| Chúa Nhật Lễ SUY TÔN THÁNH GIÁ - Năm C |
|
44.Suy tôn Thánh Giá(Chú giải mục vụ của Alain Marchabour) Câu 13: Chúa Giêsu là Đấng mặc khải duy nhất Câu này quá rõ ràng, xác quyết rằng sự hiểu biết duy nhất đích thực về Thiên Chúa là sự hiểu biết do Đấng từ trời xuống, Con Người. Cựu Ước thường gợi nhớ niềm mơ ước có được sự hiểu biết trực tiếp về Thiên Chúa: “Ai lên trời rồi lại xuống?” (Cn 34,4). Tác giả sách Khôn Ngoan tự hỏi: “Việc trên trời ai phát minh được” (9,16-18). Chúa Giêsu là Đấng mặc khải mà ông Nicôđêmô (và qua ông, dân Do thái) đã không nhận biết (x. 1,18; 6,46; 14,7-9). Từ yêu sách này, Chúa Giêsu và qua Người, các Kitô hữu, không những chống lại những người Do thái đương thời, cả đến những người thân cận như ông Nicôđêmô, mà còn chống lại những người ngộ đạo tự hào đưa ra một sự hiểu biết các mầu nhiệm của ta ngoài Chúa Giêsu. Câu 14-17: Nội dung mặc khải của Chúa Giêsu Để tạo uy tín cho lời nói của mình, trước hết Chúa Giêsu đặt nó vào trong lịch sử Israel. Sự mới mẻ mà Người mang đến, cần phải là sự hoàn tất mọi điều Kinh Thánh. Con rắn được giương cao trong sa mạc, theo sách Dân Số 21,4-9, đã giải thoát các người Do thái bất trung khỏi phải chết. Từ giai thoại bí nhiệm này, chúng ta nên lưu ý những điểm có thể làm sáng tỏ điều mặc khải tiếp sau: a) Con rắn được giương cao, giống như con người sẽ được treo lên thập giá. Có sự giống nhau từng chữ. b) Sự chết đe dọa dân tộc là do sự cứng lòng tin. Dân Do thái được cứu độ không phải bằng một nghi thức phù phép, mà bằng một nghi thức đầy ý nghĩa tượng trưng, đó là đức tin vào Thiên Chúa. Tác giả sách Khôn Ngoan đã hiểu rất rõ điều đó: “Ai nhìn lên (con rắn) sẽ được thoát, không phải nhờ xem điềm lạ đó mà được khỏi, nhưng tại nhờ vào Ngài là Cứu Chúa muôn loài” (16,7). Quả thật, ơn cứu độ do Thiên Chúa mà có. c) Hiểu rộng hơn, việc tham chiếu với đoạn nói về con rắn bằng đồng kết nối sự giáng thế của Chúa Giêsu với những biến cố Xuất hành. Chúa Giêsu là một Môsê mới, và chắc chắn đối với Thánh sử, Người còn hơn thế nữa. Con Người sẽ phải được giương cao để ai tin vào Người thì được sống muôn đời Quả thật Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời Câu này tóm gọn mặc khải; ở đây chúng ta đang đứng trước những “chuyện trên trời” được nói đến ở câu 12. Nên lưu ý đến kết cấu Do thái song song: cách phân chia câu cú có thể giúp nhận ra những thành phần của câu tương ứng với nhau: “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”; hoàn cảnh và các tác nhân cụ thể gây nên cái chết của Chúa Giêsu không được phơi bày ở đây. Thánh sử chỉ giữ lại sự “nhất thiết” (phải) ăn rễ sâu trong ý định của Thiên Chúa. Việc dùng thì thụ động tiếp sau đó có thể là một cách hành văn để tránh phải dùng đến từ “Thiên Chúa”. Kết cấu bản văn chứng tỏ sự song song giữa Thiên Chúa yêu thương và Người được giương cao. Từ câu này chúng ta nhận ra bản tóm lược sự mặc khải, chúng ta thử dẫn ra những điểm sau đây: a/ Trong Tin Mừng Gioan, sự nâng lên tương ứng với việc treo lên thập giá (x. 2,28; 12,31-34). Tại sao việc bị treo lên thập giá, “điều ô nhục đối với người Do thái, sự điên rồ đối với dân ngoại” (1Cl 1,23) lại là tuyệt đỉnh mặc khải nơi Gioan (x. 19,31-37)? b/ Điều đó bởi vì