3.
Mau qua chóng tàn - Anmai, CSsR
4.
Phẩm chất đầu tiên của người môn đệ
5. Sống
và chia sẻ niềm tin – Thiên Phúc
8.
Hoa Hướng Dương - Lm Jos Tạ Duy Tuyền
11.
Năm mới người mới cả trời đất
mới
12.
Theo Chúa từ bỏ tất cả – Cố Lm. Hồng Phúc
14.
Theo Chúa Giêsu, sám hối để hiệp nhất
15.
Sám hối và tin vào Tin Mừng – Radio Veritas Asia
21.
Đổi mới cuộc đời – ĐTGM. Giuse Ngô Quang
Kiệt
23.
Chúng ta làm ǵ với Lời Chúa.
27.
Phaolô Vị Tông Đồ hăng say rao giảng Tin Mừng
28.
Người ta không phải đương nhiên là Kitô hữu,
30.
Mănh lực của niềm tin - Lm. Minh Vận, CMC
34.
Hăy đến theo Tôi – Lm. Mark Link
35.
Điều kiện gia nhập nước Thiên Chúa
36.
Suy niệm của Lm. Phạm Đức Trị
37.
Tuyển quân – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn
39.
Nh́n về tương lai - Lm. Jos Nguyễn Hữu An
40.
Hăy hối cải và tin vào Tin Mừng.
42.
Đức Giêsu hành động nhờ trung gian các môn đệ
43.
Chương tŕnh cách mạng toàn thiện - ViKiNi
CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN B
Lời Chúa: Gn 3,1-5.10; 1Cr 7,29-31; Mc 1,14-20
MỤC LỤC
Một trong những ưu tư của Chúa
Giêsu trong quăng đời công khai, đó là kêu gọi,
tuyển chọn và huấn luyện các tông đồ. Chính
v́ thế, trong một vài phút ngắn ngủi này, chúng ta cùng
nhau t́m hiểu về sinh hoạt trong một ngày của
Chúa Giêsu và nhóm Mười Hai.
Chúa Giêsu có thói quen thức dậy rất
sớm. Ngài thường chọn một nơi thanh
vắng để cầu nguyện. Sau đó, có khi Ngài
căn dặn các ông và sai các ông đi thực tập truyền
giáo. Có khi Ngài cùng đi với các ông, vừa đi vừa
đàm đạo thân mật, nhất là Ngài thường
cắt nghĩa cho các ông hiểu rơ những điều Ngài
đă giảng dạy, bằng những h́nh ảnh và ngôn
ngữ đơn sơ.
Khi nghe biết Chúa Giêsu tới một làng hay
một thành nào đó, người ta thường đem
tới cho Ngài đủ mọi thứ bệnh nhân
để xin Ngài cứu chữa. Và Ngài đă dành nhiều
thời giờ để xoa dịu những đớn đau
của họ.
Ngoài ra, Ngài c̣n tiếp xúc với bọn
biệt phái, với những người mẹ và con cái
của họ, cũng như với những kẻ tội
lỗi và đau khổ. Ngài tiếp nhận hết mọi
người và giảng giải cho họ biết về Tin
Mừng Ngài loan báo. Chúa Giêsu và các môn đệ thường
dùng bữa với nhau. Tuy nhiên, cũng có những ngày quá
bận rộn, không có cả thời giờ để
ăn uống. Khi chiều xuống, Chúa Giêsu thường
đề nghị các môn đệ rút vào một nơi thanh
vắng để cầu nguyện và nghỉ ngơi
với Ngài.
Một trong những đặc tính nổi
bật của nhóm Mười Hai này là t́nh yêu thương.
Chính t́nh yêu thương này đă nối kết các ông
lại với nhau, cũng như đă nối kết các
ông lại với Chúa Giêsu.
Thực vậy, chính Chúa Giêsu đă yêu
thương các ông. Đi tới đâu, Ngài cũng mang các
ông theo. Ngài muốn các ông cùng chia sẻ những vui
buồn, những thành công và thất bại với Ngài. Ngài
lo lắng đến sức khỏe thể xác cho các ông.
Ngài dẫn các ông tới những nơi hoang vắng
để nghỉ ngơi. Ngài chuẩn bị để các
ông không phải thiếu thốn. Và vào buổi sáng sau ngày
Phục sinh, chính Ngài đă dọn bữa cho các ông trên
bờ biển.
Đồng thời, các tông đồ cũng
đă dành cho Ngài những hành động yêu thương và
chăm sóc. Thực vậy, khi Ngài nói chuyện với
người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Giacóp,
th́ các ông vào làng mua thức ăn và mời Ngài dùng bữa.
Sau những lần đi thực tập truyền giáo, các
ông vui mừng trở về gặp Chúa và kể lại cho
Ngài nghe biết những thành quả đă thu lượm
được. Các ông đau buồn khi nghe Chúa tiên báo
về cái chết của Ngài. Nh́n thấy các ông, có lẽ
người ta phải thốt lên: Ḱa xem họ yêu
thương nhau biết là chừng nào.
Noi gương Chúa Giêsu và các tông đồ,
chúng ta cũng hăy gieo rắc tinh yêu thương cho những
người đang sống chung quanh chúng ta, bắt
đầu từ gia đ́nh, rồi đến bà con
lối xóm. Bởi v́ sứ mạng của chúng ta là giúp
mọi người biết cảm thông, chia sẻ và yêu
thương. Muốn được như vậy, bản
thân và cuộc đời chúng ta phải trở nên một
lời mời gọi mọi người đến cùng t́nh
yêu, hay nói cách khác là đến cùng Thiên Chúa, vi Thiên Chúa là T́nh
yêu.
Sống là chọn lựa. Chọn lựa
từng giây phút trước những hành động
cuộc đời chúng ta. Và chọn lựa trước
hết là ǵ? Nếu phải từ bỏ. Thực vậy,
nếu muốn lên Saigon, th́ phải từ bỏ con
đường xuống Rạch Giá. Nếu muốn
học giỏi, th́ phải từ bỏ những tháng ngày
lăng phí thời gian. Nếu muốn làm làm giàu, th́ phải từ
bỏ sự ươn lười, nhàn rỗi. Nếu
muốn được cha mẹ yêu thương, th́
phải từ bỏ những ǵ làm cho các ngài buồn ḷng.
Sống là chọn lựa và chọn lựa có nghĩa là
từ bỏ.
Tiến vào đời sống siêu nhiên cũng
thế. Muốn theo Chúa, muốn đáp trả lời
mời gọi của Chúa, chúng ta phải chọn lựa,
chúng ta cũng phải từ bỏ. Abraham ngày xưa
đứng trước lệnh truyền của Chúa, ông
đă phải từ bỏ quê hương và sự
nghiệp để dấn thân vào một cuộc phiêu
lưu không định hướng. Hơn thế nữa,
ông c̣n sẵn sàng từ bỏ cả đứa con duy nhất,
sẵn sàng sát tế Isaác để làm lễ vật dâng
kính Thiên Chúa. Các tông đồ ngày hôm nay cũng vậy. Các
ông đă bỏ cha già, bỏ gia đ́nh, bỏ ghe
thuyền, bỏ chài lưới nghĩa là các ông đă
từ bỏ tất cả để lên đường
theo Chúa. Hay như Phanxicô Khó Khăn, đă từ bỏ
đến cả manh áo che thân trước sự ngăn
cản của gia đ́nh để được hoàn toàn
tự do bước theo Chúa.
Từ bỏ gia đ́nh, từ bỏ tiền
bạc, từ bỏ thời giờ để theo Chúa
đă là một chuyện khó, nhưng điều quan
trọng hơn Chúa đ̣i chúng ta phải từ bỏ,
đó là từ bỏ chính bản thân ḿnh. Những sợi
dây níu kéo chúng ta lại với mặt đất, những
chướng ngại vật ngăn cản bước chân
chúng ta theo Chúa, đó là những thói hư tật xấu,
những đam mê tiền bạc hay những khát vọng
không chính đáng. Để bước theo Chúa, việc
đầu tiên mà chúng ta phải thực hiện đó là
dứt bỏ những níu kéo ấy, là khử trừ
những khuynh hướng lệch lạc, là từ bỏ
những ước vọng trần tục. Từ bỏ
tiền bạc, từ bỏ tiện nghi vật chất
đă là chuyện khó, nhưng chưa đến nỗi cam
go v́ tiền bạc và vật chất là những cái c̣n
ở bên ngoài chúng ta. Chứ từ bỏ những đam
mê, những ước muốn xấu xa mới là
chuyện cam go v́ đam mê, và ước muốn bén rễ
sâu trong con tim chúng ta. Nó làm thành chính bản tính, chính bộ
mặt thực sự, chính cái phần sâu thẳm nhất
nơi mỗi người chúng ta. Và đó cũng chính là
điều mà Chúa đ̣i buộc chúng ta phải từ
bỏ.
Nhưng tại sao chúng ta phải từ
bỏ? V́ Chúa Giêsu đă dạy: Con đường vào
Nước Trời th́ nhỏ hẹp. Con đường
nhỏ hẹp ấy chẳng phải là ngơ cụt,
nhưng nó sẽ dẫn chúng ta đến hạnh phúc,
đến biển cả của t́nh yêu là chính Thiên Chúa.
Đă là một con đường nhỏ hẹp th́ chúng ta
không thể bước đi trên đó với những hành
lư cồng kềnh. Và những hành lư cồng kềnh
của chúng ta là ǵ nếu không phải là tiền bạc,
vật chất, đam mê, khát vọng và thói hư tật
xấu. Chúng ta phải từ bỏ th́ mới có thể
tiến bước. Như một người leo núi
chỉ mang theo những dụng cụ tối thiểu
nhưng cần thiết, nếu không th́ người ấy
măi măi chỉ ở dưới chân núi mà thôi. Hơn nữa
Chúa Giêsu cũng đă nhắn nhủ: Nếu ai muốn
cứu mạng sống th́ sẽ mất, nghĩa là nếu
chúng ta cứ bấu víu vào những thực tại trần
thế, nếu chúng ta cứ nắm chặt lấy
cuộc sống vật chất, th́ chắc chắn chúng ta
sẽ đánh mất cuộc sống vĩnh cửu. Chúng
ta phải từ bỏ th́ mới có thể được
sống, như hạt lúa gieo trên ruộng đồng,
phải mục nát th́ mới đâm bông kết trái.
Một khi đă dứt bỏ được
những níu kéo bên ngoài, một khi đă dứt khoát bỏ
được những vấn vương bên trong. Một
khi đă từ bỏ được những quyến
luyến trần thế, một khi đă từ bỏ
được những khát vọng bất chính, lúc bấy
giờ chúng ta sẽ như một cánh chim bay bổng về
với Chúa, lúc bấy giờ chúng ta mới chính thức
chọn lựa Chúa. Bấy giờ chọn lựa sẽ
không chỉ c̣n là một từ bỏ mà chọn lựa c̣n
có nghĩa là nói chấp nhận.
Thực vậy, chúng ta chấp nhận Chúa,
chúng ta chấp nhận con đường nhỏ hẹp,
chúng ta chấp nhận thập giá trong cuộc sống.
Muốn được như vậy th́ chúng ta phải có
một t́nh yêu, yêu mến Thiên Chúa, và với hương
vị của t́nh yêu, chúng ta sẽ thắng vượt
được mọi khó khăn. Với Chúa đi trong
cuộc sống, chúng ta không c̣n bị thất bại. chúng
ta sẽ thâu lượm những kết quả tốt
đẹp như mẻ lưới lạ lùng của các
môn đệ.
Chúng ta hăy cầu nguyện cho nhau, để
mỗi người biết dẹp bỏ những cản
trở trong cuộc sống, và để từng giây phút
chúng ta chọn lựa, chúng ta chấp nhận và chúng ta
bước theo Chúa.
Tác giả Thánh Vịnh 39 thỏ thẻ
với Chúa những lời nguyện sau đây:
"Lạy CHÚA, xin dạy cho con biết:
đời sống con chung cuộc thế nào,
ngày tháng con đếm được mấy
mươi,
để hiểu rằng kiếp phù du là
thế.
Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho
một vài gang tấc,
kiếp sống này, Chúa kể bằng không.
Đứng ở đời, thật con
người chỉ như hơi thở,
thấp thoáng trên đường tựa bóng
câu.
Công vất vả ngược xuôi: làn gió
thoảng,
ky cóp mà chẳng hay ai sẽ hưởng
dùng." (Tv 39, 5-7)
Mới nghe qua ta thấy Thánh Vịnh này sao
đượm một chất buồn: đời của
con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng
trên đường tựa bóng câu mà thôi! Buồn có buồn
thật nhưng đó chính là thực tế, là sự bi
đát, là sự mong manh của phận người. Đă
sinh ra, đă cất tiếng khóc chào đời th́ ắt
hẳn đến một ngày nào đó cũng phải ra
đi để về với Cội Nguồn.
Bài hát Khúc Thuỵ Du cũng nhắc nhớ ta
về phận con người:
Hăy nói về cuộc đời
Khi tôi không c̣n nữa
Sẽ lấy được những ǵ
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi!
Có nghịch lư chăng khi cuộc đời
đang phơi phới dệt không biết bao nhiêu là
mộng vàng lại đi nói đến cái chết, nói
đến cái thời cùng tận. Thoạt tiên xem ra th́
nghịch lư nhưng nh́n vào thực tế của cuộc
đời chẳng nghịch lư chút nào cả. Không
nghịch lư v́ lẽ đó là định luật tự
nhiên của con người. Có sinh ắt có tử chứ có
ai sống măi trên cuộc đời này chăng?
Có nhiều người thắc mắc
hỏi rằng tại sao con người sống chỉ có
thế thôi, nghĩa là họ muốn kéo dài thêm tuổi
thọ. Cũng tốt thôi, chẳng ai không mong ḿnh sống
thọ cả nhưng nh́n vào thực tế tuổi hưu
là 60 hay 65 ǵ đó tuỳ người là nam hay nữ. Chúng
ta thấy đó, ở cái tuổi 70, 80 có làm ǵ
được nữa hay chăng? Khi nói về vấn
đề tuổi thọ, người ta lại
đặt vấn đề về chuyện người
già nhiều quá bỗng nhiên trở nên gánh nặng cho xă
hội!?!?!
Kết cục con người rồi cũng
phải chết nhưng quan trọng chết cách nào và
biết khi nào ḿnh chết.
Chẳng ai có thể biết được
ḿnh chết cả. Nếu biết trước th́ đâu có
ǵ để mà nói v́ lẽ mạng sống con người
tuỳ thuộc vào Thiên Chúa.
Với con mắt của người
đời, đau khổ khi con người vướng
vào bệnh ung thư, bệnh nan y nhưng thật sự ra
những ngày nằm trên giường bệnh cũng là
thời gian, cũng là cơ hội để con
người nh́n lại những lầm lỗi, những
yếu đuối của ḿnh để ăn năn sám
hối. Cứ tưởng những người đó là
sấu số hay kém số nhưng những người đó
có cơ may để nh́n lại chính ḿnh, nh́n lại
cuộc đời của ḿnh.
Dân thành Ninivê thời ngôn sứ Giôna với cái
nh́n của người đời th́ thật kinh khủng
v́ được báo trước cái chết 40 ngày nhưng
thật sự 40 ngày đó với Ninivê quả thật là có
ư nghĩa. Thiên Chúa nói rằng nếu trong 40 ngày đó
chịu sám hối th́ dân thành Ninivê sẽ không giáng hoạ
bởi Thiên Chúa nữa. Hạnh phúc thay khi được
báo trước cái chết để chuẩn bị tâm
hồn.
Lời nhắn nhủ của thánh Phaolô trong
thư thứ nhất của Ngài gửi tín hữu Côrintô
cũng chính là lời mà Ngài nhắc nhở mỗi
người chúng ta: "Thưa anh em, tôi xin nói với anh em
điều này: thời gian chẳng c̣n bao lâu. Vậy
từ nay những người có vợ hăy sống như
không có; ai khóc lóc, hăy làm như không khóc; ai vui mừng, như
chẳng mừng vui; ai mua sắm, hăy làm như không có ǵ
cả; kẻ hưởng dùng của cải đời
này, hăy làm như chẳng hưởng. V́ bộ mặt
thế gian này đang biến đi". (1 Cr 7, 29-31).
Đúng như vậy th́ thời gian
đối với mỗi người chúng ta cũng
đang qua đi. Mỗi một lần mừng sinh nhật
hay mừng năm mới gọi là mừng nhưng với
tôi th́ "buồn". "Buồn" v́ lẽ qua
một năm, thêm một tuổi cũng chính là thời
gian mà ḿnh phải về tŕnh diện trước mặt
Thiên Chúa nó gần hơn một chút. Thi thoảng nh́n
lại tuổi của mấy đứa cháu ở nhà tôi
lại thấy giật ḿnh v́ ḿnh quá "già". Mới
ngày nào đó mà đứa cháu mà ḿnh từng ẵm, từng
tung cho cháu đụng cái trần nhà th́ nay chúng nặng
gần bằng số kư của ḿnh. Thời gian cứ qua
đi và nó chẳng chờ đợi một ai cả.
Một ngày qua đi là một ngày mà ḿnh gần Chúa hơn,
một ngày mà ḿnh phải trả lẽ trước mặt
Thiên Chúa mọi hành vi của ḿnh.
Thánh Phaolô thật tâm lư khi khuyên chúng ta:
những người có vợ sống như không có, khóc làm
như không khóc, vui làm như không vui, sắm như không
sắm ... Ngài có ư mời gọi chúng ta hăy dùng những
thực tại của trần gian này như là chuyện
b́nh thường, chuyện quan trọng là chúng ta phải
thanh thản trước mặt Thiên Chúa với tất
cả những ǵ bám víu của chúng ta trong trần gian này.
Ngài không bảo người có vợ phải bỏ vợ,
người vui phải khóc, người có của cải
trần gian phải bỏ đi hết nhưng ngài bảo
mỗi người chúng ta hăy thanh thản trước
những ǵ gọi là của chúng ta, thuộc về chúng ta.
Cũng đúng thôi, dẫu là vợ nhưng khi chết chúng
ta có mang theo được chăng? Dẫu là cái nhà lầu
5 tầng ở mặt tiền đàng hoàng nhưng khi
nhắm mắt xuôi tay mang theo được ǵ? Dẫu là chiếc
xe con đời mới cáu cạnh mới sắm trong thùng
đấy nhưng mà có mang theo được về bên kia
thế giới hay không mới là chuyện quan trọng.
Thật sự, tất cả danh vọng,
quyền cao chức trọng đều mong manh và mau qua
chóng tàn khi ta nhắm mắt ĺa đời.
Các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay
nhắc nhở cho chúng ta tất cả mọi chuyện
đều mau qua chóng tàn. Ngôn sứ Isaia nói thế, thánh
Phaolô nói thế và Chúa Giêsu cũng nói như vậy trong cái
ngày khởi đầu việc rao giảng Tin mừng
của Ngài. Mở đầu cho lời rao giảng là
lời mời gọi sám hối phải chăng là lời
đùa cợt hay hù doạ? Chẳng đùa cợt mà
cũng chẳng hù doạ v́ đó là sự thật.
Chúa Giêsu mời gọi mỗi người
chúng ta hăy sám hối và tin vào Tin mừng v́ Nước
Trời đă đến gần. Nước Trời
thật sự đă đến, đang đến rồi.
Nước Trời cũng sẽ đến với
từng người một trên chúng ta. Chúa Giêsu hơn
một lần nói với các môn đệ cũng như
mỗi người chúng ta: "anh em hăy đứng
vững trước mặt Con Người!".
Làm sao để đứng vững
trước mặt Con Người như Chúa nói?
Để có thể đứng vững trước
mặt Con Người phải chăng như là lời
Thánh Phaolô mời gọi chúng ta là chúng ta hăy nh́n vào sự
thật là bộ mặt thế gian này sẽ qua đi,
chỉ có ḿnh Chúa mới là cùng đích, là căn cốt
của cuộc đời chúng ta.
