gần Thiên Chúa và khi họ đón nhận giáo huấn của Lề Luật. Các dân khác nói về dân Do thái : « Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh. Phải, có một dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần như Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người ? Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật... » (Đnl 4, 6-8). Đó là ân huệ thần linh do sự hiện diện và thánh ý Thiên Chúa trong đời sống của toàn dân. Cùng một ân ban thần linh được dân chúng Nazareth phát hiện nơi con người Chúa Giêsu : « Bởi đâu ông ta được như vậy ? Ông ta được khôn ngoan như vậy... ? » (Mc 6, 2 ; cf. Mt 13, 53). Nơi con người Chúa Giêsu tỏ lộ tất cả những ân huệ Thánh Thần được hứa ban cho Đấng Mesia. Theo truyền thống Do thái, trong số các ân huệ đó, ơn Khôn ngoan và ơn Thông minh luôn luôn gắn liền mật thiết với nhau. Hai ơn này hợp nhất cùng nhau để làm tăng tài năng đặc biệt cho những người làm công việc trang trí đền thờ như là ông Beçaléel, « là người được Đức Chúa ban cho lòng trí khôn ngoan và minh mẫn » (Xh 36,1). Phần chúng ta, chúng ta thử làm sáng tỏ sự phân biệt hai ơn này. Ơn khôn ngoan có một ý nghĩa rất lớn và rất nền tảng. Đó là khả năng tổng hợp nhiều hoàn cảnh khác nhau với một cái nhìn tổng thể với một phán đoán chính xác để có câu trả lời đúng trong khi lượng định và hành động. Về bản chất và đặc tính của sự khôn ngoan, nhiều người cho rằng nơi những nhà thông thái trong Kinh thánh và nhất là trong sách Khôn ngoan. Ơn Thông minh chỉ rõ cách đặc biệt khả năng phân tích thấu đáo những vấn đề, để biện phân những động cơ thầm kín. Dưới lớp vỏ bên ngoài của sự việc, sự thông minh biết phải làm gì để hành động cách hợp lý nhất trong từng hoàn cảnh. Để tóm lại bốn khía cạnh mà thánh Phaolô nói tới trong thơ gởi tín hữu Êphêsô (3, 18), chúng ta có thể gắn chiều dài và chiều rộng cho sự khôn ngoan, còn chiều cao và chiều sâu cho sự minh mẫm. Tuy vậy, khôn ngoan và minh mẫn không thể tách rời. Cả hai dẫn tinh thần con người đi vào ánh sáng thần linh của Chúa Thánh Thần và làm cho con người có khả năng chia sẻ phương thế thần linh về hiểu biết, phán đoán và nhận xét mọi sự theo chân lý. 5. ƠN HIỂU BIẾT - Fr. Gary Devery, OFM Cap Công trình đầu tiên của Chúa Thánh Thần là ơn nhận biết chính mình. Sự thông hiểu Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta rất hiện sinh : sự nhận biết sự thật sâu kín của chúng ta. Chúng ta nhận biết chúng ta thiếu hy vọng, nỗi buồn sâu kín, và những nghi ngờ trước những sự kiện của cuộc sống do tội lỗi trong chúng ta. Việc đầu tiên là Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta chiến thắng tội lỗi của mình. Đó chính là nhiệm vụ cứu độ để « đem tội lỗi ra ánh sáng », như tông thơ Dominum et Vivi Cantem, số 28 nói rõ. Việc chiếu ánh sáng cứu vào tội lỗi để cho thấy tội lỗi không phải là tiếng nói cuối cùng. Việc này không phải là việc kết án mà là việc chẩn trị. Chúa Thánh Thần hướng lương tâm bị tổn thương bởi tội lỗi về một mầu nhiệm của lòng sốt mến, được nói tới trong tông thư Reconciliation et Paenitentia, số 19-20. Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta lên đường sám hối hay đúng hơn là hạ mình sám hối để chúng ta biết lột trần con người và những ích kỷ của chúng ta. Nhờ Lời Thiên Chúa, nhất là Lời sống động trong khi tham dự tích cực phụng vụ như lời ngôn sứ Hôsê : Chúng ta phải biết Đức Chúa, phải ra sức nhận biết Người....Vì vậy, Ta dùng ngôn sứ mà đáng phạt chúng, lấy lời miệng Ta mà diệt trừ. Phán quyết của Ta sẽ bừng lên như ánh sáng....Vì Ta muốn tình yêu chứ không muốn hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu. » (Hs 6, 3-6) Lời Thiên Chúa mời gọi chúng ta