thập giá là nơi phơi bày tình yêu của Thiên Chúa. Từ này xuất hiện ở đây lần đầu tiên trong Tin Mừng Gioan. Đặc biệt nó sẽ được lặp lại trong phần thứ hai của Tin Mừng. “Thiên Chúa đã yêu đến nỗi đã ban Con mình”: cả hai động từ đều được dùng ở thì quá khứ vô định, một sắc thái của thì động từ không dùng trong tiếng Pháp, chỉ định một thời điểm rõ ràng và chính xác (hội nhập vào bước đường lịch sử của Chúa Giêsu và kết thúc trên thập giá). Chính nhờ ân huệ này của Thiên Chúa mà Gioan có thể nói đến tình yêu. Đó là tình yêu hiển thị (1Ga 4,10). Việc nhập thể chính là sự biểu lộ tình yêu mà đỉnh cao là thập giá. c/ Thập giá không phải là nguồn ơn cứu độ ở khía cạnh một của lễ đền tội đẫm máu. Chính bởi vì nó là cách diễn tả cao cả nhất của tình yêu Thiên Chúa, cho nên nó là nguồn sự sống cho các tín hữu. Chúng ta không nên nhìn thập giá như nơi Thiên Chúa trút cơn thịnh nộ, nơi Chúa Con bị Chúa Cha từ bỏ để cứu độ chuộc tội lỗi loài người. Nơi đây Chúa Con và Chúa Cha thông hiệp cùng một tình yêu dành cho nhân loại. Prométhée chịu hình phạt của chúa tể trên chính tảng đá mà chúa tể đã xử phạt mình vì đã mang lửa cho loài người. Và ca đoàn lý giải các nguyên do hình phạt bằng những lời lẽ này: “Đó là kẻ thù của Zeus, kẻ đã chấp nhận sự căm hờn của mọi thần linh vì đã quá yêu loài người”. Trong Tin Mừng của Gioan, tình yêu loài người được Thiên Chúa Cha và Con cùng chia sẻ. d/ Cho dù ông Nicôđêmô đã biến mất cách lạ lùng, thì cũng một chủ đề đó kết nối phần thứ hai của bài trần thuật với phần bài mà ông có mặt: ông này, ngờ vực, đã không muốn tin rằng một người đã già có thể sinh ra lần thứ hai. Ở đây chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa trên thập giá có năng lực làm cho những ai tin vào Người được sống muôn đời.
45.Suy tôn Thánh Giá(Suy Niệm của JKN.) Dùng chính đau khổ và sự chết để giải thoát khỏi đau khổ và sự chết Câu hỏi gợi ý: 1. Đức Giêsu nói Ngài từ “trời” xuống. Vậy “trời” ở đây là gì? Có phải là không gian bao la với hàng tỷ tỷ tinh tú không? 2. “Con Người phải được giương cao” nghĩa là gì? Đức Giêsu đã dùng cách gì để cứu con người khỏi đau khổ và đem lại hạnh phúc cho họ? Nếu Ngài dùng cách ấy, thì đó có phải là cách tối ưu và hữu hiệu nhất không? Suy tư gợi ý: 1. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Đấng từ trời xuống” Chữ “trời” xuất hiện rất nhiều lần trong tất cả các sách Kinh Thánh. Nó chỉ một thực tại căn bản của tôn giáo, của đời sống tâm linh. Nhưng “trời” là gì? - Bình thường, người ta hay nghĩ trời là không gian bao la vô tận, trong đó chứa hàng tỷ tỷ tinh tú hay thiên thể như mặt trời, trái đất, trăng sao. Nghĩ như vậy thì hoàn toàn không sai, vì đó là nghĩa chính, nghĩa đen, nghĩa vật chất của chữ “trời”. Nhưng “trời” thường được nói đến trong Kinh Thánh không có ý nghĩa vật chất như vậy. Chữ “trời” với ý nghĩa vật chất chỉ là dấu chỉ, là hình ảnh tượng trưng cho một cảnh giới tâm linh tuy vô hình đối với con mắt vật chất của con người, nhưng lại có thật, thậm chí còn thật hơn cả thế giới vật chất này nữa. Thế giới vật chất này tuy kéo dài hàng tỉ năm, nhưng vẫn là một cái gì hữu hạn cả về không gian lẫn thời gian: trải rộng trong một khoảng không gian nào đó nhất định, có thời điểm