Chuyện quan trọng không phải là
chuyện sống được bao nhiêu năm trong
cuộc đời này nhưng chuyện quan trọng là
sống bao nhiêu năm ấy như thế nào.
Chuyện quan trọng không phải là làm
được bao nhiêu việc lành phúc đức nhưng
là sống t́nh yêu với Chúa và với anh chị em
đồng loại như thế nào. Không phải căn
cốt là làm phúc làm đức nhưng phải sống cái
phúc cái đức ấy trong đời thường.
Chuyện quan trọng không phải là
được ngụ trong căn nhà cao cửa rộng
ở cuộc đời tạm bợ mau qua chóng tàn này
nhưng quan trọng là làm sao có một túp lều be bé con con
trong mảnh đất Thiên Đàng.
Chuyện quan trọng không phải là thành công
trong cuộc đời này nhưng chuyện quan trọng là
được cứu độ hay hư mất mà thôi.
Muốn được hưởng ơn
cứu độ, muốn được b́nh an thật
trong tâm hồn không c̣n cách nào khác là ta phải bám vào Chúa
chứ đừng bám vào của cải trần gian mau qua
chóng tàn này. Chúng ta đă có thừa kinh nghiệm để
nh́n vào những đấng những bậc xung quanh chúng ta.
Tất cả những đấng những bậc anh hùng
nay đâu rồi? Tất cả những người
quyền quư cao sang nay c̣n đâu khi phải đón nhận
cái chết đang ŕnh rập ḿnh.
Nhớ lại một câu chuyện đơn
sơ của một vị thiền sư bên Trung Quốc.
Trên bàn làm việc của ông lúc nào cũng có chiếc quan tài
con. Mọi người vào thấy là lạ và thắc
mắc tại sao có chiếc quan tài ấy. Thiền sư
nói rằng sở dĩ tôi để như thế
để tất cả mọi việc trước khi tôi
quyết định tôi đều nh́n đến chiếc
quan tài này. Một ngày nào đó tôi sẽ vào đó và nằm
trong đó để rồi tất cả các quyết
định của tôi đều dựa vào cùng đích
của cuộc đời tôi.
Tư tưởng, hành động đơn
sơ của vị thiền sư ấy thật dễ
thương v́ lẽ hành vi, tư tưởng ấy
cũng như muốn nói với mỗi người chúng ta
về sứ điệp của Chúa Giêsu ngày hôm nay là
phải sám hối v́ Nước Trời đă gần bên.
Lời mời gọi của Chúa vẫn văng vẳng bên
tai chúng ta nhưng đôi khi măi mê với những thế
sự thăng trầm để rồi chúng ta không c̣n
nhớ đến cùng đích của cuộc đời
chúng ta nữa.
Nguyện xin Chúa đến và ở lại
với chúng ta và xin Chúa giúp cũng như nhắc nhở
chúng ta về ngày cùng tận của chúng ta ở gần bên
để chúng ta cũng sám hối như dân thành Ninivê
xưa sám hối trước lời cảnh báo của ngôn
sứ Giôna vậy.
(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm.
Ignatiô Trần Ngà)
Khi bắt đầu thời kỳ công khai
lên đường thi hành sứ vụ, việc đầu
tiên Chúa Giêsu làm là tuyển chọn một số môn
đệ ṇng cốt để tiếp tay và nối gót
Người rao giảng Tin Mừng và xây dựng Hội
Thánh.
Đây là một nhiệm vụ vô cùng
trọng đại cao cả nhưng đồng thời
cũng đầy gian truân và thách thức, thế nên
cần phải tuyển cho được những ứng
viên phù hợp.
Trong các thành phần dân chúng thời đó,
chúng ta thấy nổi bật nhất là các tư tế
ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Họ là những
người ngày đêm ứng trực trong đền
thờ lo việc thờ phượng tế lễ Thiên
Chúa. Xem ra họ là những ứng viên sáng giá nhất cho
công cuộc loan báo Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh.
Thế nhưng Chúa Giêsu đă không chọn bất cứ ai
trong số các vị ấy làm tông đồ xây dựng
Hội Thánh Người.
Kế đó, thành phần Luật sĩ,
những người học rộng và thông thạo thánh
kinh. Có ai xứng đáng hơn họ trong việc giải
thích và loan truyền Lời Chúa? Có ai giàu kiến thức
về đạo lư bằng họ? Thế mà Chúa Giêsu
cũng không chọn một ai trong số các vị nầy
làm tông đồ của Người.
Thành phần thứ ba cũng rất sáng giá là
các người biệt phái. Họ giữ luật rất
nhiệm nhặt, có đời sống đạo rất
nghiêm túc. Những người như thế cũng đáng
làm đầu thiên hạ và lănh đạo người ta.
Thế mà Chúa Giêsu cũng không chọn bất cứ
người biệt phái nào làm tông đồ cho Người.
Chúa Giêsu cũng không chọn những
người có vai vế trong xă hội, những
người giàu sang quyền quư làm môn đệ đầu
tiên của Người.
Tin Mừng hôm nay cho thấy sự chọn
lựa của Chúa Giêsu khiến chúng ta kinh ngạc:
"Người đang đi dọc theo
biển hồ Ga-li-lê, th́ thấy ông Si-môn với
người anh là ông An-rê, đang quăng lưới
xuống biển, v́ họ làm nghề đánh cá.
Người bảo họ: "Các anh hăy theo tôi, tôi sẽ
làm cho các anh thành những kẻ lưới người
như lưới cá." Lập tức hai ông bỏ chài
lưới mà đi theo Người.
Đi xa hơn một chút, Người
thấy ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông
Gioan. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền.
Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha ḿnh là
ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những
người làm công, mà đi theo Người."
Chúa Giêsu đă chọn bốn ngư phủ là
Simon, An-rê, Gioan, Giacobê, làm môn đệ đầu tiên trong
lúc họ đang quăng chài kéo lưới hoặc đang
vá lưới trong thuyền. Tại sao?
Các ngư phủ là những người
dạn dày sương gió. Họ quen chịu giá lạnh
giữa biển khơi; từng trải qua những đêm
tối giữa sóng gió trùng khơi; không sợ đói, không
sợ rét, không sợ băo tố cuồng phong, không sợ
cảnh chơi vơi giữa ba đào sóng gió. Nói chung,
họ bất chấp mọi khó khăn, gian khổ và
nghịch cảnh để đạt cho bằng
được nguyện vọng của ḿnh.
Họ là những người đầu tiên
được Chúa Giêsu chiếu cố và mời gọi làm
môn đệ loan Tin Mừng, làm những trụ cột ṇng
cốt trong công tŕnh xây dựng Hội Thánh.
Điều nầy cho thấy phẩm
chất đầu tiên để làm môn đệ Chúa Giêsu
là không ngại gian truân, sẵn sàng hy sinh để thực
hiện mục tiêu mong muốn.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đă kêu gọi chúng con làm tông đồ
cho Chúa trong xă hội hôm nay. Xin ban ơn giúp chúng con sẵn
sàng vượt khó, dám đương đầu với
mọi thách thức và sóng gió như các môn đệ
đầu tiên hầu có thể chu toàn trọng trách mà Chúa và
Hội Thánh trao phó cho chúng con.
(Trích trong ‘Như Thầy Đă Yêu’)
Đức Tổng Giám Mục Helder Camara
của Braxin, có lần đă chia sẻ kinh nghiệm như
sau:
Tôi có người anh lớn hơn tôi 5
tuổi, đă rửa tội từ lúc mới sinh, và
từng theo học nhiều năm trong trường ḍng.
Nhưng lớn lên anh bắt đầu bê trễ, bỏ
đọc kinh, bỏ dự lễ, và cuối cùng bỏ...
đạo.
Sau khi tôi thụ phong Linh mục, anh cùng
với tôi sống chung với người chị
độc thân. Mỗi lần biết tôi sắp đi
giảng tĩnh tâm, anh lại hỏi:
- Hôm nay chú nói về đề tài ǵ?
Tôi lại có dịp giải thích cho anh
những điều ḿnh sắp giảng. Anh chỉ
lắng nghe, không b́nh luận.
Tám năm sau, anh bị mắc căn bệnh
hiểm nghèo. Biết ḿnh sắp chết, anh gọi tôi
lại và nói.
- Lâu nay tôi để ư quan sát, thấy không có
sự cách biệt giữa lời chú giảng và việc chú
làm. Vậy xin hỏi chú, tôi có thể dựa vào Đức
tin của chú để Rước lễ không?
Tôi trả lời:
- Em tin là Chúa ḷng lành vô cùng sẽ đoái
thương anh.
Bấy giờ anh tôi nói trong nỗi xúc
động:
- Ngay bây giờ th́ chưa được
đâu, v́ tôi chưa xưng tội.
Tôi định t́m cho anh một linh mục khác
nhưng anh đ̣i xưng tội với tôi. Sau khi
Rước lễ xong, anh thều thào trong nước
mắt.
- Tôi tin, tôi tin, chú ạ. Bây giờ tôi tin không
phải dựa vào Đức tin của chú, mà tôi thực
sự xác tín rằng Chúa yêu thương tôi!
***
Sống và chia sẻ niềm tin, đó là
cốt lơi đời sống người tín hữu Kitô.
Đó cũng là mối quan tâm hàng đầu của
Đức Giêsu khi Người bước vào đời
công khai rao giảng: “Hăy theo Ta, Ta sẽ làm cho các
người trở thành những kẻ chài lưới
người” (Mc 1,17).
Muốn thu hút tha nhân th́ chính ḿnh phải có
năng lực hấp dẫn.
Muốn ḥa hợp với anh em th́ chính ḿnh
phải biết chấp nhận mọi người.
Muốn chia sẻ niềm tin th́ chính ḿnh
phải có niềm tin kiên vững.
Sống và chia sẻ niềm tin, bao giờ
cũng đem lại kết quả tốt đẹp.
Nhưng kết quả thế nào, nhiều hay ít, vào lúc nào
c̣n do Chúa quyết định Khi Đức Giêsu bảo
Phêrô thả lưới, ông đă thưa: “Lạy Thầy,
chúng con vất vả suốt đêm mà chẳng
được con cá nào, nhưng vâng lời Thầy, con xin
thả lưới” (Lc 5,5). Kết quả thế nào chúng ta
đă biết: cũng chiếc lưới đó, cũng
ngư phủ đó, nhưng lại kéo lên một mẻ cá
bội thu.
Sống và chia sẻ niềm tin, là nhiệm
vụ của mỗi người tín hữu Kitô. Nhưng
trước tiên phải bắt đầu bằng việc
đổi mới tâm hồn, bằng việc “sám hối và
tin vào Tin mừng”.
Sống và chia sẻ niềm tin, là đem tin
vui đến cho mọi người. Nhưng trước
hết tin vui ấy phải là niềm hân hoan đích
thực, gây xúc động mănh liệt trong ḷng người
đi loan báo.
Romano Guardini đă ví von: “Sống niềm tin
nghĩa là đơn phương nhường chỗ cho
Đức Kitô tự biểu lộ và lớn lên trong
cuộc sống chúng ta”.
Lạy Chúa, theo Chúa không phải dễ dàng v́
Chúa đ̣i chúng con phải từ bỏ mọi sự,
từ bỏ luôn măi, và từ bỏ chính ḿnh. Nhưng có Chúa
cùng đồng hành chúng con vẫn sáng măi niềm tin. Xin giúp
chúng con luôn trung thành theo Chúa cho đến giây phút cuối
cuộc đời. Amen.
Chúa Giêsu luôn kêu gọi những người
cộng tác với Ngài trong sứ mạng rao giảng Tin
Mừng. Ngài muốn Nước Trời là một công tŕnh
có sự đóng góp của nhiều người. V́ thế,
Lời kêu gọi "Hăy theo Ta" đang vang lên
đối với mỗi người chúng ta.
Khởi đầu Tin Mừng, thánh sử
Maccô tŕnh bày Chúa Giêsu đến miền Galilêa rao giảng
Tin mừng. Chúa Giêsu không chọn Giêrusalem cho cuộc
khởi đầu trong công cuộc rao giảng của ḿnh.
Bởi v́, Giêrusalem giết Gioan Tẩy Giả. Các luật
sĩ Biệt phái ở Giêrusalem th́ kiêu căng, cố
chấp. Họ tự phụ ḿnh là ḍng dơi được
tuyển chọn. Hơn nữa, Giêrusalem coi thường
vùng đất Galilêa v́ Galilêa là một miền gần
lương dân, một vùng quê nghèo, không có chút tiếng
tăm ǵ cả. Việc Chúa Giêsu chọn Galiêa để
khởi đầu cho công cuộc rao giảng Tin mừng
cho thấy Thiên Chúa không chú trọng bề ngoài, Ngài quan tâm
đến sự đáp trả của con người.
Sự đáp trả đến từ bên trong, từ
nội tâm, từ tấm ḷng chân thành và khiêm tốn của
con người. Ngoài ra, Chúa Giêsu chọn Galiêa, điều
này càng cho thấy giáo lư của Ngài không bị đóng khung,
vạch ra cho Giáo Hội ra đi những chân trời
mới. Nước Trời dành cho mọi người,
Nước Trời dành cho những ai chân thành t́m kiếm và
cộng tác đáp trả trọn vẹn.T́nh yêu Thiên Chúa
không bị giới hạn.
Để tiếp nối sứ mạng rao
giảng Tin mừng, Chúa Giêsu kêu gọi người ta
cộng tác với Ngài. Ngài đă kêu gọi bốn môn
đệ đầu tiên là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan
bước theo Ngài. Chúa Giêsu lên tiếng kêu gọi các ông:
"Hăy theo Ta". Trong sự đáp trả của các
ngư phủ này, chúng ta thấy hai khía cạnh nổi
bật: các ngư phủ này đang làm việc và họ
đáp trả một cách dứt khoát, đáp trả mau
mắn đi theo Chúa Giêsu.
Thứ nhất, các ngư phủ là những
người đang miệt mài làm việc. Chúa Giêsu
đến nơi họ đang sinh sống. Ngài đă
đi ngang qua chỗ họ đang ở. Ngài thấy
họ đang chú tâm trong bổn phận ḿnh. Ngài biết
họ là ai. Cả bốn ông này, họ là những
người chài lưới. Họ là những người
lao động chân tay. Họ đang làm việc miệt mài
trên biển hồ Galilê: Simon và Anrê thả lưới
bắt cá, Giacôbê và Gioan đang vá lưới. Họ cùng làm
việc với nhau, chung tay góp sức trong công việc "mưu
sinh", sẵn sàng hiệp nhất để đối
đầu với nghịch cảnh, vượt qua
những khó khăn trong công việc. Đối với ḿnh,
họ có thể nghèo của cải vật chất, họ
có thể nghèo tri thức nhưng nhất định là
họ là những người giàu có về t́nh huynh
đệ, giàu về tinh thần hợp tác và sẵn sàng
giúp đỡ nhau trong công việc bổn phận. Do
vậy, các ông sống b́nh an và luôn chu toàn bổn phận
của ḿnh.
Thứ hai, các ngư phủ là những
người đáp trả một cách dứt khoát và mau
mắn. Chúa Giêsu đă đi qua cuộc đời
của họ. Ngài đă mang đến cho họ một
sứ điệp mới, một sứ mạng mới:
"Hăy theo Ta". Nghe Lời đó, họ lập tức
đi theo Chúa Giêsu. Nghe tiếng Chúa Giêsu kêu gọi, Phêrô,
Anrê, Giacôbê và Gioan đáp lại ngay và sẵn sàng từ
bỏ mọi sự, kể cả những ǵ thiết thân
nhất trong đời sống như nghề nghiệp và
phương tiện sinh sống cùng với những
mối liên hệ ruột thịt tự nhiên vốn có. Các
ông đă gắn bó quê hương, quen thuộc với
nghề ngư phủ từ thuở nhỏ đến bây
giờ. Hơn nữa mặc dù nghề nghiệp ngư
phủ này là "sự sống" của họ và nơi
đây là "tương lai" của họ nhưng
họ đă can đảm chấp nhận từ bỏ
tất cả để bước theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu
quan trọng hơn hết nên các ông không tính toán thiệt
hơn, không bận tâm cho số phận tương lai
của ḿnh mà từ bỏ ngay. Từ nay các ông bỏ
lại quê hương để đi đến những
nơi Thầy sẽ sai đến. Quê hương các ông
bây giờ là thế giới. Các ông từ bỏ gia đ́nh
ruột thịt quen thuộc, Thiên Chúa sẽ ban cho các ông
một gia đ́nh khác, gia đ́nh nhiều linh hồn mà các
ông sắp cứu vớt. Các ông thoát ly hoàn toàn và dứt
khoát.Các ông đi theo Chúa Giêsu bằng niềm tin và ḷng
mến. Các ông tin tưởng tuyệt đối và yêu
mến hết ḷng ḿnh.
Nghe Chúa Giêsu kêu gọi "Hăy theo Ta", các
ông Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan đă mau mắn đi theo Chúa
Giêsu. C̣n phần chúng ta, chúng ta có đáp trả không? chúng ta
thật sự muốn đi theo Chúa Giêsu. Phải, nhờ
Bí tích Rửa tội, là Kitô hữu, chúng ta đă
được Chúa mời gọi đáp trả trong
bổn phận làm người, bổn phận làm con Chúa
của ḿnh. Người Kitô hữu không phải chỉ là
tin những điều Giáo hội dạy, giữ những
điều răn Chúa và Giáo hội truyền, nhưng c̣n
để cộng tác với Ngài bằng đời
sống chứng nhân giữa đời, đó là loan báo Tin
mừng. V́ thế, không phải chúng ta chỉ lo cứu linh
hồn ḿnh. Không phải chúng ta chỉ lo giữ
đạo, đọc kinh, đi lễ, nhưng phải là
những tông đồ nhiệt thành can đảm làm
chứng nhân cho Chúa nữa. Dù ở bậc sống nào chúng
ta cũng phải là những tông đồ của Chúa
bằng chính đời sống tốt đẹp của
chúng ta. Chúng ta có thể làm cho những người từ
không biết Chúa đến nhận biết Chúa, tôn thờ,
yêu mến Chúa. Chúng ta xây dựng nếp sống yêu
thương bằng cách dùng lời nói nhằm xây dựng,
tôn trọng tha nhân. Chúng ta xây dựng nếp sống yêu
thương bằng cách sống biết quan tâm đến
tha nhân, biết chia sẻ, biết giúp đỡ
người khác bằng cách này hay cách khác trong khả
năng của chúng ta. Chúng ta hăy sống ơn gọi
của ḿnh bằng cách sống tốt đẹp, thái
độ cư xử cao thượng mang tính "quân
tử". Chúng ta nêu gương sáng cho mọi
người, sống ḥa thuận yêu thương nhau.
Các môn đệ đă mở ḷng ḿnh ra
để Chúa Giêsu bước vào, Ngài đi vào con
người của họ để đi vào cuộc
đời. Ngài đi qua họ để đi vào thế
giới; đồng thời điều đó cũng cho
chúng ta thấy rơ cái giá chúng ta phải trả nếu chúng ta
muốn làm được điều này. Chúng ta phải hy
sinh v́ chúng ta biết rằng t́nh yêu của Thiên Chúa sẽ
đ̣i chúng ta phải sẵn sàng luôn măi để đáp
lại những đ̣i hỏi mỗi ngày mỗi mới
mẽ và khó khăn hơn. Chúng ta phải từ bỏ ḿnh
để dấn thân, không c̣n ǵ riêng cho chúng ta nữa.
Ơn gọi nào cũng có thánh giá phải vác, phải
dấn thân, phải từ bỏ ḿnh. V́ thế, chúng ta
phải trọn niềm phó thác tiến bước giữa
vùng đêm tăm tối và tin tưởng rằng t́nh yêu
càng đ̣i hỏi, càng thêm chứng tỏ t́nh yêu bao la trong
sáng và lớn măi giữa niềm vui. Chúng ta hăy mạnh
dạn bước thêm một bước vào chương
tŕnh diệu kỳ của Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài
trong chương tŕnh cứu độ. Đúng thế
như thánh Augustinô đă nói: "Để tạo dựng
nên con, Chúa không cần hỏi ư kiến con, nhưng
để cứu độ con Ngài cần con ưng
thuận và cộng tác với Ngài". Do đó, là
người con chúng ta hăy mau mắn đáp trả và bền
ḷng làm việc cho Thiên Chúa.