bước vào hành trình nhận biết sâu sắc chính mình. Việc nhận thức tội lỗi của mình là hành vi cứu độ vì nó dẫn chúng ta tới sự khiêm tốn. Khi sống trong sự khiêm tốn nhờ ơn Chúa Thánh Thần, người tín hữu luôn biết sám sám hối liên lỉ trong sự đơn sơ. Việc nhận biết chính mình mà Chúa Thánh Thần ban cho người tín hữu làm cho họ phân định rõ đời sống riêng của mình. Việc phân định là một khía cạnh chính của ơn hiểu biết mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta. Ti-mê, người hành khất mù trên đường Giêricô trong Tin mừng Mác-cô, chỉ rõ cho chúng ta hành trình làm cho chúng ta nên những môn đệ của Chúa (x. Mc 10, 46-52) Khi được chữa lành bằng sức mạnh của Chúa Giêsu, anh ta nhận ra chính mình và bước theo Chúa Giêsu. Với ơn Hiểu biết, đặc biệt dưới hình thức biện phân, các môn đệ Chúa Kitô hướng mắt về mầu nhiệm của lòng sốt mến, nhờ đó người kitô hữu đạt đến sự hiểu biết linh hứng bởi Chúa Thánh Thần. Đó là mầu nhiệm đức tin. Đó là sự hiểu biết mà lý trí con người không thể lãnh hội, như lời thánh Phaolô trong thơ gới tín hữu Corinthô : « Khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh » (1 Cor 2, 1-2). Chính Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự hiểu biết Thiên Chúa. Chính nhờ sự hiểu biết này mà chúng ta kêu lên : Abba, Cha ơi ! » (Rm 8, 14-17). 6. ƠN KÍNH SỢ THIÊN CHÚA – GS. Gerhard-Ludwig Müller, Munich Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan. (Tv111, 10) Những lời Kinh thánh nói cho chúng ta biết rằng ơn Kính sợ Thiên Chúa và nhận biết sự tối cao và toàn năng của Thiên Chúa là khởi đầu sự hiểu biết bản thân. Con người phải học biết đặt đúng chỗ trong tương quan đúng đắn với Thiên Chúa. Nếu con người dựa vào chính mình, con người sẽ kêu ngạo là đầu mối mọi thất bại. Đau khổ và sợ hãi luôn bám sát con người khi họ suy nghĩ đến điều tầm thường từ đầu cho đến cuối cuộc đời, ; khi đau khổ và sợ hãi thay đổi bởi lòng kính sợ và tôn kính Thiên Chúa, con người sẽ nhận ra điều tuyệt vời và đáng khâm phục. Thánh Têrêxa Avila nói : Không có gì làm cho chúng ta sợ hãi, vì ai bước theo Thiên Chúa sở hữu tất cả. Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô : dù là sự chết hay sự dữ cũng không thể chạm đến chúng ta (x. Rm 8, 39). Trước mặt Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo và Cứu độ, con người giải thoát khỏi mọi sợ hãi và mọi sự nô lệ để đạt tới niềm vui trong sự nhận biết quyền tối cao của Thiên Chúa là đại dương tình yêu (thánh Gioan Damascène). Thánh Thần đổ tràn trong tâm hồn chúng ta làm cho chúng ta hướng về Thiên Chúa và kêu lên : Abba, Cha ơi (Gal 4, 4-6 ; Rm 8, 15) ; nhưng đồng thời, ơn Kính sợ Thiên Chúa là một trong 7 ơn Chúa Thánh Thần (Is 11, 2). Lòng kính sợ Thiên Chúa cho phép các thụ tạo giữ mối tương quan gần gũi và siêu thoát với Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là Đấng toàn năng không tình yêu làm phát sinh lòng kính sợ và sợ hãi, cũng không phải một thứ tình yêu không còn phân biệt giữa Đấng Tạo hoá và tạo vật. Như thế, con người tránh được cùng một lúc kinh nghiệm về sự hư không của mình trước Thiên Chúa và ý muốn sử dụng Thiên Chúa cho những mục tiêu ích kỷ của mình. Nhờ ân sủng thiêng liêng của lòng kính sợ Thiên Chúa, các môn đệ hiểu những lời Chúa Giêsu nói trong khi rửa chân cho các ông trong bữa Tiệc ly : « Anh em gọi Thầy là Thầy là Chúa, điều đó phải lắm » (Ga 13, 13) và nhận thức được tình yêu của Thiên Chúa « đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời » (Ga 3, 16). Ngay từ lúc này, chúng ta không còn là những người nô lệ cho tội lỗi, nhưng là những bạn hữu của Chúa Kitô cùng đón nhận và chia sẽ sự sống đời đời. dịch từ www.clerus.org
|