sinh ra và có thời điểm bị tiêu diệt. Khi đã bị tiêu diệt, thì sự hiện hữu của nó chỉ tương tự như một hình bóng, một giấc mơ thoảng qua, tương tự như hiện nay ta nghĩ về sự hiện hữu của những ngôi sao đã tắt, hay những nền văn minh cổ đại mà người ta khám phá được những di tích của chúng dưới lòng đất. Chúng hiện hữu mà có vẻ như không hiện hữu, chẳng khác bao nhiêu so với những giấc mơ trong đêm! Cảnh giới tâm linh là cảnh giới của Thiên Chúa, của các thiên thần, mà những người có đời sống tâm linh phát triển có thể cảm nghiệm được phần nào, chẳng hạn các nhà thần bí như Phaolô (x. 2Cr 12,2), Gioan Thánh Giá, Têrêxa Avila, Meister Eckhart, hay các Kitô hữu thánh thiện khác. Đó là cảnh giới của sự sống vĩnh cửu mà thánh Phaolô mô tả: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1Cr 2,9). Người bình thường không hề có một kinh nghiệm nào về cảnh giới này, cũng chẳng có thể tưởng tượng ra được, vì nó vượt ra khỏi tất cả mọi khả năng tưởng tượng của con người, tương tự như một người mù bẩm sinh không thể có một quan niệm hay tưởng tượng nào đúng đắn về màu sắc và ánh sáng. Cảnh giới này tồn tại muôn đời, nó hoàn toàn không liên quan gì với không gian hay thời gian mà chúng ta thường quan niệm. Nói theo triết lý Ấn Độ, nó nhỏ đến nỗi một hạt bụi cũng đủ chứa nó trọn vẹn, nhưng nó cũng lớn đến nỗi cả vũ trụ bao la này cũng không chứa nổi nó. Đức Giêsu “về trời” hay “thăng thiên” là trở về với cảnh giới tâm linh này, nơi Ngài đã từ đó mà đến. Cảnh giới tâm linh sâu thẳm và vô tận này không ở đâu xa, nó hiện diện ngay trong tâm hồn chúng ta, nhưng nếu không có đời sống tâm linh sâu xa, chúng ta chẳng hề cảm nghiệm được. Ba Ngôi Thiên Chúa, Đức Giêsu hiện diện thật sự trong cảnh giới này. Theo lời Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, thì Ngài là người duy nhất đã từ cảnh giới tâm linh này đến với con người. Và Ngài đến trần gian này là để giúp chúng ta khám phá, thưởng nếm và dẫn chúng ta vào sống trong cảnh giới tâm linh bất diệt này. Chỉ khi nào khám phá và thưởng nếm cảnh giới tâm linh này, con người mới giải thoát được mọi đau khổ, mới cảm nghiệm được thế nào là hạnh phúc chân thật, thứ hạnh phúc không ai có thể lấy mất được. 2. “Con Người phải được giương cao…” Để giúp con người đi vào đời sống tâm linh, là đời sống của Thiên Chúa, hay sự sống đời đời, thì Đức Giêsu phải “được giương cao”, tương tự như con rắn đồng ở trong sa mạc thời Môsê, khi được giương cao lên, ai bị rắn cắn mà nhìn lên đó thì được chữa lành. Hình ảnh con rắn đồng được giương cao quả là đầy ý nghĩa. Tình trạng bị rắn cắn đau đớn và có thể chết người tượng trưng cho sự đau khổ tột cùng của con người. Thiên Chúa đã lấy ngay hình con rắn để trị bệnh rắn cắn, nghĩa là lấy chính đau khổ để diệt đau khổ: đó là một hình thức “dĩ độc trị độc”. Khi con rắn “được giương cao” thì nó trị được sự đau đớn do rắn cắn, điều đó có nghĩa là khi người ta hiểu được giá trị của đau khổ, khiến họ tự nguyện chấp nhận đau khổ, thì sự chấp nhận đó có thể tiêu diệt được đau khổ, chẳng những cho mình, mà cho cả người khác. Việc con rắn “được giương cao”, theo cách hiểu truyền thống, là hình ảnh Đức Giêsu bị treo lên cao khỏi mặt đất, hay bị treo trên thập giá, nghĩa là