Bước sang Năm Mới này, chúng ta hăy
bắt chước các môn đệ hôm nay, mau mắn và
dứt khoát đi theo Chúa Giêsu. Chúng ta hăy bước đi
trong sự yêu mến Thiên Chúa và yêu thương mọi
người hơn nữa.
Hăy đứng dậy, nào chúng ta cùng đi theo
Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, Ngài muốn chúng con đi theo
Chúa để sống chứng nhân Tin Mừng. Trong Năm
Mới này, xin Chúa thêm sức cho chúng con để chúng con
mau mắn đáp trả lời gọi sống chứng
nhân mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi phút giây. Xin cho chúng
con luôn biết làm việc nhằm mục đích sáng danh
Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con yêu mến Chúa. Lạy
Chúa Giêsu, chúng con yêu mến Chúa biết bao!. Amen.
Hăy sám hối và tin vào Phúc Âm.
Hẳn chúng ta c̣n nhớ câu chuyện về
thành Ninivê mà bài đọc thứ nhất hôm nay đă
gợi lại. Bấy giờ Chúa phán với ông Giona: Hăy
chỗi dậy, đi đến Ninivê, kinh thành vĩ đại
và công bố cho hay điều Ta sẽ truyền cho
ngươi. Ninivê là một thành phố rộng lớn,
đi ngang qua phải mất ba ngày đàng. Ông Giona mới
đi rảo trong thành có một ngày và công bố: C̣n 40 ngày
nữa th́ Ninivê sẽ bị tan phá. Dân chúng tin vào Thiên Chúa.
Họ công bố lệnh ăn chay và tất cả mọi
người từ lớn chí bé đều mặc áo
vải thô. Chúa thấy việc họ làm, từ bỏ
đường gian ác, th́ đă tha thứ và không trừng
phạt họ nữa. Đó là câu chuyện xảy ra trong
Cựu Ước. Dân thành Ninivê thực thi sứ
điệp tiên tri Giona truyền dạy, đó là ăn
năn sám hối, từ bỏ con đường tội
lỗi và đă được Chúa thứ tha.
Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu
cũng đă kêu gọi chúng ta như thế: Nước
Thiên Chúa đă đến gần, nên phải sám hối và
tin vào Phúc Âm. Chúa Giêsu rất nhiều lần đă cho chúng
ta thấy: Là Đấng thánh thiện Ngài ghét bỏ
tội lỗi, nhưng lại tỏ ra khoan dung và nhân
từ đối với các tội nhân. Ngài đă sánh ví ḿnh
như người mục tử lên đường t́m
kiếm con chiên bị lạc mất. Và khi t́m thấy, th́
vui mừng vác nó trên vai, đem về nhà. Ngài sánh ví ḿnh
như người đàn bà đốt đèn t́m kiếm
đồng bạc bị đánh rơi và khi t́m thấy th́
mời chị em lối xóm đến chia vui với ḿnh.
Thế nhưng để được Chúa
tha thứ, Ngài đ̣i hỏi chúng ta một điều
kiện đó là hăy sám hối quay trở về với Ngài.
Phúc Âm đă kể lại câu chuyện chàng trai phung phá. Trong
bước đường truân chuyên gian khổ, chàng
đă hối hận, quyết tâm lên đường
trở về để rồi cuối cùng chàng đă được
người cha tha thứ.
Phúc Âm cũng đă cho chúng ta thấy sở
dĩ Phêrô đă được tha thứ và
được đặt làm đầu Giáo Hội v́ ông
đă biết đấm ngực ăn năn về
lầm lỗi của ḿnh. Mađalena đă được
tha thứ v́ đă biết sám hối, khóc cho quăng
đời tội lỗi của ḿnh. Tên trộm lành
cũng đă được tha thứ v́ anh đă biết
trở về với Chúa cho dù vào những giây phút cuối
cùng.
Có một chàng trai, bất măn với gia
đ́nh đă bỏ nhà đi bụi đời. Sau đó
chàng hối hận muốn quay trở về nhưng không
biết cha mẹ có sẵn sàng tha thứ cho hay không.
Bởi đó chàng đă viết thư và nói nếu thầy
mẹ sẵn sàng tha thứ th́ đến ngày ấy
giờ ấy hăy treo một tấm áo nơi cửa sổ.
Nhận thấy tín hiệu ấy, chàng sẽ trở
về. Vào ngày giờ đă quy định thầy mẹ
chàng không những chỉ treo một tấm áo, mà trong nhà có
bao nhiêu quần áo, rồi chăn mùng mền, tất cả
đều được treo trên các khung cửa và chàng
đă được đón nhận vào trong t́nh
thương của gia đ́nh.
Từ những điều vừa chia sẻ
cha muốn đi tới một kết luận đó là hăy
sám hối quay trở về cùng Chúa để
được hưởng nhờ t́nh thương của
Chúa bởi v́ những tâm t́nh ăn năn là như một
thứ tiền để mua lấy ơn tha thứ.
Trong một khu vườn, những cây
Hướng Dương hoa vàng rực rỡ đang
vươn ḿnh ra đón ánh nắng mặt trời, tận
hưởng niềm vui cuộc sống. Chợt,
Hướng Dương nghe tiếng thút thít dưới
chân. À, h́nh như bạn Nha Đam đang khóc. Hướng
Dương nhẹ nhàng hỏi:
- H́nh như bạn có điều ǵ phiền
muộn?Nha Đam bối rối đáp:- À, không có ǵ
đâu.- Rơ ràng, tôi nghe tiếng bạn khóc mà. Có điều
ǵ thế, bạn kể cho tôi nghe đi, ḿnh là bạn bè, là
hàng xóm của nhau, có ǵ th́ cùng nhau chia sẻ.Nha Đam
tấm tức:- Tôi buồn lắm bạn ạ. Trời
không thương nên cho tôi sinh ra với thân h́nh xấu xí.
Đă thấp lè tè, lá lại kỳ quặc chẳng
giống ai. Bạn thấy đấy, trong vườn này,
muôn hoa đua sắc, c̣n tôi có cố gắng mấy cũng
không thể mọc được cái hoa nào!Hướng
Dương nhẹ nhàng bảo:- Bạn Nha Đam à, bạn
đừng buồn như thế. Mỗi loài cây
đều có sứ mệnh riêng. Tuy bạn không đẹp
rạng rỡ như chúng tôi để tô điểm
hương sắc cho đời, nhưng bạn cũng
rất có ích đấy.- Có ích à? Thôi bạn đừng an
ủi, tôi mà có ích ǵ đâu.- Có đấy, bạn giúp
được cho con người trị được
rất nhiều thứ bệnh. Chẳng lẽ những
điều đó không đáng để cho bạn tự
hào sao?Nha Đam nghe vậy, ngập ngừng nói:- Nhưng
tôi lại thấp bé, xấu xí, trong khu vườn này tôi
đă bị ch́m khuất, có ai biết đến tôi
đâu.- Không sao đâu! Tuy bạn không nổi bật
nhưng con người vẫn biết đến bạn
đấy, giá trị của chúng ta không phải ở
chỗ cao - thấp, đẹp - xấu mà ở chỗ
chúng ta giúp ích ǵ cho cuộc đời này. Bạn hăy vui
vẻ lên, sống khỏe mạnh, đừng tự ti,
mặc cảm, rồi sẽ có ngày bạn được
biết đến, hăy tin tôi!
Hóa ra ở đời người ta đâu
quan trọng cái đẹp bên ngoài. Sống có ích cho
đời mới là quan trọng. Sống có ích cũng là
một sứ mạng của vạn vật. Sống chu
toàn sứ mạng của ḿnh càng làm cho giá trị của
ḿnh được tăng thêm.
Thực vậy, mỗi tạo vật
đều được Chúa trao cho một sứ
mạng. Từ con người cho đến vạn
vật, mỗi loài đều có sứ mạng riêng.
Mặt trời có sứ mạng tỏa sáng và
sưởi ấm các sinh vật trên mặt
đất. Cây lúa có sứ mạng nuôi sống con
người. Muôn loài hoa có sứ mạng tô điểm cho
vạn vật, và dường như mọi loại
đều cố gắng thi hành tốt sứ mạng
của ḿnh. Ánh mặt trời luôn tỏ rạng để
mang lại sự sống cho con người. Cây lúa luôn
trổ bông trĩu hạt. Muôn loài ḥa luôn xinh tươi
lộng lẫy đem lại hạnh phúc cho con
người.
Chúa Giêsu khi xuống thế làm người
cũng phải hoàn thành tốt sứ mạng Chúa Cha trao
phó. Ngài đến trần gian v́ vâng phục Chúa Cha. Ngài thi
hành sứ mạng cứu rỗi nhân gian qua cái chết
khổ h́nh và sống lại vinh quang. Ngài đă
được rước lên trời sau khi thi hành tốt
sứ mạng rao giảng Tin Mừng và cứu độ
trần gian.
Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa
Giê-su kêu gọi các tông đồ cùng chia sẻ sứ
mạng với Ngài. Những tông đồ đầu tiên
là Simon, An-rê, Gia-cô-bê, Gioan đă nhanh chóng bỏ lại
việc riêng để làm việc cho Chúa. Các ngài đă
bước đi theo Chúa với niềm hăng say loan tin
mừng Nước Trời đến cho anh em của ḿnh.
Các ngài vui v́ được Chúa chọn gọi. Các ngài
hạnh phúc v́ được cộng tác với Chúa trong
sứ mạng cứu độ trần gian. Điều
đó đă giúp các ngài bỏ lại tất cả danh
lợi thú trần gian để chỉ phụng sự cho
chương tŕnh của Thiên Chúa.
Con người chúng ta sinh ra đều có
một sứ mạng. Cây cỏ c̣n có sứ mạng
huống chi con người ? Mỗi loài đều có
một giá trị hay nói cách khác là đều có một
sứ mạng của ḿnh. Vậy sứ mạng của tôi
là ǵ ? Tôi phải làm ǵ cho bản thân, cho gia đ́nh, cho Giáo
hội và xă hội ?
Điều mà Chúa muốn nơi những
người tin theo Chúa là hăy rao giảng Tin mừng cho anh
em. Hăy làm chứng về Nước Trời. Hăy tôn vinh Chúa
và làm sáng danh Chúa trong cuộc đời của ḿnh. Chúa
muốn chúng ta là muối men cho đời. Chúa muốn chúng
ta phải ướp mặn trần gian bằng
đời sống yêu thương và phục vụ. Chúa
muốn chúng ta phải thẩm thấu vào thế gian
lời Chúa để men lời Chúa canh tân bộ mặt
trái đất.
Cuộc đời sẽ đẹp biết
bao nếu mỗi người ky-tô hữu luôn là muối
ướp mặn cho đời bằng hy sinh, bằng
phục vụ, bằng bác ái và vị tha.
Cuộc đời sẽ đẹp biết
bao nếu mỗi người ky-tô hữu luôn là ánh sáng cho
mọi người khi biết sống theo tin mừng,
biết v́ Chúa mà sống tốt sứ mạng của ḿnh
là canh tân bộ mặt trái đất.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết chu toàn sứ
mạng của đời ky-tô hữu là giới thiệu
Chúa cho tha nhân. Giới thiệu không bằng lời nói mà
bằng đời sống bác ái yêu thương và thờ
phượng Chúa trên hết mọi sự. Amen.
(Trích trong ‘Cùng Nhau Suy Niệm’ – Lm. Giuse Tạ
Duy Tuyền)
Có một lúc nào đó trong cuộc đời,
chúng ta vẫn thường tự hỏi: Tôi là ai? Tôi sinh ra
trong cuộc đời này làm ǵ? Chết rồi đi
đâu? Đây là những câu hỏi quyết định
hướng đi của một đời người,
nó quyết định phận số của một con
người. Sống có ích cho xă hội hay trở thành gánh
nặng cho xă hội cũng tuỳ thuộc vào chọn
lựa cơ bản này của từng người chúng ta.
Người ta kể rằng: thuở xưa
khi con người chưa biết soi gương trang
điểm nên họ cũng chẳng biết ḿnh là ai? Và
khuôn mặt ḿnh thế nào? Một lần kia, anh chồng
lên tỉnh thành, người vợ dặn chồng nhớ
mua cho ḿnh một cái trâm cài đầu. Nhưng anh không
biết cái trâm h́nh thù như thế nào. Chị vợ
liền nh́n trời thấy ánh trăng lưỡi liềm
liền nói: "Cái trâm nó giống như ánh trăng kia,
nếu anh quên anh cứ nh́n lên ánh trăng th́ sẽ nhớ.
Người chồng lên đường
mải miết xem bao cảnh lạ ở tỉnh thành măi
mười ngày sau mới trở về quê nhà. Anh sực
nhớ lời vợ dặn, anh liền nh́n lên trời và
thấy ánh trăng tṛn trịa của đêm trăng
rằm, anh liền vào tiệm và mua một cái gương
tṛn trịa như ánh trăng theo lời vợ dặn.
Ḷng vui rộn ràng khi vừa về tới nhà
vội trao cho vợ cái gương mà anh đă mua từ
tỉnh thành. Tưởng rằng vợ sẽ vui mừng
với món quà anh đưa về, thế nhưng, khi
vừa nh́n vào đồ vật, cô vợ đă tức
giận và quát tháo rằng: "Tôi dặn anh mua cái trâm cài
đầu, tại sao anh lại đem về một
đứa con gái nào đây?". Anh chồng giật ḿnh,
dành lại cái gương và nh́n xem chuyện ǵ xẩy ra.
Anh nh́n vào gương lại thấy một người
đàn ông trông giống bố ḿnh hồi c̣n trẻ, nên anh
phân bua rằng: Không, đây là bố tôi mà! Cô vợ dành
lại và nói: bố ông bao giờ, con nào rơ ràng. Ông c̣n
chối hả? Đính chính chẳng được, nên anh
chồng đành bỏ đi. Mẹ chồng thấy
vậy đến an ủi con dâu, và người con dâu
đưa cho mẹ chồng coi bằng chứng rơ ràng
thế mà anh chồng c̣n chối quanh quẩn. Mẹ
chồng xem qua rồi trịnh trọng nói: Thôi đừng
ghen nữa! Tao thấy con này không đáng ghen đâu. Tao
thấy, nó cũng già lắm rồi!
Đó là câu chuyện vui nhưng cũng nói lên
một chân lư: nếu không biết ḿnh th́ sẽ làm khổ
ḿnh và khổ người khác. Chúa Giê-su cũng từng nói:
"Mù dắt mù th́ cả hai đều rơi xuống
hố". Đó cũng là quang cảnh của xă hội
chúng ta đang sống. Một xă hội đầy
những bóng tối của tội lỗi, của sa
đoạ, cúa ích kỷ và hưởng thụ đă làm cho
nhiều người mù quáng để chạy theo những
đam mê lầm lạc, lạc mất hướng đi
của đời người, d́m ḿnh trong bóng tối
của danh lợi thú. Nhiều người đă không c̣n ư
thức giá trị đạo đức con người nên
họ sẵn sàng đánh mất phẩm giá của ḿnh và
chà đạp lên phẩm giá của người khác. Họ
không c̣n biết ḿnh là ai? Sống để làm ǵ? Họ
như những người lạc hậu trong câu
chuyện đă không biết ḿnh, nên gây ra những mâu
thuẫn, hiểu lầm không đáng có. Thực vậy,
nhiều người trong xă hội hôm nay, đă không
hiểu rơ ư nghĩa cuộc sống nên buông thả trong
những đam mê tội lỗi. Họ tưởng
rằng, con người sinh ra, lớn lên, chết là
hết nên chẳng cần sống theo lẽ phải, hay
sống theo luân thường đạo lư, dẫn
đến tội lỗi ngập tràn, cuộc sống
đầy chiến tranh, loạn lạc.
V́ vậy, sứ điệp đầu tiên mà
Chúa gửi đến nhân loại chính là: "Hăy sám
hối". Sám hối để bước ra khỏi bóng
đêm của tội lỗi, ganh tương, đố
kỵ và chia rẽ để bước vào ánh sáng của
yêu thương và hiệp nhất. Chúa Ky-tô chính là ánh sáng cho
thế gian. Từ nay tin mừng cứu độ của
Chúa sẽ soi sáng cho con người biết đâu là
thiện, là ác, v́ chính Ngài là Đường, là Sự
Thật và là Sự Sống. Và ai theo Ngài sẽ không phải
đi trong tối tăm, nhưng bước đi trong
tự do của con cái sự sáng.
Thế nhưng, nhân loại hôm nay vẫn thích
bóng tối hơn ánh sáng. Người ta sợ ánh sáng
của tin mừng sẽ phơi bày bộ mặt thật
của ḿnh nên che dấu bằng thủ đoạn,
lừa đảo và giả h́nh, và dần dần đánh
mất ư thức về tội. Tội lỗi vẫn lan
tràn. Con người tự làm khổ ḿnh, làm khổ nhau
bởi chính tội lỗi ḿnh gây ra.
Ước ǵ mỗi người chúng ta hăy
biết nh́n lại ḿnh để biết ḿnh. Biết
những giới hạn và bất toàn để sửa
đổi. Biết những khiếm khuyết để
bổ túc và canh tân. Biết tội lỗi ḿnh để sám
hối. Xin Chúa giúp chúng ta biết sám hối từng ngày
để canh tân đổi mới cuộc đời trong
chân lư và t́nh yêu của Chúa. Amen.
Thế giới loài người từ khi
mắc tội Nguyên tổ cần phải hoán cải không
ngừng. Thời Noe v́ không biết hoán cải nên Chúa
để lũ lụt quét sạch cả thế giớI,
chỉ trừ gia đ́nh Noe biết vâng nghe lời Chúa
dạy nên đă được cứu thoát. Đến
thời dân Do thái, Chúa đă sai nhiều tiên tri đến nhắc
nhở họ sống theo lời Chúa dạy. Trong mọi
thời đại, Thiên Chúa luôn kêu gọi loài người
hoán cải để ngày một nên tốt hơn, xứng
với ơn gọi làm con Chúa.
Trong bài đọc I, Chúa bảo tiên tri Giôna
đến thành phố Ninivê ở phía bắc nước Do
thái để kêu gọi dân chúng sám hối, sửa
đổI lối sống, nếu không Chúa sẽ tiêu
diệt. Sau khi Giôna rao giảng, họ đă sám hối và lo
thay đổi cuộc sống.
Trong bài đọc II, thánh Phaolô kể lại
cuộc hoán cải của ḿnh cho dân Do thái ở Giêrusalem
nghe. Phaolô từng là người bắt đạo hăng hái
nhưng sau khi Chúa Giêsu tỏ ḿnh ra cho ông ở Damas, ông
đă thay đổi hoàn toàn, trở nên Tông đồ
nhiệt thành rao giảng Phúc âm, dám làm chứng cho Chúa
bằng đờI sống và lời rao giảng của
ḿnh.
Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu rao giảng cho
người ta sám hối ăn năn và tin vào lời Chúa.
Và để công việc đó được tiếp
tục thực hiện đầu tiên là Chúa đă chọn
gọi 4 người làm tông đồ cho nước Chúa.
Các ngài đă mau mắn bước theo Chúa và dần dần
được biến đổI nên những tông
đồ hết ḷng v́ nước trời.
Ngày hôm nay, mỗi người chúng ta cũng
đang được Chúa gọi làm môn đệ làm công
việc tông đồ theo những cách thế khác nhau.
Vậy chúng ta hăy bắt chước các tông đồ hôm
nay bước theo Chúa, hoán cải chính ḿnh để mai sau
góp phần vào việc hoán cải tha nhân.
Thế giới hôm nay c̣n hơn 2/3 chưa
biết Chúa Giêsu, Đấng giải thoát loài người
khỏi nô lệ tội lỗi và sự chết. Bổn
phận của chúng ta là loan báo ơn cứu chuộc cho
loài người để mọi người đều
được hưởng ơn cứu độ như
chúng ta. Thế giới không thể tự chữa lành ḿnh
nếu không có ơn Chúa, nếu thiếu hy vọng và hoán
cải. Người ta chạy theo những thứ danh
vọng chóng qua hoạc lo vui thú trần gian mà quên chỗ
ở đời đời cần được
chuẩn bị ngay trên trần gian này.
Là những người Kitô hữu, chúng ta
biết rơ hơn ai hết rằng ḿnh phải hoán cải
luôn luôn theo những tiêu chuẩn Chúa đă dạy trong Tin
mừng. Hàng ngày, chúng ta lo xét ḿnh trước khi ngủ.
Hàng tháng, chúng ta đi xưng tội để
được Chúa tha thứ và để bắt
đầu một đời sống mới tốt
đẹp hơn. Từ đó, chúng ta trở nên những
tấm gương sống động, biết hoán cải
đổi mới và sống theo tám mối phúc thật, theo
những lời nhắc nhở của các đấng
bề trên.
Tin mừng không phải là câu chuyện xa
xưa nhưng là những ǵ chúng ta đang cần áp
dụng, thực hành trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta. Lời Chúa khác lời của những hiền
triết đă quá cố v́ Chúa Giêsu đang sống và
đang giảng lại những lời của ḿnh qua
Hội thánh. Với tinh thần bác ái, chúng ta không chỉ
sống và hoán cải mà c̣n phải biết giúp người
chưa có đạo biết Tin mừng sự sống mà
chúng ta đang thực hành để họ cũng
được làm con cái Chúa và Hội thánh như chúng ta.
Nếu chúng ta nhận ra được
rằng, chúng ta đang là những người có phúc
nhất trên trần đời v́ được làm con Chúa
nhờ ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ
phấn khởi loan Tin mừng cho bất cứ những ai
chúng ta gặp gỡ v́ đó là điều đem lại
niềm vui và sự sống cho ḿnh.
Lạy thánh Phaolô, xưa khi gặp Chúa, ngài
đă hoán cải, có cuộc sống hoàn toàn mới, nay xin
giúp chúng con cũng biết nhiệt thành với lư
tưởng để mai sau được Chúa
thưởng trên nước Thiên đàng.
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
Đức Yêsu rao giảng: “Đă đến
thời. Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Tết đă
đến gần, đây cũng là dịp để
mỗi người chúng ta nh́n lại ḿnh trong năm
vừa qua, để với năm mới chúng ta trở
thành con người mới, bắt đầu một
đời sống mới, một con người hạnh
phúc với chính ḿnh, dễ thương và quảng
đại đối với người khác.
1) Đức nhân thắng số
"Đức nhân thắng số" là không
chỉ là câu nói của đa số b́nh dân, nhưng cả
của những người tin vào "tiền
định," tin vào "số mạng" nữa. Câu
này có nghĩa: một người ăn ở có đức
có nhân, th́ sẽ đổi được số mạng
của ḿnh. Với những người tin vào "tiền
định" hoặc "số mạng," câu nói này
thực hữu ích.
Trong cuộc đối thoại giữa
Abraham và Thiên Chúa, người ta thấy chỉ cần
mười người công chính có thể cứu
được cả một thành phố gian ác đáng
bị tru diệt (St.18, 32). Người tốt không chỉ
cứu được ḿnh, mà c̣n cứu được
cả người khác nữa. Trong sách Giô-na hôm nay, dân thành
Ninive đă đổi được ư định của
Thiên Chúa. Thiên Chúa truyền lệnh cho tiên tri Giô-na báo cho dân
thành Ninive biết ư định huỷ diệt thành phố
của Thiên Chúa, dân không chỉ tin vào lời tiên tri,
nhưng c̣n tin vào ḷng từ bi của Thiên Chúa nữa, nên
họ đă sám hối và được cứu. Như
vậy, thái độ sống của con người có
thể đổi được ư định của Thiên
Chúa nữa. Cái "số" bị phạt của dân
Sôđôma và dân Ninive, là do hậu quả của những hành
vi bất chính của họ. Chính thái độ sống
trong quá khứ của họ, mang lại "số
phận" cho họ! Và cũng chính thái độ sống
"hiện tại" của họ, đổi
được "vận số" của họ! Thiên
Chúa là Đấng Yêu Thương nên Ngài chỉ muốn
điều tốt cho con người; Ngài chỉ muốn
con người sống yêu thương và hạnh phúc. Thiên
Chúa tạo dựng vũ trụ tự nhiên, và định
cho nó có luật của nó, vật chất có luật vật
lư; sinh vật sống theo bản năng, đây cũng là
một loại luật của sinh vật; với con
người, Ngài ban cho lư trí và ư muốn, để tự
do và làm chủ tất cả. Yêu thương là hành vi
vượt qua mọi định luật, hành vi yêu
thương cứu được chính ḿnh và cứu
được người khác nữa. Chẳng hạn,
hành vi yêu thương nuôi nấng dạy dỗ một em bé
bị bỏ rơi, đổi được đời em bé
và c̣n đổi được đời cả
người nuôi em bé đó nữa.
2) Thế giới này đang qua đi
Con người không chỉ bị chi phối
bởi luật vật lư tự nhiên, nhưng c̣n bị chi
phối rất nhiều bởi những yếu tố tâm
lư. Những hành vi làm v́ muốn chứng minh ḿnh trổi
trang hơn người khác, những hành vi trả thù, v.v.
là những hành vi "nô lệ." Hận thù không
được tha thứ, sẽ nối tiếp và
chồng chất hận thù. Những người thực
hiện những hành vi này bị nô lệ hoặc bị trói
buộc bởi những tiêu chuẩn "hèn hạ" mà
thường họ không ư thức.
Thư của thánh Phao-lô hôm nay nhắc nhở
con người một chân lư: thế gian này đang qua
đi. Con người được sinh ra, lớn lên, già
đi, và chết. Hiện tại, người ta biết
ḿnh; nhưng mười năm sau, c̣n ít người
biết ḿnh; một trăm năm sau, e rằng chẳng ai
biết ḿnh nữa. Nếu tất cả vật chất
đang biến đổi, đang qua đi, th́ tại sao
người ta lại miệt mài, đam mê đi t́m
kiếm vật chất hoặc những thú vui mau qua,
hoặc thoả măn chính ḿnh!
Khi nhắc nhở con người về
thực trạng "thế giới này đang qua
đi," thánh Phaolô muốn giúp con người nhận ra
sự thật về chính ḿnh, và nhắn nhủ con người
hăy đi t́m cái ǵ cao quư và trường tồn. Như
vậy điều quư không hệ nơi vật chất
đang qua đi, nhưng là chính con người "vĩnh
tồn" của ḿnh. Những hành vi từng ngày làm nên
chính con người của ḿnh. Những hành vi yêu
thương làm ḿnh trở nên tuyệt vời ngay giữa
trần thế đang qua đi này, và cũng làm ḿnh
tuyệt vời trong vĩnh cửu nữa.
3) Hăy sám hối và tin vào t́nh yêu Thiên Chúa.
Đức Yêsu khởi đầu sứ
vụ công khai bằng lời rao giảng: "Thời
giờ đă đến. Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng.
Hành vi sám hối đi liền với hành vi nhận ra
sự thật "không đẹp" của chính con
người ḿnh. Không thể có hành vi sám hối mà không có
sự nhận thức đúng đắn về con
người ḿnh. Lời mời gọi sám hối, hàm
chứa lời mời gọi xét lại chính con
người của ḿnh: tôi có thực sự là người
tốt chưa, thành toàn chưa?
Tôi là người như thế nào đối
với người ta, đối với tôi, và đối
với Thiên Chúa. Có những người đi t́m và cố
gắng trở thành "người tốt" theo
đánh giá của người khác; những người này
đang nô lệ mà không biết. Cũng có người
đặt ra cho ḿnh một giá trị, và cố gắng
để thành người "thành toàn" theo ư họ; và
khi họ không đạt được hoặc không làm
chủ được họ hoàn toàn, họ thất
vọng và buồn chán. Điều đúng đắn
nhất là làm sao để ḿnh đánh giá ḿnh và mọi
sự trong nhăn quan của Thiên Chúa Yêu Thương.
"Đây là lúc thuận tiện, đây là
ngày cứu độ" (2Cor.6, 2). Mỗi người hăy
nh́n lên Thiên Chúa là Đấng Yêu Thương, là Đấng
chỉ biết yêu thương và làm tất cả v́ yêu
thương. Mỗi người cũng chỉ bị phán
xét về duy một điều là ḿnh có làm mọi sự v́
yêu thương không thôi (Mt.25, 31tt). Những lầm lỗi
trong quá khứ tuy quan trọng nhưng không quan trọng
lắm. Điều rất quan trọng là tin vào Thiên Chúa là
Đấng Yêu Thương. Ngài mời gọi mỗi
người hăy sống yêu thương như Ngài. Chính hành
vi yêu thương làm ḿnh triển nở, hạnh phúc, và
cũng làm cho người khác triển nở và hạnh
phúc. Những hành vi không làm cho người khác triển
nở và hạnh phúc, e rằng đó không phải là hành vi
yêu thương thật sự. Nếu tôi sống tốt
lúc này, những người quanh tôi sống b́nh an; nếu
tôi không sống tốt, làm hại người khác, th́ làm
những người đó khổ, và cả tôi cũng
khổ, và những người thân yêu của tôi cũng
không được thoải mái và hạnh phúc v́ tôi. Yêu
thương, là hành vi làm con người thành tuyệt
vời.
Câu hỏi gợi ư chia sẻ
1. Bạn có tin vào số mạng không? Tin vào
số mạng có hợp với đức tin Kitô giáo không?
Tại sao?
2. Bạn có tin tử vi, coi bói, coi chỉ tay,
tướng số không? Tại sao bạn tin và tại sao
bạn không tin? Tin vào những điều này có hợp
với đức tin Kitô giáo không?
3. Để là một con người mới,
điểm chính yếu là ǵ?
Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta tiếp
tục suy tư về mầu nhiệm ơn gọi.
Trong ơn gọi của các môn đệ
đầu tiên của Chúa Giêsu, chúng ta thấy ǵ? Chúng ta
thấy Chúa Giêsu đă đi bước trước. Ngài
đi qua, nh́n thấy và kêu gọi. Marcô nói: “Ngài đi lên núi
và gọi những kẻ người muốn lại
gần…” (3,13). Ngài chọn những ai Ngài muốn và không
hẳn là những người xứng đáng nhất, v́
không ai có thể tự cho là xứng đáng cả. Sau này,
Ngài sẽ nhắc lại cho họ: “Không phải chúng con
đă chọn Thầy, nhưng là Thầy đă chọn
chúng con” (Gio. 15,16). Người kêu gọi họ tại
chính nơi họ ở, chỗ họ làm việc: Bốn
vị đầu tiên trong khoang thuyền, ngoài băi biển,
một vị khác ngay nơi bàn đổi bạc (2,14), và
một vị khác đang đứng suy tư dưới
bóng cây vả (Ga. 1,50)… Mỗi ơn gọi là một cử
chỉ t́nh thương, Ngài đến với ta, đi t́m
và tuyển chọn ta.
Và Người nói ǵ?
Một câu rất đơn sơ nhưng
đầy ánh sáng: “Hăy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi
trở thành những kẻ chài lưới người.”
Tuy nhiên, đây không phải là một cuộc chọn
bạn đi chơi, một thời gian rồi tan hàng ră
đám. Mà theo Ngài th́ Ngài đ̣i hỏi rất nhiều.
Đ̣i hỏi ǵ? Ngài đ̣i hỏi tất cả: phải
từ bỏ mọi sự, từ bỏ luôn măi và từ
bỏ cả mạng sống v́ Ngài nữa!
Hỏi rằng, ngoài Chúa ra, có ai có thể
đ̣i hỏi khắt khe như vậy? Có t́nh yêu nào ghen
tị đến mức độ như vậy?
Văn hào Montalembert có một cô con gái dâng ḿnh
làm nữ tu. Ông viết: “Người t́nh ấy là ai,
chết treo trên cây thập giá mà có thể lôi kéo như
vậy? Người t́nh ấy là ai mà có một sức
hấp dẫn không cưỡng lại được,
như một con chim mồi sà xuống và cuốn đi?
Phải chăng đó là một người? Không. Đó là
Thiên Chúa. Đó là bí ẩn, đó là ch́a khóa đưa vào cơi
thâm sâu. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thành công và đ̣i
hỏi một cuộc hy sinh như thế.”
Bà Thánh Jeanne-Francoise Chantal (1572-1641) là một bà
mẹ đạo đức. Sau khi chồng qua đời,
bà lo nuôi dưỡng, giáo dục và tác thành cho bốn con, có
nơi có chốn tự lập được. Bà nghe
tiếng Chúa gọi sống đời tận hiến, giúp
đỡ người nghèo. Nhưng ngày bà quyết
định ra đi th́ các con ngăn cản và nằm ngang
chận cửa. Nước mắt tràn trụa, Bà nói:
“Dầu sao tôi cũng là một Bà Mẹ”. Nhưng t́nh
thương Chúa mạnh hơn t́nh mẫu tử, Bà
bước qua con và đi Annecy, lập nên Ḍng Thăm
Viếng, tháng 6 năm 1610.
Họ ra đi theo tiếng gọi của
Chúa, nhưng đối lại, Chúa hứa ban cho họ
những ǵ? Thật lạ lùng! Ngài không hứa ban cho họ
một cuộc sống dễ dăi đầy tiện nghi v́
chính Ngài cũng “Không có một ḥn đá gối đầu!”
Ngài không hứa ban chức tước, đường
hoạn lộ tiến thân, v́ Ngài truyền dạy phải
chọn chỗ tốt nhất, không được tự
gọi là Thầy, là Cha mà chỉ là tôi tớ. Ngài không
hứa ban cho một cuộc sống nhàn hạ, v́ “ai đă
ra tay cầm cày, th́ không được ngó lui.” Vậy, Ngài
hứa ǵ? Thưa: Một đời sống dấn thân
phục vụ các linh hồn, một đời sống
vất vả đi “chài lưới người”, bắt
từng cá nhân, từng tập thể. Có những lúc
thức trắng đêm mà không bắt được con cá
nào, có những sáng tinh sương, chèo thuyền không về
bế! “Thưa Thầy, chúng con mệt nhọc suốt
đêm mà chẳng được ǵ?” Nhưng Chúa phán: “Hăy
chèo ra khơi thả lưới”. Phêrô, đại diện
các bạn trả lời: “V́ lời Thầy, con sẽ
thả lưới” (Lc. 5,5). Nhất là một lời
hứa quan trọng nhất mà Ngài để lại cho các
môn đệ ngày giă biệt ra đi vào chốn vinh quang:
“Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho con th́ con muốn
rằng con ở đâu chúng cũng ở đấy
với con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha
đă ban cho con…” (Gio. 17,24). Cũng như lời hứa mà
Đức Mẹ khi hiện ra ở Lộ Đức
đă nói với Bernadetta, vị thụ khải của
Mẹ: “Mẹ không hứa cho con hạnh phúc ở trần
gian mà hạnh phúc trên trời.”
“Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi đường
đi của Chúa,
Xin dạy bảo tôi về lối
bước của Ngài.
Xin hướng dẫn tôi trong chân lư và dạy
bảo tôi,
V́ Chúa là Thiên Chúa cứu độ tôi”
(Tv. 24,4 – Đáp ca)
Mc 1, 16 - 20
Chuyện kể về một cậu bé luôn
mặc cảm v́ trên lưng cậu có hai vết thẹo
rất rơ. Nó kéo dài từ bả vai xuống đến eo
với phần da nhăn nhúm. V́ thế, cậu luôn cảm
thấy xấu hổ về bản thân ḿnh.
Ngày ngày đi học, cậu rất sợ
bị bạn bè phát hiện... và thời gian dài trôi qua, cái
ǵ đến cũng phải đến... khi đó các
bạn chọc cậu: "Eo ơi, gớm quá!"
"A,...quái vật!" "Ôi, thật khủng
khiếp!" Những lời vô tâm ấy đă làm đau
ḷng người bạn nhỏ của chúng ta. Cậu
vừa khóc vừa chạy vào sau cánh cửa lớp,
trốn tránh tất cả bạn bè. Từ đó, cậu
bé bỏ học.
Sau sự việc này, mẹ cậu bé dịu
dàng nắm tay cậu đến gặp cô giáo chủ
nhiệm. Cô là một nữ giáo viên đôn hậu.
Người mẹ kể rằng khi mới sinh, cậu con
trai đă mắc bệnh nặng, gần như mất
hết hy vọng nhưng gia đ́nh không đành ḷng bỏ
rơi và quyết cứu cho được đứa con.
Qua cuộc giải phẫu vô cùng khó khăn vất vả,
cậu bé trai đă được cứu nhưng từ
đó để lại hai vết thẹo lớn trên
lưng. Nói đến đây, người mẹ run run
bật khóc.
Ngày hôm sau, cậu bé xuất hiện ở
một góc cuối lớp, các bạn nhỏ khác thấy
thế, lại ngây thơ thốt lên những lời vô tâm:
"Ôi, thật đáng sợ!" "Ghê quá, trên lưng
cậu ấy có 2 con trùn to lắm." Ngay lúc ấy, cô giáo
đi ngang, cô nghe hết những lời các bạn chọc
cậu bé.
Cô giáo tiến gần đến cậu bé,
đặt nhẹ tay lên bờ vai gầy nhỏ bé và
mỉm cười nói: "Trước đây, cô đă
định kể cho các con nghe một câu chuyện nhưng
xem ra, cô phải kể ngay lúc này." Các bạn trẻ vây
quanh lấy cô. Cô giáo nhẹ nhàng kéo chiếc áo của
cậu bé lên làm lộ rơ hai vết thẹo lớn và nói
với đám trẻ: "Đây là một truyền
thuyết. Ngày xưa, các thiên thần trên trời đă bay
xuống và biến thân thành các bạn nhỏ như chúng ta
đây. Tất nhiên, có thiên thần nhanh nhẹn đă
kịp tháo gỡ đôi cánh của ḿnh, nhưng cũng có
thiên thần hơi chậm, không kịp tháo hết đôi
cánh của ḿnh và để lại hai vết như thế
này."
Một em bé hỏi: "Vậy đó là cánh
của thiên thần hả cô?"
Cô giáo mỉm cười: "Đúng
đó!"
Bỗng một bạn gái lên tiếng:
"Thưa cô, chúng con có thể sờ chúng không?" Từ
năy đến giờ cậu bé vẫn cứ đứng
ngẩn người ra, không nói được câu nào, và bây
giờ th́ cậu lại khóc. Nhưng cô giáo mỉm cười
và diụ dàng nói: "Chúng ta phải xin phép vị thiên
thần nhỏ của chúng ta trước chứ?"
Lặng người đi một chút, cậu bé lấy
lại b́nh tĩnh và đáp: "Vâng, được
ạ!"
Các bạn nhỏ vây quanh lấy cậu,
hết bạn này đến bạn khác đến sờ
vào "đôi cánh" ấy. "Ôi, tuyệt thật, con
đă sờ được cánh của thiên thần
rồi!"
Năm tháng dần trôi, người bạn
nhỏ của chúng ta đă lớn hơn nhiều, cậu
vẫn thầm cảm ơn cô giáo đă đem lại cho
cậu một niềm tin mới, một nghị lực
mới. Cậu mạnh dạn tham gia giải bơi
lội cấp thành phố, và cậu đă đoạt
giải. Cậu thầm cám ơn cô giáo, và cậu luôn tin
rằng vết thẹo trên lưng cậu chính là đôi cánh
thiên thần mà cô giáo năm xưa dành tặng cho cậu
với tất cả sự yêu thương.