Ngài đã tự nguyện chấp nhận sự đau khổ cùng tột của con người. Nhờ đó, Ngài đem lại ơn cứu độ hay sự giải thoát khỏi đau khổ cho tất cả những ai tin vào Ngài. Đây là một bài học về một định luật trong cuộc sống: Đau khổ của con người có thể được hóa giải bằng chính việc vui lòng hay tự nguyện chấp nhận tất cả những đau khổ xảy đến với mình. Thật vậy, khi ta không còn sợ hãi đau khổ, mà sẵn sàng vui vẻ đón nhận khi nó đến với mình, thì nó bỗng mất đi hoặc bớt đi khả năng gây đau khổ. Trái lại, càng sợ đau khổ, càng muốn tránh né nó, thì nó lại càng tăng khả năng gây khổ hơn. Chính vì thế, kinh nghiệm dân gian về định luật này được tóm lại trong câu: “Ghét của nào, Trời trao của nấy”: càng ghét đau khổ, thì càng hấp dẫn đau khổ đến với mình. Về hạnh phúc cũng có phần tương tự như vậy. Càng quan tâm tới hạnh phúc của mình, càng khao khát tìm hạnh phúc, thì hạnh phúc dường như càng xa khỏi tầm tay của mình. Càng không nghĩ tới nó, không quan tâm tới nó, thì dường như nó càng dễ đến gần mình hơn, và vào trong tầm tay của mình. Đau khổ và hạnh phúc là cái gì liên quan rất mật thiết với “cái tôi” của ta. Càng coi “cái tôi” của mình là quan trọng, càng quan tâm hay chú ý tới nó, thì càng nhạy cảm với đau khổ, càng dễ đau khổ, càng thấy bị “mất mình”, “vong thân”. Trái lại, càng coi “cái tôi” của mình không là gì cả, càng ít quan tâm tới nó, thì càng dễ cảm nhận được hạnh phúc. Đây quả là một nghịch lý của sự sống. Càng sống ích kỷ, càng chỉ nghĩ đến mình, ta càng đánh mất mình, càng thấy cuộc đời là vô nghĩa, và càng đau khổ. Trái lại, càng quên mình, nhất là càng sống vị tha, ta càng thấy cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc. Đức Giêsu có nói về nghịch lý này: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25). Còn thánh Phanxicô Khó Khăn thì nói: “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (Kinh Hòa Bình). Vui lòng hay tự nguyện chấp nhận đau khổ, mất mát, thiệt thòi, nhục nhã là một hình thức xả kỷ, quên mình, “tự hủy”, đó là một hình thức “được giương cao”, “được treo lên”. Đây chính là con đường dẫn đến giải thoát mà Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta, và Ngài đã làm gương cho chúng ta: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Như vậy, Ngài đã lấy chính đau khổ của mình để diệt đau khổ cho nhân loại, lấy sự tự hạ mình để nâng con người lên, lấy cái chết của mình để đem lại sự sống cho con người. Thánh Phêrô viết: “Vì Người mang vào mình những vết thương mà anh em được chữa lành” (1Pr 2,24). Đó là cách Ngài diệt đau khổ và đem lại hạnh phúc cho chúng ta. 3. “… để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” Bài Tin Mừng viết: “Con Người phải được giương cao, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. “Được giương cao” ở đây có nghĩa là “được treo lên”, là tự nguyện chịu đau khổ và chết. Ngài đau khổ để con người hạnh phúc. Ngài chết để con người được sống. Nhưng thực ra, con người vẫn đang đau khổ và vẫn chết về mặt tâm linh. Con người chỉ hưởng được ích lợi của sự đau khổ và sự chết của Ngài khi họ tin vào Ngài. Tin vào Ngài nghĩa là gì? Chắc chắn không phải chỉ là sự tuyên bố chấp nhận Ngài là Con Thiên Chúa hay là Đấng Cứu Độ, mà là một thái độ sống chứng