Qua câu chuyện trên đây, chúng ta thấy cô
giáo đă đổi cách nh́n cho các học sinh của ḿnh, và
cô giáo cũng đă đổi đời cho cậu bé có
vết thẹo trên lưng... C̣n qua bài Phúc âm hôm nay, chúng ta
thấy Chúa Giêsu cũng đă kêu gọi các môn đệ và
Chúa đă thay đổi cuộc đời cho các ông... và
hôm nay chúng ta cũng vậy, Chúa cũng kêu gọi chúng ta, và
Chúa muốn chúng ta cũng phải thay đổi cuộc
đời để sống theo ư của Chúa... nhưng
phải thay đổi thế nào đây khi ḷng tôi c̣n dính bén
với tiền bạc, với của cải, khi ḷng tôi c̣n
tỏ ra tự phụ không cần ai, khi tôi c̣n phải lo
cho gia đ́nh, lo cho chồng tôi, lo cho vợ tôi, lo cho con tôi,
tôi c̣n phải lo củng cố nghề nghiệp, tôi c̣n
phải lo cho tương lai, tôi không c̣n thời giờ... nói
chung, tôi không muốn mất ǵ hết, tôi không muốn thay
đổi, tôi chưa có sẳn sàng, hay nói đúng hơn,
tôi chưa đủ tin tưởng vào Chúa. Bài Phúc âm hôm nay
một lần nữa nhắc chúng ta luôn tin tưởng và
phó thác cuộc sống ḿnh cho Chúa, bởi v́ chỉ có Chúa
mới mang lại cho chúng ta hạnh phúc đời
đời.
Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con luôn biết
chọn Chúa, và quyết tâm theo Chúa cho đến cùng. Amen.
(Suy niệm của Lm Antôn Nguyễn Văn
Độ)
Bước vào Chúa nhật thứ 3
thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu chịu phép
rửa tại sông Giorđan xong, được Gioan
giới thiệu cho mọi người biết
Người là: "Chiên Thiên Chúa" (Ga 1, 29). Ông bị
bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng
nước Thiên Chúa, một hành động diễn tả
sự liên tục giữa Giao ước cũ với Giao
ước mới, với sứ điệp: "Thời
giờ đă măn và nước Thiên Chúa đă gần
đến; anh em hăy ăn năn sám hối và tin vào Phúc
Âm" (Mc 1, 14).
Thời giờ đă măn và nước Thiên
Chúa đă gần đến
Viên cai ngục của Hêrôđê tra tay bắt
Gioan Tẩy Giả tống ngục. Sứ mạng, lời
rao giảng cũng như phép rửa của Gioan chấm
dứt, thời giờ đă măn, Đức Giêsu xuất
hiện. Không như Gioan, Chúa Giêsu không đến để
thay đổi phép rửa thống hối, sứ mệnh
của Người là loan báo Tin Mừng nước Thiên
Chúa. Tin Mừng Người loan báo không phải là "tin
mới" hay tin mừng như bao tin mừng. Chúa Giêsu nhân
danh Thiên Chúa loan báo Tin Mừng, Người chính là Tin
Mừng, là Lời Thiên Chúa, Lời cứu rỗi, là sự
hiện diện của Thiên Chúa ở giữa loài
người.
Gioan loan báo thời mới sẽ đến,
thời viên măn. ‘Thời khác’ là chính Chúa Giêsu, thời
của Gioan và thời của Chúa Giêsu nối liền
với nhau không có sự gián đoạn.
Gioan đă lănh nhận sức thiêng khi Chúa Giêsu
bước xuống ḍng sông Giorđan. Thánh Thần Thiên Chúa
ngự xuống trên Chúa Giêsu khi Gioan đổ nước. Chúa
Cha chứng nhận Chúa Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Ngài.
Từ " gần đến " phải
được hiểu là: " Ở bên anh em ".
Người ở giữa chúng ta. Chúa Giêsu đă nói với
một viên kư lục khi hỏi Chúa về hai điều
răn trọng nhất: " Ngươi không c̣n xa
Nước Thiên Chúa đâu " (Mc 12, 34).
Hăy theo Ta
Simon và em là Anrê đang thả lưới
xuống biển. Chúa gọi hai ông, biến các ông thành
những người cộng tác. Chúa không chỉ ủy thác
cho họ một học thuyết, nhưng biến họ,
những người lưới cá thành những kẻ
lưới người, quăng Lời Chúa vào thế gian
để đánh bắt người, đưa
người ta lên bờ cho Chúa, đúng như lời Chúa
Giêsu nói: "Ta sẽ làm cho các người trở thành
những kẻ chài lưới người" (Mc 1, 17).
Giacôbê và Gioan đang xếp lưới trong
thuyền với cha ḿnh cùng với các người làm công.
Một sự tương phản Marcô đă quan sát và làm
nổi bật. Simon và Anrê đă bỏ lưới. Giacôbê và
Gioan đă bỏ cha. Hai người con bỏ lại cha
với những người đang làm việc không
phải v́ t́nh nghĩa con cái hay gia đ́nh, nhưng là v́
đồng tiền bát gạo. Marcô sử dụng thuật
ngữ " người làm thuê " mà chúng ta dịch là
"người làm công". Hai người con " bỏ
cha", thay v́ ở bên cha, nay thay bằng " theo sau Chúa
Giêsu" (x. Mc 1, 20).
Những ngư phủ đến với Chúa
Giêsu, đă trở thành những kẻ đánh bắt
người như lời Chúa phán: " Này Ta sai ngư
phủ đến … và họ sẽ (vung) lưới
bắt chúng" (Gr 16, 16). Nếu Chúa sai những
người khôn ngoan tới, họ sẽ thuyết
phục dân, hoặc bắt lấy dân. Nếu Chúa gửi
những người giầu đến, họ sẽ dùng
tiền mua chuộc dân và thống trị dân. Nếu Chúa
gửi những người khỏe mạnh đến,
họ sẽ dùng sức mạnh dụ dỗ dân và
cưỡng bức dân bằng bạo lực.
Không có ai trong số các tông đồ là
những người ấy. Simon Phêrô là một bằng
chứng. Ông nhút nhát, đến nỗi sợ cả
một đầy tớ nữ; ông nghèo không có ǵ, thậm
trí cả tiền thuế cũng không có (Mt 17, 24). Phêrô nói:
"Bạc vàng tôi không có " (Cv 3,6). Và ông là người
ít học, nên từ khi chối Chúa, ông cũng chẳng
biết rút ra bài học.
Những kẻ đánh cá được Chúa
Giêsu chọn và sai đi, họ ra đi và đă mang lại
kết quả mĩ măn hơn cả những kẻ
mạnh, người giầu có và khôn ngoan. Với giáo lư
Chúa dạy, họ đă thu hút nhiều người mà không
cần bạo lực; phận nghèo khó, họ đă dạy
dỗ những kẻ giàu có; là người dốt nát,
họ huấn giáo những kẻ khôn ngoan.
Bước theo Chúa Giêsu cần phải sám
hối để hiệp nhất
Chúa Giêsu gọi các môn đệ của ḿnh
"ăn năn sám hối"(Mc 1, 15). Sám hối là
đi từ đời sống tội lỗi sang
đời sống con cái Chúa, từ tuyệt vọng
đến hy vọng, từ chán nản đến vui
mừng, từ bóng tối ra ánh sáng. "Sám hối v́
nước Thiên Chúa đă gần đến" (Mc 1, 15)
vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng.
Quyết tâm sám hối trở về cùng Chúa là con
đường dẫn đưa Giáo Hội đến
sự hiệp thông hữu h́nh trọn vẹn vào thời
kỳ Thiên Chúa thiết định.
Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào
thế giới sứ điệp sự thật và t́nh
thương của Chúa. Hăy sẵn sàng tham gia vào sứ
mạng này và nhất là cầu xin Chúa đừng
để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín
hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa
của Tin Mừng. Các cuộc gặp gỡ đại
kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế
giới là một dấu chỉ chứng tỏ
điều đó.
Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa
Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI
đưa ra lời kêu gọi sau đây: " Ngày nay
cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và
phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa
trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây
dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là:
cuộc sống trên nền tảng đức tin của
các Tông Đồ được chuyển lại trong Truyền
Thống sinh động của Giáo Hội, t́nh hiệp
thông huynh đệ, Thánh Thể và kinh nguyện. Có thế,
Giáo Hội mới được kết hiệp bền
vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của ḿnh,
dù có những chia rẽ như thánh Phaolô Tông Đồ nói
đến: "Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất
cả hăy đồng tâm hiệp ư trong lời nói,
để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hăy
kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm
thức" (1 Cr 1,10). Thực ra thánh nhân đă biết trong
cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đă nảy sinh những
bất thuận và chia rẽ; v́ vậy, ngài nghiêm nghị
viết thêm rằng: "Phải chăng Chúa Kitô bị chia
rẽ sao?" (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ
trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ
Lănh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp
nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh
Chúa.
Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta
được mời gọi loại bỏ gương mù
chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp
của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi
người. Chúng ta hăy cầu nguyện xin Chúa cho sớm
đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp
nhất. Amen.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Trong sưu tập về các thánh ẩn tu trong
sa mạc, có kể giai thoại như sau: Có hai tội nhân
quyết tâm vào sa mạc để ăn chay đền
tội. Nguyên một năm ṛng ră, mỗi người giam
ḿnh trong một túp lều riêng, ngày đêm ăn chay, cầu
nguyện và đánh tội. Ngày ngày các tu sĩ của
cộng đoàn nọ đem thức ăn đến
tận căn lều riêng cho từng người. Sau
đúng một năm thử thách, các tu sĩ nhận
thấy có sự khác biệt giữa hai người:
một người th́ vui vẻ, khỏe mạnh; một
người th́ ốm o buồn phiền. Cả hai
đến tŕnh diện trước Bề Trên cộng
đoàn để chờ xem họ có xứng đáng
được gia nhập cộng đoàn hay không. Khi
được hỏi suốt một năm qua, họ
đă suy niệm về những ǵ.
Người ốm o buồn sầu cho
biết:
- Trong năm qua, ngày ngày tôi nhớ lại
những tội đă phạm, từng giây từng phút tôi
nhớ đến những h́nh phạt sẽ gánh chịu,
tôi sợ hăi đến mất ăn mất ngủ.
Đến lượt ḿnh, người vui
vẻ khỏe mạnh trả lời:
- Suốt một năm qua, từng giây
từng phút, tôi hằng cảm tạ Chúa v́ đă tha
thứ cho tôi: tôi luôn nghĩ tới t́nh yêu của Ngài.
Các tu sĩ trong cộng đoàn rất cảm
kích trước tâm t́nh của người vui tươi
khỏe mạnh v́ ḷng sám hối của anh đă biến
thành lời ca cảm tạ tri ân t́nh yêu Chúa.
Sám hối là khởi đầu của sự
nên thánh. Dĩ nhiên, không phải tất cả những
vị thánh đều bắt buộc phải là những
tội nhân, nhưng tất cả đều phải
bắt đầu với ư thức về tội lỗi và
sự yếu hèn của ḿnh. Càng ư thức về con
người tội lỗi, bất toàn của ḿnh, con
người càng cảm nhận được t́nh yêu
của Chúa. Đó là cảm nhận của vua Đavít,
của thánh Phêrô, của thánh Augustinô và của tất
cả các vị đại thánh trong lịch sử Giáo
Hội.
Lời đầu tiên Chúa Giêsu dùng để
khai mạc sứ mệnh của Ngài chính là: "Hăy sám
hối và tin vào Tin Mừng". Chúa Giêsu đă nối
kết sám hối với Tin Mừng. Tin Mừng là ǵ, nếu
không phải là t́nh yêu Thiên Chúa được thể
hiện qua con người Chúa Giêsu Kitô. Sám hối không
chỉ là ư thức và hồi tưởng về tội
lỗi của ḿnh; sám hối đích thực không dừng
lại ở buồn phiền, sợ hăi và thất
vọng, mà là ngơ tất yếu dẫn đến Tin
Mừng, nghĩa là vui mừng, hoan lạc.
Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải qua cuộc
sống và nhất là qua cái chết của Ngài, là một
người Cha muốn được con cái yêu mến
hơn là sợ hăi. Đạo mà Chúa Giêsu thiết lập
không phải là đạo của buồn phiền, của
khổ đau, nhưng là đạo của Tin Mừng,
của t́nh yêu, của hân hoan và hy vọng. Đành rằng
Thập giá là biểu tượng của Kitô giáo, nhưng
người Kitô hữu không dừng lại ở chết
chóc, khổ đau, buồn phiền; trái lại họ luôn
được mời gọi để nh́n thấy ánh
sáng, hy vọng, tin yêu và sự sống bên kia Thập giá.
Ước ǵ Lời Chúa hôm nay ban sức
sống để chúng ta không bị đè bẹp
dưới sức nặng của tội lỗi, của
yếu hèn. Xin cho chúng ta luôn tiến bước trong hân hoan
và tin tưởng, v́ biết rằng Thiên Chúa là Cha yêu
thương, không ngừng nâng đỡ và tha thứ cho
chúng ta.
Khi mới nghe bài Tin Mừng nhiều
người cứ nghĩ Lời Chúa hôm nay là chỉ dành
cho những người đi tu dâng ḿnh cho Chúa. Nhưng
thực ra đây không phải là bài Tin Mừng dành riêng cho
họ nhưng là cho tất cả mọi người Kitô
hữu. V́ mỗi người là "Sống với và
sống cho người khác". Chỉ xét về mặt
con người với con người th́ đó là những
mối tương quan. C̣n xét về mặt linh thiêng th́
đó là một bổn phận, một trách nhiệm,
một quyền lợi, mà mỗi người Kitô hữu
cần phải có, phải làm và phải thực hiện.
Tin Mừng cho biết cả bốn môn
đệ, bốn tông đồ đầu tiên ấy
đều là những người chài lưới, và
họ đang hành nghề trên biển hồ Galilê. Cho
tới lúc đó, chưa bao giờ các ông đưa mắt
nh́n xa quá tầm mắt quen thuộc với những công
việc sinh nhai hằng ngày. Bây giờ Chúa Giêsu mời
gọi các ông nh́n lên cao hơn và xa hơn. Ngài chỉ cho các
ông thấy thế giới như biển cả mênh mông,
phải vượt khắp đó đây để "tr?
thành những kẻ lưới người như
lưới cá" Sứ mệnh của các ông là đem các
linh hồn về cho Chúa.
Nghe tiếng Chúa kêu gọi, các ông đáp
lại ngay, qua việc "Lập tức hai ông bỏ chài
lưới mà đi theo Người", sẵn sàng từ
bỏ mọi sự, kể cả những ǵ thiết thân
nhất trong đời sống như nghề nghiệp và
phương tiện sinh sống. Hơn thế nữa
"các ông bỏ cha ḿnh..." Cho chúng ta thấy rằng các
ông c̣n từ bỏ cả những t́nh cảm tự,
một sự chọn lựa dứt khoát. Từ nay các ông
sẽ có một sứ mạng cao cả, với những
bận tâm khác và những lo lắng khác. Các ông rời
bỏ quê hương làng xóm, nơi chôn nhau cắt rốn,
để đi đến những nơi Thầy sẽ
sai đến. Quê hương các ông bây giờ là thế
giới. Các ông từ bỏ gia đ́nh ruột thịt quen
thuộc, Thiên Chúa sẽ ban cho các ông một gia đ́nh khác,
gia đ́nh các linh hồn mà các ông sắp cứu vớt. Các
ông thoát ly hoàn toàn và dứt khoát.
Ngày hôm nay, mọi người Kitô hữu
đều được mời gọi đi theo Chúa
Giêsu. Ngài không mời ta đi theo một lư tưởng,
một ư thức hệ. Ngài mời ta theo chính con người
Ngài, gắn bó với Ngài, nhận Ngài là nền tảng và
chóp đỉnh của cuộc sống. Lời kêu gọi
"Hăy đi theo tôi" hôm qua vang lên tai các tông đồ
th́ hôm nay vẫn c̣n vang lên trong nhịp sống Giáo hội
và gửi đến chúng ta hằng ngày. Vấn đề
là chúng ta có quan tâm lắng nghe và đáp ứng không?
Mỗi người Kitô hữu qua Bí tích
Rửa Tội đă được Thiên Chúa trao ban cho
những nhiệm vụ đặc biệt là tiên tri tư
tế và vương đế . Nhưng chúng ta đă
thực hiện nhiệm vụ của ḿnh như thế
nào. Chỉ mới sống tốt cho bản thân, sống
chỉ lo cho linh hồn ḿnh chắc chắn là chưa
đủ. Nếu chỉ sống như thế th́ c̣n quá
ích kỷ với mọi người. Cũng như các tông
đồ xưa kia được kêu gọi không phải
chỉ là để được "rỗi linh
hồn", nhưng c̣n là để cộng tác với Chúa
nhằm thánh hoá các linh hồn. Người Kitô hữu
cũng vậy, được kêu gọi theo Chúa, không
phải chỉ lo cứu linh hồn ḿnh, nghĩa là không
phải chỉ là người giữ đạo,
đọc kinh, đi lễ, nhưng phải là những
tông đồ cho Chúa nữa. Dù ở bậc sống nào, dù
không vào đoàn thể nào, dù ở bất cứ chỗ nào,
chúng ta cũng phải là những tông đồ của Chúa.
Làm tông đồ trước tiên là bằng chính đời
sống tốt đẹp của chúng ta. Đời
sống tốt đẹp của chúng ta có thể thay
đổi được nếp sống của những
người chung quanh. Đời sống tốt
đẹp của chúng ta có thể thay đổi được
vận mệnh của người khác, từ không biết
Chúa đến nhận biết Chúa, tôn thờ, yêu mến
Chúa. Đời sống tốt đẹp của chúng ta có
thể làm cho mọi người từ ghen ghét đến
yêu thương, xây dựng, đùm bọc, nâng đỡ
nhau.
Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con biết sống
tốt đẹp ,biết nêu gương sáng cho mọi
người v́ đó là việc tông đồ sống
động và là chứng nhân tuyệt vời nhất. Amen.
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu)
Suy niệm:
Sau khi chịu phép rửa của Gioan ở
sông Giođan
Đức Giêsu biết đă đến lúc
ḿnh phải rời bỏ gia đ́nh ở Nadarét, phải
chia tay với người mẹ thân yêu, phải từ giă
nghề nghiệp mà ḿnh đă theo đuổi mấy
chục năm trời.
Sau khi nhận Thánh Thần từ trên
xuống,
Đức Giêsu biết đă đến lúc
ḿnh phải lên đường
dấn thân cho sứ mạng do Cha ủy thác.
Vùng Galilê là vùng Ngài bắt đầu rao
giảng Tin Mừng về Nước Trời (c.14).
Ngài mời người ta sám hối và tin vào
Tin Mừng mà Ngài rao giảng.(c.15).
Nhưng Đức Giêsu không nghĩ rằng
ḿnh có thể tự ḿnh làm mọi sự.
Ngài cần người cộng tác, dù
nước Ítraen chỉ là một nước bé nhỏ.
Đức Giêsu đi t́m môn đệ, và Ngài
bắt gặp các anh đánh cá nơi hồ Galilê.
Có hai đôi anh em ruột đă lọt vào
mắt của Ngài.
Ngài THẤY Phêrô và Anrê đang quăng
lưới bắt cá.
“Hăy theo tôi. Tôi sẽ làm các anh thành những
kẻ lưới con người” (c. 17).
Đây là một mệnh lệnh nhưng
cũng là một lời mời thân thương.
Ngài GỌI họ đi theo Ngài, theo chính con
người của Ngài,
chứ không phải theo một lư tưởng
hay một chủ nghĩa nào đó, dù là cao đẹp.
Theo Ngài sẽ dẫn đến một thay
đổi lớn nơi họ: từ lưới cá
đến lưới con người.
Bây giờ con người là mối bận tâm
của họ, không phải là cá như xưa nữa.
Đức Giêsu cũng thấy cặp anh em
ruột thứ hai là Giacôbê và Gioan.
Họ đang vá lưới trong khoang
thuyền với người cha.
Khung cảnh cha con thật êm đềm,
tưởng như chẳng ǵ có thể làm xáo trộn.
Tiếng gọi của Thầy Giêsu vang lên,
gây cuộc chia ly.
Bốn anh đánh cá đầu tiên này đă
BỎ để dáp lại tiếng gọi của Thầy
Giêsu.
Họ đă bỏ chài lưới, bỏ
nghề dánh cá, bỏ những thú vui của sông
nước.
Hơn nữa họ c̣n bỏ gia đ́nh,
bỏ vợ, bỏ cha, để gắn bó với
Thầy Giêsu.
Họ bỏ một giá trị để
sống cho một Giá Trị lớn hơn,
bỏ một t́nh yêu để sống cho
một T́nh Yêu lớn hơn.
Đức Giêsu đă có kinh nghiệm về
sự đau đớn khi phải từ bỏ như
vậy.
Nhưng bỏ chính là để THEO (cc. 18.20).
Theo một Đấng sống không chỗ
tựa đầu, và bước vào cuộc phiêu lưu
bấp bênh.
Hôm nay Đức Giêsu vẫn cần những
con người dám sống cho người khác,
dám bỏ lại những điều rất
quư giá và thân thương,
dám bỏ lại cuộc sống ổn
định và ấm êm, tiện nghi và dễ chịu.
Xin cho chúng ta nghe được tiếng
gọi th́ thầm của Ngài và vui sướng đáp
lại.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn
Simon,
một người đánh cá ít học và
đă lập gia đ́nh,
để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên
của Giáo Hội.
Chúa xây dựng Giáo Hội
trên một tảng đá mong manh,
để ai nấy ngất ngây trước
quyền năng của Chúa.
Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con
theo Chúa, sống cho Chúa,
đặt Chúa lên trên mọi sự:
gia đ́nh, sự nghiệp, người yêu.
Chúng con chẳng thể nào từ chối
viện cớ ḿnh kém đức kém tài.
Chúa đưa chúng con đi xa hơn,
đến những nơi bất ngờ,
v́ Chúa cần chúng con ở đó.
Xin cho chúng con một chút liều lĩnh
của Simon,
bỏ mái nhà êm ấm để lên
đường,
hạnh phúc v́ biết ḿnh đang đi sau
Chúa. Amen.
(Suy niệm của Peter Feldmeier - Lm. GB. Văn
Hào SDB chuyển ngữ)
Thời kỳ đă măn (Mc 1,15)
Có một lần người ta đă công
bố, vào ngày 21 tháng 5 năm 2011, Đức Giêsu Kitô sẽ
trở lại và phán xử vũ trụ. Lời tuyên
bố rất rơ ràng, rất khẳng quyết và đầy
xác tín. Đó là câu tuyên bố của ông Harold qua
chương tŕnh phát thanh về gia đ́nh. Chương
tŕnh phát thanh đă quảng bá rộng khắp nguồn tin
trên, kèm theo những lời cảnh báo. Một ít
người đă tin, và đă phân phát tài sản của ḿnh
cho bạn bè, cho hàng xóm và cho cả những người
không quen biết. Chúng ta thử nghĩ xem, ví dụ bạn
đang có một căn nhà sang trọng, hay một chiếc
xe hơi đắt tiền, bạn nghe lời cảnh báo,
và sẵn sàng từ khước mọi sự, không màng
đến những thứ đó nữa. Vào ngày 23 tháng 5,
chương tŕnh phát thanh này lại công bố một
lần nữa và xác nhận là Harold đă nói đúng.
Đức Kitô thực sự đă đến, nhưng theo
như họ nói, Ngài đến một cách linh thiêng.
Cuộc phán xử đă xảy ra, nhưng nó diễn ra
trong âm thầm và bí mật.
Nhưng đây không phải là lần
đầu tiên có người tuyên bố về ngày tận
thế. Vào thế kỷ 19, ông William Miller cũng quy tụ
một số thân hữu lại, và loan báo Chúa Kitô sẽ
đến vào ngày 21 tháng 3 năm 1844. Nhiều người
tin ông ta, và nóng ḷng chờ đợi. Rồi ngày đó
cũng qua đi. Một tín đồ của ông Miller sau
đó lại khẳng quyết, ngày Chúa đến sẽ
được hoăn lại cho tới 21 tháng 10 năm
đó, và điều này đă được nói tới
trong sách ngôn sứ Habacuc. Những người theo ông Miller,
tức môn phái: “Chờ đợi ngày thứ bảy
của Chúa”, vẫn ḱ vọng như thế và họ tin là
việc Chúa đến đă được thực
hiện. Nhưng theo họ, Chúa thực thi cuộc phán xét
vũ trụ một cách thầm lặng chứ không theo
cách thái thông thường như người ta vẫn
nghĩ tưởng.
Tuy nhiên, chúng ta thấy tư tưởng
của Harold và Miller, qua những hạn từ biểu
tỏ sự chờ đợi và vui mừng, khá giống
với tư tưởng của Thánh Phaolô, có lẽ hơn
hẳn chúng ta. Thánh Phaolô cũng nghĩ rằng Chúa Giêsu
sẽ trở lại một cách bất ngờ, và
Đấng Cứu thế sẽ đến ngay trong
thời đại của Ngài (1Thes 4,17). Tư tưởng
xác quyết này càng rơ nét hơn trong thơ thứ nhất
gửi giáo đoàn Côrinthô, đặc biệt qua bài
đọc phụng vụ của Chủ nhật hôm nay.
Thánh Phaolô khởi đầu đoạn văn với
lời khẳng quyết: “Thời gian chẳng c̣n bao lâu
nữa” (1Cr 7,29). Ngài c̣n phác vẽ một viễn cảnh
với năm lời khuyên dạy “Từ nay, ai có vợ hăy
sống như không có, ai khóc lóc hăy làm như không khóc, ai vui
mừng hăy sống như chẳng mừng vui, ai mua sắm
hăy làm như không có ǵ cả, kẻ hưởng dùng của
cải đời này hăy làm như chẳng hưởng.”
Tóm kết những lời khuyên đó, Thánh Phaolô nhấn
mạnh đến động cơ và lư do phải hành
xử như thế, chính là “V́ bộ mặt thế gian
đang biến đi” (1Cr 7,31).
Thánh Phaolô đưa ra sứ điệp
cấp thiết trên, quy chiếu vào lời hiệu
triệu của Đức Giêsu khi Ngài khởi sự ngày
đầu tiên đi rao giảng công khai. Marcô tŕnh thuật
lại lời kêu gọi và cảnh báo của Đức
Giêsu, mà bài Tin mừng hôm nay nhắc tới “Thời kỳ
đă măn, và triều đại Thiên Chúa đă đến
gần. Anh em hăy ăn năn sám hối và tin vào Tin
mừng”. Nơi cả 2 bản văn của Thánh Phaolô và
của Thánh sử Marcô, ư niệm nói về “thời gian” hay
“thời kỳ”, được dịch từ hạn
từ Kairos. Từ ngữ Chronos cũng
nói về thời gian, nhưng đơn giản ám chỉ
về thời gian đang xảy ra trong hiện tại. C̣n
hạn từ Kairos lại nói về một
thời ḱ đặc biệt, một thời cơ đem
đến cho ta, hay một thời khắc quan trọng
của cuộc sống, ví dụ lúc chúng ta đang rơi
vào một khủng hoảng trầm trọng. V́ vậy,
hạn từ Kairos được dùng ở
đây muốn nêu lên một điều quan trọng,
đang xảy ra tại chính thời điểm này.
Đức Giêsu công bố điều quan trọng đó,
đó là thời kỳ Thiên Chúa thực hiện ơn
cứu độ cho con người. V́ thế, Ngài mời
gọi chúng ta phải sám hối. Sám hối, Metanoia,
không phải chỉ là việc chúng ta từ bỏ tội
lỗi. Nhưng trên hết, hành vi sám hối là một
tư thế nội tâm, một động thái toàn diện
nơi con người chúng ta để trở về
với Chúa. Chúng ta phải quyết tâm định
hướng lại, từ suy nghĩ, đến con tim và
trọn cả đời sống, để quy về Thiên
Chúa, đặt Ngài vào vị trí tối thượng nơi
cuộc đời chúng ta. Nước Trời đă
đến gần, và Nước Trời mà Chúa Giêsu gợi
nhắc, mời gọi chúng ta phải thực sự
biến đổi.
Thánh Marcô diễn tả lời gọi mời
của Chúa Giêsu ngỏ trao cho bốn môn đệ
đầu tiên, như là một sức mạnh đến
từ Thiên Chúa. Đó là một lời cầu ngỏ cách
tự nguyện, nhưng cũng là một mệnh lệnh
hiển thị qua uy quyền được diễn bày, mà
con người không thể cưỡng lại. Mệnh
lệnh đó cũng đ̣i hỏi chúng ta phải đáp
trả, ngay hôm nay và ngay lúc này. Trên bờ biển Galilê, Chúa
Giêsu đă thấy Phêrô và Anrê. Ngài truyền lệnh “ Hăy theo
tôi”. Sau đó Ngài gặp Giacôbê và Gioan, và cũng gọi hai
ông với cùng một dạng thức truyền lệnh
giống như thế. Marcô thuật lại, ngay lập
tức cả bốn ông bỏ thuyền và lưới
để đi theo Ngài. Giacôbê và Gioan c̣n bỏ lại
cả cha của ḿnh cùng những người làm công trên
thuyền. Các ông bỏ lại tất cả để
đến với Chúa. Uy quyền Đức Giêsu đă hoàn
toàn chinh phục các ông.
Harold và William Miller đă tiên đoán sai. Thánh
Phaolô th́ không dám khẳng quyết ngày giờ chính xác
Đức Kitô sẽ trở lại, cho dầu vị tông
đồ vẫn ḱ vọng Chúa sẽ đến ngay trong
thời đại của Ngài. Sự kỳ vọng đó
hiển nhiên cũng sai. Tuy nhiên, ở khía cạnh khác, chúng
ta thấy lời khuyên dạy của Thánh Phaolô và của
Chúa Giêsu vạch dẫn cho ta thấy rằng “ Tin mừng
mà Chúa Giêsu đem đến sẽ kiến tạo một
thời kỳ mới, một Kairos mới nơi chính
cuộc đời chúng ta. Tin mừng khuyến mời chúng
ta, cũng giống như một chỉ lệnh rất
mạnh mẽ, là hăy hoán cải, hăy quy hướng trọn
vẹn cuộc sống chúng ta về với Chúa.
Điều đó không phải v́ “ thời gian hiện
tại , tức chronos đang qua đi”, nhưng Kairos “
thời kỳ ân điển, thời cơ mà Chúa gửi đến
để giúp ta hoán cải”, đang được ngỏ
trao cho chúng ta, ngay bây giờ.
Có bao giờ bạn nghĩ rằng, ngày hôm nay
với tất cả những ǵ chúng ta đang vui
hưởng, những niềm vui, những nét đẹp,
những mơ ước chúng ta đang có…. được
đồng hóa với thời điểm cùng tận vũ
trụ mà chúng ta đang phải đối diện hay không?
Giao ước t́nh yêu của Đức Giêsu mới
thật sự là thời điểm sau cùng, là thực
tại cánh chung, là giai đoạn cuối của lịch
sử cứu độ. Giai đoạn cùng tận và
thời điểm cánh chung đó không phải là lúc chúng ta
phải buông xuôi tất cả, giă từ tất cả.
Nhưng trên hết, đó là thời kỳ ân điển
được hiến trao, để chúng ta mạnh
mẽ đi vào thế giới hôm nay, với sức
mạnh và lời gọi mời khẩn thiết của
Đức Giêsu luôn vang vọng bên tai mỗi
người: Hăy ăn năn sám hối và tin vào Tin
mừng.
Đọc lại Phúc Âm chúng ta thấy các môn
đệ đă mau mắn và quảng đại đáp
trả lời mời gọi của Chúa Giêsu. Thực
vậy, ngày kia Chúa Giêsu đi dạo trên bờ hồ, Ngài
nh́n thấy Simon và Andrê đang thả lưới
dưới biển. Ngài bèn lên tiếng gọi: Hăy theo Ta và
Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ
chài lưới người. Lập tức các ông đă
bỏ ghe thuyền chài lưới mà đi theo Chúa Giêsu.
Đi được một quăng, Ngài thấy
Giacôbê và Gioan đang vá lưới dưới thuyền
với cha là Giêbêđê. Ngài cũng lên tiếng gọi: Hăy
theo ta. Lập tức các ông đứng dậy, bỏ cha
già ở lại với những người làm công mà
đi theo Chúa Giêsu.
Lần khác, tại Capharnaum, Chúa Giêsu đi
ngang qua một bàn thu thuế, nh́n thấy Matthêu, Ngài
liền phán: Hăy theo Ta. Lập tức Matthêu đă bỏ
mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu.
Từ những sự kiện cụ thể
ấy, chúng ta thấy, trước hết là Chúa
Giêsu. Ngài đă không chọn lựa những con
người giàu sang và quyền thế, học rộng và
biết nhiều. Trái lại Ngài đă chọn lựa
những kẻ nghèo túng và đơn sơ làm môn đệ
của Ngài. Ngài biết các ông thiếu khả năng và
bị hạn hẹp rất nhiều. Nhưng đồng
thời Ngài cũng thấy các ông là những người
quảng đại và hết sức nhiệt t́nh. Chính v́
sự quảng đại và nhiệt t́nh này, Ngài đă
bắt tay vào công việc giáo dục các ông. Cắt nghĩa
riêng cho các ông thấu hiểu giáo lư Tin mừng. Trao ban
quyền hành và sai các ông đi thực tập truyền giáo,
để rồi cuối cùng đă ủy thác cho các ông
sứ mạng chèo lái con thuyền Giáo Hội. Trong khi
chọn lựa các môn đệ, có lẽ Chúa Giêsu đă
nghĩ tới Giáo Hội, và nhất là có lẽ Ngài đă
nghĩ tới chúng ta, và muốn nói với mỗi
người rằng: Hăy theo Ta, Ta sẽ làm cho các con trở
thành những kẻ chinh phục người khác…
Tiếp đến là các môn đệ. Lúc
đầu có lẽ các ông chưa hiểu được
sứ mạng của Chúa Giêsu, cũng như con
đường mà Ngài sẽ dẫn dắt các ông. Tuy nhiên
các ông xác tín rằng Chúa cần đến các ông và các ông
đă mau mắn quảng đại đáp trả tiếng
Chúa gọi, bằng cách từ bỏ ghe thuyền và chài
lưới, cha già và nhà cửa, bàn giấy và nghề
nghiệp để đi theo Chúa.
Với chúng ta ngày hôm nay cũng
vậy. Điều quan trọng và cần thiết đó là
chúng ta phải nhận ra tiếng Chúa gọi, nhất là
phải mau mắn và quảng đại đáp trả
tiếng gọi ấy. Chúa nói với chúng ta qua những
biến cố xảy ra, cũng như qua những
người mà chúng ta có dịp tiếp xúc với. Chúng ta có
thể đáp trả bằng một đời sống
đạo đức và thánh thiện, chúng ta có thể
đáp trả bằng những hành động bác ái và yêu
thương. Thực vậy, Chúa cũng kêu mời chúng ta
phục vụ Ngài nơi những người anh em,
thế nhưng chúng ta đă mau mắn và quảng
đại đáp trả hay chưa?
Hăy sám hối và tin vào Phúc âm.
Sau khi nghe bài đọc thứ nhất, tôi
tự hỏi: Nhờ vào đâu mà dân thành Ninivê đă
được Chúa tha thứ, được thoát khỏi
h́nh phạt nặng nề giáng xuống trên họ.
Tôi xin thưa: là nhờ vào tâm t́nh sám hối.
Thực vậy, trước lời cảnh
cáo của tiên tri Giona, họ đă ăn năn và từ
bỏ con đường tội lỗi, để rồi
đă được hưởng nhờ ḷng khoan dung nhân
hậu của Chúa. Chính v́ thế, khi bắt đầu
cuộc sống công khai Chúa Giêsu đă kêu gọi:
- Hăy sám hối và tin vào Phúc âm.
Qua lời kêu gọi ngắn ngủi này, Ngài
muốn chúng ta cộng tác với Ngài trong chương tŕnh
cứu độ. Đúng thế, có lần thánh Augustinô phát
biểu:
- Để tạo dựng nên chúng ta, Chúa không
cần hỏi ư kiến chúng ta, nhưng để cứu
độ chúng ta Ngài cần chúng ta ưng thuận và
cộng tác với Ngài. Bởi v́ Ngài sẽ không thể nào
cứu chuộc chúng ta nếu như chính bản thân chúng ta
lại không muốn.
Sự cộng tác của chúng ta, mặc dù
rất nhỏ bé, nhưng lại là một yếu tố
quan trọng và có tầm mức quyết định.
Cũng trong chiều hướng đó, chúng
ta thấy tâm t́nh sám hối ăn năn, chính là sự
cộng tác của chúng ta vào với ơn Chúa, chính là như
một thứ tiền bạc thiêng liêng để chúng ta
mua lấy ơn tha thứ.
Chàng trai phung phá sở dĩ đă
được người cha đón nhận, là v́ chàng
đă có can đảm chỗi dậy, trở về nhà cha.
Phêrô sở dĩ đă được Chúa tha thứ và
được đặt làm đầu Giáo Hội, là v́
ông đă biết đấm ngực sau những lầm
lỗi của ḿnh. Mađalêna sở dĩ đă
được Chúa tha thứ, là v́ nàng đă biết khóc
thương cho quăng đời nhơ nhuốc trong dĩ
văng. Anh trộm lành trên thập giá, sở dĩ đă
được Chúa tha thứ, là bởi v́ anh đă
quyết tâm trở về cùng Chúa, mặc dù chỉ trong
những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Nếu như gịng nước rửa tội
tẩy xóa mọi dấu vết của tội nguyên
tổ, th́ những giọt nước mắt ăn năn
sám hối, cũng chính là một thứ nước có
sức gột rửa những dấu vết của
tội lỗi mà chúng ta đă trót vấp phạm.
Để nói lên sự cần thiết phải cộng tác
với ơn Chúa, tôi xin kể lại một mẩu
chuyện sau đây:
Sau khi cuộc thế chiến lần thứ
hai kết thúc, có một toán lính đồng minh đi giúp
những người dân xây dựng lại cuộc sống
trên đống gạch hoang tàn đổ vỡ. Họ làm
lại nhà cửa, sửa chữa ngôi nhà thờ trong làng. Nhưng
đến khi dựng tượng Chúa th́ toán lính không t́m
đâu ra hai bàn tay của pho tượng đă bị bom
đạn cắt cụt. T́m kiếm suốt một ngày
trong đám xà bần mà cũng chẳng thấy. Toán lính bèn
chịu thua. Sau khi dựng bức tượng lên, viên
sĩ quan đă ghi lại một hàng chữ như sau:
- Dân làng sẽ thay Chúa làm những công việc
mà đáng lẽ hai bàn tay Chúa sẽ làm.
Một người đau khổ nghèo túng kêu
cầu Chúa, và cần đến chúng ta để an ủi
và giúp đỡ họ. Chúa dùng bàn tay của chúng ta
để xoa dịu những nỗi bất hạnh
của người khác.
Cuộc sống của chúng ta phải là
một sự nối tiếp công tŕnh của Chúa, phải
là một sự kéo dài cho sự hiện diện đầy
t́nh thương của Ngài cho đến tận cùng
thời gian.
Chúa đă chết trên thập giá để
lập nên kho tàng cứu độ, thế nhưng, chúng ta
phải biết giơ bàn tay lên để đón nhận
ơn cứu độ ấy cho bản thân và cho những
người chung quanh của chúng ta.