tỏ mình chấp nhận điều ấy. Tin rằng Ngài đã đau khổ và đã chết để đem lại ơn cứu độ hay hạnh phúc và sự sống cho nhân loại, nghĩa là tin rằng cách Ngài làm là cách tốt nhất để đem lại hạnh phúc và sự sống cho mình và mọi người. Nếu thật sự tin như thế, ta sẽ áp dụng cách đó vào trong đời sống của mình, nghĩa là sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ xảy đến, sống xả kỷ, quên mình, để nhờ đó chẳng những chính ta được hạnh phúc và còn đem lại hạnh phúc cho người khác nữa. Đó cũng chính là cách để đi vào cảnh giới tâm linh vĩnh cửu, vào sự sống đời đời mà Thiên Chúa đã hứa cho những ai yêu mến Ngài. Cầu nguyện Lạy Cha, Đức Giêsu đã dùng đau khổ để giải phóng nhân loại khỏi đau khổ, đã quên đi hạnh phúc của chính bản thân để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Nếu Ngài đã dùng cách đó, ắt đó phải là cách tối ưu và khôn ngoan nhất để giải thoát khỏi đau khổ và đem lại hạnh phúc. Do đó, nếu con tin Đức Giêsu, ắt con cũng phải bắt chước Ngài sử dụng cách đó để tự giải thoát khỏi đau khổ và tìm đến hạnh phúc, đời này cũng như đời sau. 47.Ích lợi của Thập Giá(Suy niệm của Br. BM Thiện Mỹ) Indira đến gặp đạo sĩ Makia và ngỏ lời: - Xin Ngài hãy chỉ cho tôi một thần linh để tôn thờ và một tôn giáo để sống theo. Đạo sĩ Makia liền đưa anh đến một tòa nhà rộng lớn, nơi đó mỗi vị thần được dành cho một gian phòng riêng. Dừng chân đầu tiên trước tượng thần Bátda, đạo sĩ giới thiệu: - Đây là vị thần sẽ cất hết mọi đau khổ khỏi thế giới. Nhưng Indira lắc đầu và xin được sang phòng khác. Trước vị thần thứ hai, Makia giới thiệu: - Đây là nữ thần Sophia có bí quyết giúp con người tránh được đau khổ. Nhưng Indira cũng lại xin đạo sĩ đi nơi khác. Cuối cùng hai người đến trước một vị thần bị treo trên thập giá. Indira tò mò hỏi: - Vị thần này là ai mà bị treo trên thập tự giá như thế? Đạo sĩ chậm rãi trả lời: - Đây là thần của những người Kitô. Với xúc động lộ trên mặt, Indira xin đạo sị giải thích thêm về những gì cần phải làm để trở thành môn đệ của Đấng chịu treo trên thập tự. Đạo sĩ ngạc nhiên hỏi: - Này anh Indira, anh làm tôi thắc mắc. Hai vị thần anh gặp trước, một vị đề nghị giúp tránh đau khổ, thế mà anh không thích vị nào. Tại sao anh lại thích và muốn làm đồ đệ của vị chết nhục nhã trên thập tự như thế! Indira giải thích: - Hứa làm mất đi đau khổ trên trần gian là hứa suông, vì người ta không thể nào cất đi được đau khổ. Và dậy con người tránh đau khổ là dạy con người sống thấp hèn, và người ta cũng không cách nào tránh đau khổ được. Nhưng nhìn vào vị thần của người Kitô chấp nhận đau khổ trên thập tự, tôi hiểu được ý nghĩa của đau khổ và chấp nhận nó. Rồi một khi người ta hiểu và chấp nhận đau khổ thì niềm vui và an hòa sẽ trổ sinh trên thế giới này. Đó là lý do tôi bị thu hút bởi Đấng chịu treo trên thập tự kia và muốn làm môn đệ ngài... (Trích “Món quà Giáng Sinh”). Thánh giá lúc nào cũng xảy ra trên thế giới: Theo tin tức báo chí Việt Nam, hiện nay châu âu nắng nóng đến khinh người, nhiệt độ tăng vọt ở một số nước. Chẳng hạn tại thành phố Roth, bang Bavaria nước Đức là 40,40 C; thành phố Turin nước Ý là 41,6 0C; và ở Tây Ban Nha có nơi nóng đến 480C; lửa bốc cháy 54.000 hecta rừng, nhiều dòng sông khô cạn. Với