Nhiều lần đài phát thanh, truyền h́nh,
trong mục nói về giáo dục trẻ em, giới
thiệu chương tŕnh hoạt động của anh Thảo
Đàn ở thành phố Hồ chí Minh. Trước đây,
Thảo Đàn là một trẻ của đường
phố, bỏ nhà đi lang thang bụi đời, tệ
hơn nữa, vướng vào nghiện hút. Nhưng khi
hiểu được tác hại của ma tuư, anh quyết
tâm cai nghiện. Với ư chí cương quyết, anh đă
hoàn toàn dứt bỏ được ma tuư. Chừa
được ma tuư rồi, anh không chỉ hài ḷng với
việc làm lại cuộc đời cho bản thân,
nhưng c̣n muốn dùng kinh nghiệm của ḿnh để
giúp đỡ các trẻ em đường phố. Với
sự hỗ trợ của Nhà Nước và các tổ
chức từ thiện, anh mở ra một trung tâm qui
tụ 200 trẻ em đường phố. Tại đây,
anh giáo dục cho các em hiểu biết những nguy hiểm
đang ŕnh rập các em, giúp các em bảo vệ quyền
lợi của ḿnh và nhất là t́m cách đưa các em
hội nhập vào đời sống xă hội.
Điều mà Thảo Đàn đă làm cho
bản thân ḿnh và đang muốn làm cho các trẻ em
đường phố, đó là đổi mới
đời sống. Không biết anh có đạo hay không,
nhưng anh đang thực hiện Lời Chúa trong các bài
sách thánh hôm nay. Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri
Gio-na kêu gọi dân thành Ninivê đổi mới đời
sống để được tha thứ. Trong bài Tin
Mừng, Đức Giêsu kêu gọi dân Do thái đổi
mới đời sống để đón nhận
Nước Chúa đang đến. Đáp lại lời
Người, các môn đệ bước theo Đức
Giêsu trong một đời sống mới. Cuộc
đổi mới được tiến hành qua ba
bước.
Bước thứ nhất: Nhận biết
ḿnh tội lỗi.
Tội lỗi như một cơn mê làm ta
đắm đuối không nhận biết t́nh trạng tâm
hồn của ḿnh. Muốn đổi mới, cần
phải thức tỉnh, nh́n rơ sự thực về ḿnh,
thấy rơ t́nh trạng tội lỗi, hiểu biết
sự nguy hại của tội. Thảo Đàn bừng
tỉnh sau những lầm lỡ, nhận thức ḿnh
đang đứng bên bờ vực thẳm, nên đă
kịp dừng chân. Dân thành Ninivê, sau khi nghe tiên tri Giona rao
giảng, ư thức về t́nh trạng nguy ngập của
thành, nên đă chấm dứt t́nh trạng tội lỗi.
Để biết rơ t́nh trạng tâm hồn, để
nhận biết tội lỗi, cần phải siêng năng
xét ḿnh. Xét ḿnh giống như ngọn đèn pha soi vào
tất cả những ngơ ngách trong tâm hồn, phơi bày ra
tất cả những ǵ c̣n ẩn giấu. Xét ḿnh giống
như cái cuốc đào bới những tầng lớp sâu
thẳm của tâm hồn để lộ ra những
tội lỗi c̣n bị thời gian, sự quên lăng và
sự vô t́nh vùi lấp.
Bước thứ hai: Sám hối.
Khi đă nhận biết tội lỗi, tâm
hồn phải tiến tới một thái độ tích
cực hơn, đó là sám hối. Nhận thức tội
lỗi giống như ta nh́n thấy một căn nhà rác
rưới bẩn thỉu. Sám hối là bắt tay vào quét
dọn sạch sẽ. Sám hối như gịng nước
gột rửa linh hồn. Sám hối như chiếc dao
mổ của bác sĩ cắt bỏ những ung nhọt
gieo mầm mống bệnh tật. Sám hối càng mănh
liệt, tội lỗi càng lùi xa. Sám hối càng sâu xa, linh
hồn càng mau chóng hồi sinh. Nhờ sám hối sâu xa,
Thảo Đàn đă từ bỏ con đường nghiện
ngập. Nhờ sám hối mănh liệt, dân thành Ninivê đă
bảo nhau, từ người già đến em bé
đều xức tro, ăn chay cầu nguyện, quyết
tâm từ bỏ con đường tội lỗi. Tâm
hồn sám hối là tâm hồn được chuẩn
bị sẵn sàng để đón nhận ơn Chúa.
Bước thứ ba: Đổi mới
cuộc đời.
Sám hối chân thành bao giờ cũng đi
đến đổi mới cuộc đời. V́ sám
hối là muốn đoạn tuyệt với con
đường xưa cũ để bước vào
một con đường mới. V́ tâm hồn sám hối
không những muốn sửa chữa lại những
lỗi lầm quá khứ mà c̣n quyết tâm xây dựng
một tương lai tươi mới,trong sạch
hơn, tốt đẹp hơn, ích lợi hơn. V́
muốn hoàn toàn đổi mới, Thảo Đàn không
chỉ tránh xa nhưng c̣n dấn thân giúp người khác đâú
tranh chống tệ nạn xă hội. V́ muốn đổi
mới cuộc đời, các tông đồ đă từ
bỏ nếp sống cũ, từ giă những
người thân, bỏ hết tài sản để lên
đường đi theo Chúa. Con đường mới là
con đường theo thánh ư Chúa, con đường
dẫn ta đi trong t́nh yêu mến Chúa và yêu mến anh em.
T́nh yêu mến sẽ làm cho đời sống ta có ư
nghĩa và trở nên phong phú v́ sẽ đem lại
những hoa quả thiêng liêng. Bước đi trên con
đường mới, ta sẽ đón nhận
được Nước Chúa đang đến.
Bước đi trên con đường mới, ta sẽ
góp phần đem Nước Chúa đến với anh em.
Đầu năm mới, ai cũng có
ước mong mọi sự mới mẻ. Không ǵ
đẹp hơn một tâm hồn đổi mới.
Để đổi mới tâm hồn, ta hăy nhận
biết tội lỗi và ăn năn sám hối. Với
ơn Chúa giúp và với quyết tâm đổi mới, ta
sẽ nh́n thấy những việc cần phải làm.
Với những việc làm do Chúa Thánh Thần hướng
dẫn, ta sẽ thực sự bước vào Năm
Mới với cả tâm hồn đă được
đổi mới.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin hăy đổi
mới mọi sự trong ngoài của chúng con.
GỢI Ư CHIA SẺ
1) Đức Thánh Cha viết cho giới
trẻ: "Quả thật, Đức Giê su là
người bạn khó tính nhất. Người chỉ cho
ta những đỉnh cao và đ̣i ta phải ra khỏi
chính ḿnh để gặp Người." Hiện nay,
Đức Giê su đang mời bạn chinh phục
những đỉnh cao nào?
2) Để đổi mới cuộc
đời, bạn phải từ bỏ nhiều
điều. Nhưng quan trọng hơn cả là từ
bỏ chính ḿnh. Bạn có kinh nghiệm ǵ về cái tôi
của bạn. Cái tôi ấy ra sao (cứng cỏi,
bướng bỉnh, khép kín, tự ái, tự măn.....).
3) Chừa bỏ tật xấu có dễ không?
Ta nên có thái độ nào đối với người
nghiện hút, rượu chè?
"Hăy theo Ta". Đó là lời Đức
Giêsu mời gọi những Tông Đồ đầu tiên
bước theo Đức Giêsu. Các ông mau mắn
bước đi theo tiếng gọi ấy. Chúng ta hăy nh́n
xem thái độ của các ngài như thế nào? Các ông mau
mắn đứng dậy, bỏ mọi sự để
ra đi. Các ông đă bỏ mọi sự, bỏ cha mẹ,
bỏ người thân. Kể cả bỏ những ǵ
đă từng làm vướng bận tay chân các ngài bấy
lâu nay: đó là chiếc lưới với những mớ
dây chằn chịt đă từng trói chặt đôi chân các
ngài, không cho các ngài đi đâu . Bỏ lại tài sản là
chiếc thuyền chài với biết bao kỷ niệm
gắn bó ở đó để lên đường theo
tiếng gọi Giêsu.
Chỉ nghe tiếng gọi: " Hăy theo
Ta", thế là tất cả giờ đây cả
những điều thân thiết nhất, những
điều từng gắn bó với các ngài đều
trở nên vô dụng trước tiếng gọi của
t́nh yêu cao cả ấy. Các ngài đă dứt khoát với
những ǵ gần gũi với ḿnh bấy lâu nay
để bước đi mà không cần biết ḿnh
đi đâu, cũng không cần biết tương lai ḿnh
rồi nó sẽ như thế nào và cũng chẳng cần
biết phải làm ǵ. Một cuộc đổi
đời không có dự liệu...Các ngài chỉ cần
biết nghe theo tiếng gọi và đáp trả là
đủ. Cuộc đời các ngài đă trung thành với
tiếng gọi. Các ngài đă làm tṛn những ǵ mà tiếng
gọi đ̣i hỏi, cho đến nỗi đă dám hy sinh
cả mạng sống v́ tiếng gọi.
Lời mời gọi đó vẫn c̣n vang lên
mănh liệt qua từng thời đại. Nh́n lại trong
bối cảnh xă hội của chúng ta ngày hôm nay, tuy
sống trong xă hội mang tiếng là "hưởng
thụ", duy đ̣i hỏi nhu cầu nhưng hằng
ngày hằng giờ nếu chúng ta chịu khó để ư
chúng ta cũng sẽ thấy, sẽchứng kiến,
sẽ biết có nhiều "tâm hồn" bước
theo để đáp trả "tiếng gọi T́nh yêu
của Đức Giêsu" ấy. Họ dám từ bỏ
những ǵ là cầnthiết và thân thiết nhất kể
cả cha mẹ, người thân, nghề nghiệp, dự
định tương lai...một cách dứt khoát mà không
do dự. Tiếng gọi ấy bao phủ tất cả,
nó lấn át tất cả. Khi đó họ không cần
biết những ǵ sẽ chờ đợi ḿnh, không
cần biết tương lai sẽ ra sao. Họ chỉ
cần biết, giờ đây họ hành động theo
lệnh lệnh của con tim mách bảo và bước theo
tiếng gọi của t́nh yêu. Như thế họ bắt
đầu một cuộc đời mới mà không cần
nghĩ suy điều ǵ cả. Và họ đă bước
theo và trung thành cách tốt đẹp.
C̣n đối với chúng ta, tiếng gọi
t́nh yêu cao cả đó cũng đă vang đến bên tai
mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng đă đáp
lại từ khi lănh nhận bí tích rửa tội.
Được lănh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi
người được mời gọi bước theo
để sống và làm chứng cho Đức Giêsu, dứt
khoát và bước đi theo tiếng gọi. Nhưng
rồi từng giờ, từng ngày trôi qua và giờ đây
mỗi người nh́n lại ḿnh xem: Chúng ta đă sống
theo tiếng gọi như thế nào? Mệnh lệnh con
tim thuở ban đầu giờ đây chắc không c̣n
đủ "lửa nhiệt huyết" lắm
đối với sự đáp trả của chúng ta.
Bởi v́ thỉnh thoảng chúng ta vẫn c̣n trở về
cây - đa - cũ bến - đ̣ xưa, để t́m
lại những bạn bè năm xưa, trở về chốn
Ai - Cập xưa để t́m "củ hành - củ
tỏi" . Đó là mỗi khi phạm tội, là chúng ta
đă trở về với con người chưa
được kêu gọi. Mặt khác, chúng ta cũng c̣n
để cho những mớ chày lưới rối tung
đó quấn chặt, bao vây những bước chân
của ḿnh để rồi không thể tiếng
bước thêm được nữa. Cũng có những
lúc chúng ta để cho những t́nh cảm riêng tư trong
con người nỗi lên lấn át cả tiếng gọi
linh thiêng của mối t́nh cao cả mà ngày nào ḿnh đă can
đảm bước theo. Nhưng giờ đây đôi lúc
chúng ta sợ sệt: sợ không c̣n ai yêu thương ḿnh,
nếu sống theo tiếng gọi mà ḿnh đă bước
theo, sợ thiệt hại bản thân - mất lợi
lộc vật chất nếu sống đúng với những
ǵ tiếng gọi đ̣i hỏi, sợ mất đi
một chút thời giờ quí báu để hưởng
thụ cho thân xác nếu ḿnh sống đúng với
những ǵ sứ mệnh của tiếng gọi đ̣i
hỏi. Nỗi lo sợ đó là những mớ dây chày
lưới đă trói bược đôi chân, khiến chúng
ta không thể bước đi thoải mái theo tiếng
gọi và trung thành với những ǵ mà t́nh yêu cao cả
đ̣i buộc chúng ta. Chúng ta hăy xin lỗi Chúa v́ những
lỗi lầm mà chúng ta đă phạm, điều này đă
xúc phạm đến t́nh yêu bao la vô bờ bến mà Chúa
đă thương dành cho chúng ta. Chúng ta hăy thật sự
hối tiếc v́ những lỗi lầm ấy và thật
ḷng ăn năn xin lỗi Chúa. Chúng ta hăy quyết tâm đáp
trả chân thành và nhiệt t́nh , hết ḿnh với t́nh yêu
thương mà Chúa đă thương mời gọi chúng ta
theo Chúa. Chúng ta hăy dấn thân hơn. Chúng ta hăy mau mắn
đáp trả. Nếu tất cả mọi lời nói ,
mọi việc làm của chúng ta đều phát xuất
bởi t́nh yêu của Chúa, nếu chúng ta biết hành xử
với người khác bằng tất cả t́nh yêu
thương mà Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta, nếu
chúng ta biết sống như thế nào để
người khác nhận ra t́nh yêu của Thiên Chúa đang
hiện diện nơi chúng ta th́ như thế là chúng ta
đă sống trọn vẹn và trung thành với tiếng
gọi t́nh yêu của Thiên Chúa. Con người ai cũng có
con tim để biết yêu thương và đáp trả.
Xin Chúa cho chúng ta biết dùng con tim ấy để biết
yêu và đáp trả lời mời gọi yêu thương
của Chúa dành cho chúng ta.
Lạy Chúa , xin cho chúng con biết chọn Chúa
và quyết tâm theo Chúa đến cùng.
(Suy niệm của Jean-Yves Garneau)
Không bao giờ chúng ta coi trọng Lời Chúa
mà lại không thay đổi ǵ trong đời sống
của ḿnh.
Thiên Chúa lên tiếng.
Chúng ta thuộc vào số những kẻ tin
rằng Thiên Chúa đă ngỏ lời với nhân loại và
Ngài vẫn tiếp tục ngỏ lời bằng nhiều
cách.
Các biến cố xảy đến trên
thế giới hoặc trong chính cuộc đời chúng ta
thường là Lời Chúa: một thiên tai, một chiến
thắng trên bệnh tật, cái chết của một
người thân, một đứa con ra đời,
một cử chỉ tử tế hoặc thù hằn mà
người nào đó làm cho chúng ta. Có bao nhiêu sứ
điệp của Thiên Chúa mà ta cần biết nhận ra.
Cả Thánh Kinh nữa, tức là Lời mà
Thiên Chúa đă nói với loài người suốt lịch
sử thánh và đă được ghi chép cẩn thận.
Luôn luôn mang tính thời sự. Lời này được
loan báo và giải thích cho chúng ta mỗi Chúa nhật. Bất
cứ lúc nào chúng ta cũng có thể đọc, suy gẫm
và đào sâu Lời này.
Chắc chắn, Lời Chúa luôn luôn ở trong
tầm tay chúng ta như một ánh sáng có thể soi sáng chúng
ta, như một nguồn suối, mà bao giờ chúng ta
cũng có thể đến giải khát.
Trân trọng Lời Chúa.
Tuy nhiên, vấn đề là biết
được chúng ta đă làm ǵ với Lời Chúa. V́,
đọc và nghe Lời Chúa chưa đủ, ta cần
phải đem ra thực hành nữa. Biết Lời Chúa
không đủ, c̣n phải lấy Lời Chúa mà
hướng dẫn đời ḿnh nữa.
Những ǵ được nói với chúng ta
trong các bài đọc Thánh lễ hôm nay soi sáng và thách
thức chúng ta. Ngôn sứ Giona rao giảng khắp thành
phố Ninivê loan báo h́nh phạt của Chúa. Dân chúng trong thành
phố lớn này có thể giả điếc làm ngơ và
tự nhủ Giona này chỉ là một tiên tri giả thôi
hoặc là một kẻ mơ mộng, không b́nh
thường. Nhưng trái lại, họ đă khôn ngoan tin
rằng người này nói nhân danh Thiên Chúa và họ đă
đáp lại lời giảng của ông: họ ăn chay
và thay đổi cuộc sống. như vậy, họ
đă khiến Thiên Chúa “từ bỏ h́nh phạt mà Ngài
đe dọa họ”.
Vậy việc trân trọng Lời Chúa đă
khiến dân thành Ninivê thay đổi cuộc sống.
Đối với họ, không phải chỉ kính cẩn,
chăm chú nghe Lời Chúa, chỉ suy gẫm Lời Chúa mà
thôi, c̣n phải hành động theo những đ̣i hỏi
của Lời ấy nữa. Lời Chúa đ̣i hỏi
gắt gao.
Cũng một sứ điệp như
vậy trong Tin Mừng. Trước lời mời gọi
của Chúa Giêsu, các tông đồ tương lai đáp
trả bằng cách biến đổi hoàn toàn cuộc
sống của họ. “Tức khắc, họ bỏ
lưới, (Simon và Andrê) để đi theo Chúa Giêsu”.
Giacôbê và Gioan em ông cũng làm như vậy
nữa “bỏ cha và những người làm công lại
trong thuyền, họ đi theo Ngài”.
Chúng ta đừng đọc trang Thánh Kinh này
như một câu chuyện thần tiên trong đó các anh hùng
giải quyết mọi sự mà không cần cố
gắng. Đối với Simon và Andrê, đối với Giacôbê
và Gioan, đối với dân thành Ninivê, quyết
định trân trọng lời mời gọi của Thiên
Chúa là điều vất vả. Quyết định
ấy đă đ̣i hỏi thay đổi cuộc sống.
Ta không thể thật sự trân trọng
Lời Chúa mà không bao giờ thay đổi ǵ cả trong
cuộc sống của ḿnh. Đây là sứ điệp
của hôm nay. Về điểm này, chúng ta phải tự
hỏi: trong cụ thể, chúng ta làm ǵ với Lời Chúa
mà chúng ta đă nghe từ Chúa nhật này đến Chúa
nhật khác? Trong bao nhiêu năm nay chúng ta đă đi
lễ, chúng ta có thực sự coi trọng Lời Chúa
vẫn được loan báo và giải thích cho chúng ta không?
Chúng ta hăy chính xác hơn nữa: chúng ta có thể kể ra
những lần chúng ta đă thay đổi điều ǵ
đó trong cuộc sống của ḿnh vài Lời Chúa ta
đă nghe không?
Thời gian thật ngắn ngủi.
Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Côrintô:
“Thời gian thật ngắn ngủi”. Vậy không phải
ngày mai mà ngay hôm nay chúng ta phải t́m cách gạt đi
những ǵ giả tạo hay vô ích trong cuộc sống chúng
ta và tập trung vào điều chính yếu. Những ǵ dân
Ninivê đă làm. Những ǵ các môn đệ sơ khởi
đă làm.
Chắc hẳn chúng ta cần một ơn
đặc biệt để hành động như
vậy. Ơn này không thiếu cho chúng ta đâu. Hôm nay Thiên
Chúa không ít quảng đại hơn hôm qua đâu. Vậy
chúng ta hăy nài xin Ngài cho chúng ta được ơn không
những biết nghe Lời Chúa mà c̣n biết “đem ra
thực hành” nữa. “Không phải những kẻ nói:
“Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước
Trời đâu, nhưng những kẻ thực thi ư Cha Ta
trên trời” (Mt 7,21).