mọi biện pháp giải nhiệt ở tư gia, nơi công cộng có mạch nước phun, các hồ bơi, dòng sông, bãi tắm biển v.v. thế mà riêng tại nước Pháp nhiệt độ nóng bức đã thiêu đốt chết khoảng trên mười ngàn người. Tiếp đến là cuộc chiến ở Afganistan và Iraq vẫn còn nhiều xung đột. Cuộc đảo chánh của quân nổi dậy ở Liberia đầy căng thẳng. Mới đây lại xảy ra cuộc khủng bố tại khách sạn Marriot với 33 tầng lầu ở khu trung tâm thủ đô Jakarta nước Indonesia. Chuyện xung đột về vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên. Cuộc chiến liên tục giữa Israel với Palestine và các nước lân cận. Ngoài ra còn có đau khổ giai giẳng về bệnh tật: Bệnh phong hủi có từ nhiều nghìn năm để lại cũng như những bệnh mà y tế thế giới đang phải bó tay và lây lan khủng khiếp như bệnh Aids, bệnh Sars v.v. Ôi! Thánh Giá là Thánh Giá, cho đến bao giờ mới kể hết được những đau khổ trên đời. Những Thánh Giá trên mới chỉ là tổng quát bên ngoài, còn nhiều Thánh Giá khác do ác tâm con người gây nên như: gian tham, trộm cắp, giết người, hiềm thù, chia rẽ, ghét ghen, trai gái, thuốc xái... gây nên hỗn loạn trong xã hội. Nói tóm lại Thánh Giá luôn gắn liền với cuộc sống con người. Hôm nay là ngày lễ suy tôn Thánh Giá, chúng ta hãy ngắm nhìn lên gương Chúa Giêsu. Ngài không trốn tránh Thập Giá. Ngài xuống trần gian không phải để lên án thế gian, bắt thế gian vác Thập Tự Giá đúng như việc đền tội mà thế gian phải chịu do án phạt của tội nguyên tổ. Ngài xuống trần gian để cứu độ con người, hình ảnh Thập Giá giải thoát con người khỏi tội lỗi đã được loan báo trước từ thời cựu ước khi ông Moisen làm một con rắn bằng đồng và treo lên cây cột, hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng đó thì được cứu sống. Còn chính Ngài sẽ bị tan nát như sách tiên tri Isaia đoạn 53 mô tả về Ngài để gánh lấy tội trần gian. “Qủa vậy Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian để thế gian nhờ con của Người mà được cứu độ” (cf. Jn.3,17). Do đó tất cả những sướng vui ở đời này Ngài đã không hưởng dụng, ngược lại Ngài chuốc lấy đau khổ trong cuộc sống: Sinh ra trong mùa giá rét, vác Thánh Giá trong mùa nóng bức. Ngài biến đổi Thánh Giá ở đời này thành của lễ đền tội và ơn tha thứ. Đây là chiến thắng của tình yêu thương thế gian, một tình yêu vượt trên mọi tình yêu, Ngài đã yêu thương đến cùng, Ngài yêu thương tha thiết nhất lúc chịu đóng đinh và trút hơi thở cuối cùng trên Thánh Giá. Là môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải luôn bước theo chân Ngài lên đỉnh đồi Canvê, trên đồi cao đó có Đức Mẹ là người đã thông phần đau khổ cách da diết nhất, vì chính Mẹ đã sinh ra người con vác Thập Tự đẫm máu. Mẹ đã được gọi vào nhiệm cuộc thông phần khổ nạn của Chúa Giêsu như lời ông Simeon đã nói về Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Luc. 2,35). Theo gương Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc, chúng ta cũng phải biến đổi Thánh Giá ở đời này thành những hiệu quả của ơn cứu chuộc mà Chúa Giêsu đã lập. Như giọt nước biến tan trong rượu nho, chúng ta cũng hợp những hy sinh của ta với đau khổ của Chúa Giêsu, làm thành của lễ dâng lên Thiên Chúa Cha, để sinh ích cho linh hồn mình và cho muôn ngàn vạn triệu các linh hồn khác trên thế giới.
|
|