(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)
Hầu hết mọi người đă
được nghe về câu chuyện tiên tri Giona bị con
cá voi nuốt. Điểm chính của câu chuyện này th́
bị lăng quên, nếu chúng ta không biết hoặc không
nhớ thế nào mà ngài đă lâm vào t́nh trạng bi đát
đó. Thiên Chúa đă kêu gọi Giona làm tiên tri cho
Người và đến rao giảng cho những
người dân trong thành Ninivê. Giona không đơn giản
là một tiên tri dễ bảo như tiên tri Isaia, Giêrêmia,
Amos. Ngài đă làm một cuộc cách mạng chống
lại những ước muốn của Thiên Chúa. Lư do
của ngài là người dân Ninivê không phải là dân Do Thái.
Họ là kẻ thù của người Do Thái. Giona sợ
rằng những người dân Ninivê sẽ nghe những
lời rao giảng của ông, thống hối và sẽ
trở nên có ơn nghĩa với Thiên Chúa. Đó là
điều sau cùng mà ông muốn xảy ra. Yêu cầu Giona
rao giảng cho những người dân thành Ninivê th́
giống như yêu cầu một cổ động viên
của Dalas Cobow cầu nguyện cho đội Francico
Fortinight chiến thắng Super Bowl.
Khi Giona cố gắng chạy trốn Thiên
Chúa. Ông ta lên một chiếc thuyền và sau đó liền
lâm vào một cơn băo đe doạ đến sự
sống của toàn thuyền, khi ấy những
người thuỷ thủ kết luận rằng, Giona
chính là vấn đề nên họ đă liệng ông ra
khỏi thuyền. Ông bị nuốt bởi một con cá
khổng lồ, Thiên Chúa ra lệnh cho cá nhả Giona vào băi
biển, đó là đường lối của Thiên Chúa
để nói cho Giona rằng; “Bây giờ anh phải vui ḷng
đi và rao giảng cho người dân Ninivê về những
ǵ sẽ xảy ra”.
Sách Giona th́ giống như những dụ ngôn
của Chúa Giêsu, ở đó tiềm ẩn những bài
học quan trọng để giáo huấn. Giona đại
diện cho những người nhỏ mọn, rất ích
kỷ, người không muốn chia sẻ bất cứ
điều ǵ với người khác và ngay cả Thiên Chúa
nữa. Giona là biểu tượng cho những
người oán ghét người khác, tham lam, và từ
chối sự giảng hoà với kẻ thù của ḿnh, cho
dù họ vẫn trông đợi Thiên Chúa tha thứ tội
lỗi cho họ. Giona đại diện cho những
người đó, những người không hiểu
biết Thiên Chúa.
Thiên Chúa th́ lớn lao nhưng chúng ta có khuynh
hướng nhỏ mọn ti tiểu. Thiên Chúa đang tha
thứ nhưng chúng ta có khuynh hướng từ chối
những kẻ làm tổn thương chúng ta. Thiên Chúa là
Đấng quảng đại nhưng chúng ta có khuynh
hướng trở thành ích kỷ. Dấu hiệu của
Thiên Chúa th́ rất khác biệt với Giona và tất cả
những ai giống như Người là thánh giá. Trong kinh
nguyện Thánh Thể thứ hai chúng ta nói với Chúa Giêsu
rằng: “Ngài đă giang rộng cánh tay trên thánh giá”, Ngài
đă làm như vậy để âu yếm những
người nam, người nữ trong mọi thời và
mọi nơi. Bản dịch từ tiếng Tây Ban Nha làm
cho ư nghĩa này trở nên rơ ràng cảm động hơn:
“Ngài đă giang rộng cánh tay của Người”. Đó là
Ngài muốn vươn đến xa bao nhiêu có thể,
để không một người nào bị loại
trừ khỏi t́nh yêu giao hoà của Người.
Trước khi Ngài hy tế chính ḿnh trên thánh
giá để cứu độ chúng ta. Chúa Giêsu muốn
bảo đảm sứ vụ của Người
được tiếp tục trên mặt đất này,
sau cái chết và sự Phục Sinh của Người. Ngay
sau khi bắt đầu đời sống công khai, Ngài
đă chọn các tông đồ, những người tông
đồ được chọn là những hạt nhân
ở chung quanh Ngài, và họ sẽ h́nh thành Giáo Hội
của Người. Họ sẽ trở thành những
người đánh cá linh hồn với một cái
lưới lớn lao, lưới đó c̣n lớn hơn
là con cá đă nuốt Giona, một cái lưới lớn
như vậy sẽ đủ cho tất cả mọi
người. Chúng ta gọi Giáo Hội Công Giáo bởi v́ Giáo
Hội là hoàn vũ. Giáo Hội đó có khuynh hướng
trở lại qua mọi thời để đến
thời của Đức Kitô ở lại cho đến
khi Ngài trở lại trong vinh quang. Đó là Công Giáo và
cũng là ư nghĩa tất cả mọi dân không ai bị
loại trừ. Mặc dù Giáo Hội đặt nền
tảng được sáng lập tại Giêrusalem nhưng
không phải thuộc về người Do Thái. Mặc
dầu Giáo Hội đặt trung tâm tại Rôma nhưng
không phải là của người Ư. Giáo Hội
được trải rộng chính yếu bởi những
nhà truyền giáo châu Âu nhưng Giáo Hội không là
người châu Âu. Giáo Hội là Công giáo, hoàn vũ. Tất
cả những người Công Giáo đích thực th́ không
đóng kín trái tim của ḿnh với những người
khác như là tiên tri Giona đă làm. Đúng hơn họ
phải trở nên giống như Đức Kitô giang
rộng cánh tay, vươn cánh tay của họ ra
để âu yếm hết mọi người.
(Trích trong: “Niềm Vui Chia Sẻ”)
Vào cuối thế chiến thứ hai,
để thu phục thiện cảm và sự tin
tưởng của người dân trong làng vừa mới
được giải phóng khỏi tay quân đội
Đức quốc xă, toán lính thuộc lực lượng
đồng minh cố gắng lượm lại từng
mảnh vỡ của bức tượng Chúa Giêsu đă
được dựng lên ở quảng trường
trước ngôi nhà thờ nhỏ, trung tâm sinh hoạt
của làng quê miền cực nam nước Italia.
Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đă
gắn lại được gần như toàn bức
tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức
tượng là không thể nào hàn gắn lại được,
v́ các mảnh vỡ quá vụn nát. Sau nhiều giờ bàn
luận và gần như sắp quyết định bỏ
dở công việc, th́ một người trong toán lính có
sáng kiến t́m lấy hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh
tay bị bể nát của bức tượng, rồi
viết vào đó một hàng chữ bất hủ, không
những đánh động được tâm hồn
của những người dân trong làng, mà c̣n thu hút
nhiều khách du lịch đến vùng này để
đọc tận mắt hàng chữ đầy ư nghĩa.
Anh chị em có đoán được hàng chữ này không?
Đó là: “Chính bạn là đôi tay của Chúa”.
Thiên Chúa cần con người. Chúa Giêsu
cần chúng ta như đôi tay nối dài của Ngài. Chúa
Giêsu muốn dùng chúng ta như đôi tay để tiếp
tục sứ mạng của Ngài. Trước khi Chúa Giêsu
bắt đầu rao giảng Tin Mừng ở vùng Galilê,
chắc Ngài đă nghĩ đến việc chiêu mộ các
môn đệ để tiếp tay với Ngài. Làm sao để
mọi người biết rằng đă đến
thời viên măn, Nước Thiên Chúa đă gần kề? Làm
sao để mọi người sám hối và tin vào Tin
Mừng? Chúa Giêsu biết rơ giới hạn của ḿnh. Ngài
cần những người cộng tác để làm tṛn
sứ mạng Chúa Con trao. Ngài cần đến từng
người chúng ta, một viên gạch nhỏ nhưng
cần thiết cho cả ṭa nhà. Chẳng có ai là thừa,
chẳng có ai là vô dụng.
“Anh em hăy làm cho muôn dân trở thành môn
đệ Thầy”, đó là mệnh lệnh
của Chúa Phục Sinh. Ngài vẫn cần đến chúng
ta ngày nào thế giới này c̣n một người chưa
thành môn đệ của Ngài. Chính v́ thế, Chúa Giêsu hôm nay
vẫn ngỏ lời với từng người chúng ta.
Ngài muốn tôi trở thành sự hiện diện của
Ngài cho anh em tôi ở đây, hôm nay.
Ngày xưa, lúc đang đi dọc theo bờ
biển hồ Galilê, Chúa Giêsu đă thấy bóng dáng các anh
đánh cá quen thuộc. Họ có đôi lần tiếp xúc
với Ngài và chắc có lần đă được nghe
Ngài giảng và chứng kiến các phép lạ Ngài làm, kể
từ sau lần được Gioan Tẩy Giả
giới thiệu. Chúa Giêsu thấy họ đang làm việc
hoặc quăng chài dưới biển để đánh
cá hoặc đang ngồi trong thuyền với cha
để vá lưới. Chúa Giêsu chắc đă đứng
lâu nh́n những cảnh tượng đầy t́nh
người này với cặp mắt yêu thương.
Đẹp biết bao h́nh ảnh con người làm chung
với nhau một việc. Họ có tinh thần tập
thể và sau này họ sẽ c̣n làm việc chung với nhau
trên chiếc thuyền lớn là Giáo Hội.
Chúa Giêsu đă thấy Simon và Anrê, Giacôbê và
Gioan. Chúa Giêsu hôm nay cũng thấy chúng ta. Trước khi
kêu gọi chúng ta, Ngài đă ngắm nh́n chúng ta rất lâu.
Hạnh phúc cho người nào được thấy Thiên
Chúa, nhưng cũng phải nói thêm, hạnh phúc cho người
nào được Thiên Chúa thấy, được lọt
vào ánh mắt của Ngài. Chúa Giêsu hôm nay đang thấy chúng
ta. Chúng ta thế nào, Ngài thấy chúng ta thế ấy. Cái
nh́n của Ngài không làm chúng ta bị tê liệt, v́ Ngài
chấp nhận trọn vẹn con người chúng ta,
cả cái yếu đuối và tội lỗi của chúng
ta nữa. Chúng ta không cần phải son phấn, phải
ăn mặc đúng một thời trang để gợi
sự chú ư của Ngài. Chính cái thô thiển mộc mạc
của ta đă thu hút Ngài.
Chúa Giêsu hôm nay bắt gặp chúng ta lúc chúng ta
đang làm một việc ǵ đó, đang mải mê với
một dự tính tốt đẹp. Ngài gặp chúng ta không
phải chỉ trong lúc đọc kinh, dự lễ,
những ngay giữa chợ đời xô bồ, giữa
cái lam lũ vất vả của đời thường,
giữa cái bon chen vật lộn của cuộc sống.
Cuộc gặp gỡ thật bất ngờ. Có thể
điều chúng ta phải dứt bỏ đầu tiên là
công việc ta ưa thích và đang làm, là bầu khí gia
đ́nh ấm áp mà ta đang tận hưởng.
Ở đất nước chúng ta, ơn
gọi thường được hiểu là ơn
sống đời tu sĩ hay linh mục. Thật ra ơn
gọi làm vợ, làm chồng, ơn gọi làm cha, làm
mẹ. Ơn gọi ấy thật là cao quư và nhiều khó
khăn không kém ơn gọi tu sĩ, linh mục. Tin
Mừng hôm nay dành cho mọi Kitô hữu, dù sống ở
bậc nào đi nữa. Tất cả chúng ta đều
được gọi làm môn đệ của Chúa Giêsu “Các
anh hăy theo Tôi”. Đây là lời mời gọi. Ơn gọi
khởi xướng từ một tiếng gọi của
Thầy Giêsu. Chúa Giêsu mời gọi Kitô hữu đi theo
Ngài. Không phải chỉ là đi theo một lư tưởng hay
theo một mục đích cao đẹp, mà là đi theo chính
con người của Ngài. Ơn gọi Kitô hữu là
gắn bó với Chúa Giêsu, nhận Ngài là trung tâm và chóp
đỉnh của đời ḿnh.
“Tôi sẽ làm cho anh em trở thành những
kẻ lưới người như lưới cá”.
Một cuộc biến đổi thực sự, từ
lưới cá đến lưới người, từ
ngư phủ thành Tông đồ. Chỉ Chúa Giêsu mới làm
được cuộc biến đổi đó. Khi
được mời gọi gắn bó với Chúa Giêsu,
chúng ta được mời gọi gắn bó với con
người. Bởi, con người là mối bận tâm
chủ yếu của Chúa Giêsu. Theo Ngài là cùng chia sẻ
nỗi thao thức của Ngài về nhân loại và
đồng bào, đồng lao cộng khổ với Ngài
trong sứ mạng cứu độ.
“Chính bạn là đôi tay của Chúa”. Chính
chúng ta phải là những cánh tay nối dài của Chúa Giêsu.
Sứ mạng cứu độ của Chúa là một
sứ mạng thiêng liêng, nhưng sứ mạng ấy
cần phải được thể hiện bằng
lời nói, bằng hành động. V́ thế, không có ǵ
đáng ngạc nhiên khi giao phó sứ mạng đó cho Giáo
Hội, qua các Tông đồ, qua hàng giáo phẩm, giáo sĩ
và mỗi Kitô hữu chúng ta. Nhờ những hoạt
động bằng đôi tay cụ thể của chúng ta,
Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền Tin Mừng
Nước Trời, trao ban sự sống và dẫn
đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
Là chi thể của Giáo Hội, Thân Ḿnh
Mầu Nhiệm của Chúa Kitô, một Kitô hữu cũng
là đôi tay rộng mở của Chúa Kitô, nhờ đó,
Ngài không ngừng giải tỏa ánh sáng, trao tặng t́nh
thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho
mọi người.
(Trích trong ‘Manna’)
Suy Niệm
Bốn anh thanh niên có gia đ́nh, có nghề
nghiệp lại được Đức Giêsu mời
gọi theo Ngài, bỏ lại tất cả. Chắc
chắn họ không phải là những người nhẹ
dạ. Họ đă từng quen biết Thầy Giêsu và kính
nể Ngài. Đến lúc nào đó, khi được Ngài
hoàn toàn chinh phục, họ đă sẵn sàng ra đi,
nhẹ tênh.
Nhiều người nghĩ rằng
đoạn Tin Mừng này nói về ơn gọi đi tu
của các linh mục tu sĩ. Thật ra đây là
đoạn Tin Mừng nói về ơn gọi của
từng Kitô hữu chúng ta.
Chúa Giêsu vẫn đi ngang qua đời ta
mỗi ngày như xưa Ngài đă dọc theo biển
hồ Ga-li-lê. Ngài thấy ta như Ngài đă thấy
bốn môn đệ. Ngài thấy ta trước khi ta
thấy Ngài. Cái nh́n của Ngài không làm ta bị tê liệt v́
Ngài chấp nhận trọn vẹn con người của
ta. Cả những yếu đuối và tội lỗi
cũng được Ngài đón nhận. Hạnh phúc cho ai
được thấy Thiên Chúa. Nhưng hơn nữa,
hạnh phúc cho ai được Thiên Chúa thấy.
Lúc Ngài thấy ta th́ ta vẫn không hay biết.
Ta vẫn mải mê quăng chài hay vá lưới. Ta vẫn
tất bật với những lo toan đời
thường, hay đang miệt mài theo đuổi một
ước mơ. Chính lúc đó, chính lúc ta tưởng ḿnh
quá ư ổn định, và đời ḿnh đă
được định hướng quá rơ ràng, th́
tiếng gọi của Ngài vang lên, mạnh mẽ, dứt khoát.
Hăy theo tôi!
Mọi người Kitô hữu đều
được mời gọi đi theo Chúa Giêsu. Ngài không
mời ta đi theo một lư tưởng, một ư thức
hệ. Ngài mời ta theo chính con người Ngài, gắn bó
với Ngài, nhận Ngài là nền tảng và chóp đỉnh
của cuộc sống.
Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ
lưới con người.
Con người là điều ta phải quan
tâm, v́ đó là mối quan tâm lớn nhất của Chúa
Giêsu.
Theo Ngài là chia sẻ với Ngài cùng một
sứ mạng, là thao thức và đồng cam cộng
khổ với Ngài trong công việc cứu độ toàn
thế giới.
Chúa Giêsu mời ta dấn thân vào cuộc
đổi đời, mời ta định lại
hướng đi theo những giá trị mới. Như
thế là chấp nhận đổ vỡ, đoạn
tuyệt.
Bốn môn đệ đă bỏ lại
biển cả và những người thân yêu. Vợ con
của Simon và cha của Giacôbê sẽ sống thế nào? Mái
nhà nay vắng bóng những người đàn ông cột
trụ!
Hôm nay Chúa Giêsu vẫn cần bạn, v́
bạn là Kitô hữu. Ngài vẫn thấy bạn, và mời
gọi bạn đáp lại mỗi ngày.
Cần trầm lắng mới nghe
được tiếng th́ thầm của Chúa. Bạn có
thể sống như một giáo dân b́nh thường. lo xây
dựng gia đ́nh, sự nghiệp, tương lai.
Nhưng bạn phải sẵn sàng từ bỏ khi cần,
nghĩa là chọn Chúa, đặt Chúa lên trên mọi giá
trị đó.
Gợi Ư Chia Sẻ
Đức Thánh Cha viết cho giới trẻ:
"Quả thật, Đức Giêsu là người bạn
khó tính. Ngài chỉ cho ta những đỉnh cao và đ̣i ta
phải ra khỏi chính ḿnh để gặp Ngài, bằng
cách trao phó cho Ngài trọn cuộc sống." Hiện nay,
Ngài đang mời bạn chinh phục đỉnh cao nào
trong cuộc sống?
Để theo Đức Giêsu, cần phải
từ bỏ nhiều điều. Nhưng quan trọng
hơn cả là từ bỏ chính ḿnh. Bạn có kinh
nghiệm ǵ về cái tôi của bạn? Cái tôi ấy ra sao
(cứng cỏi, bướng bỉnh, khép kín, tự ái,
tự măn...)?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa,
Chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn
Simon, một người đánh cá ít học và đă
lập gia đ́nh, để làm vị Giáo Hoàng đầu
tiên của Giáo Hội.
Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng
đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước
quyền năng của Chúa.
Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa,
sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia
đ́nh, sự nghiệp, người yêu.
Chúng con chẳng thể nào từ chối
viện cớ ḿnh kém đức kém tài. Chúa đưa chúng
con đi xa hơn, đến những nơi bất
ngờ, v́ Chúa cần chúng con ở đó.
Xin cho chúng con một chút liều lĩnh
của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên
đường, hạnh phúc v́ biết ḿnh đang đi sau
Chúa. Amen.
Thông thường, để cho dễ nhớ
tên của các Tông đồ ta thường nhớ kèm theo
một trong những điểm nổi bật của các
ngài. Chẳng hạn như nói đến vị Thánh sử
viết Tin mừng mà trước kia làm nghề thu thuế
th́ ta sẽ nhớ ngay là Matthêu, nói đến vị Tông
đồ cứng ḷng tin th́ không ai khác đó là Thánh Tôma hay
nói đến Tông đồ được Chúa Giêsu yêu
mến đó là Gioan.... Cũng vậy, khi nói đến
Vị Tông đồ sinh sau đẻ muộn mà có ḷng
hăng say th́ ta không thể nào quên chính là Thánh Phaolô mà chúng ta
mừng lễ hôm nay.
Như chúng ta biết, trước khi trở
lại Thánh Phaolô rất ghét những ai tin vào Chúa Giêsu. Ngài
cho đó là tà đạo. Do đó, hễ nghe nói ở
đâu có người tin vào danh Giêsu là ngài t́m cách đi
bắt ngay. Có thể nói với những người tin vào
danh Giêsu th́ khngài thể đội trời chung với ngài
được. Ngày kia trên đường đi Đamas
để làm việc ấy th́ bỗng có một luồng
sáng chiếu quá khiến ngài ta té xuống ngựa. Kèm theo là
có tiếng "Saolô, Saolô sao ngươi bắt bớ
Ta". (Cv 9, 4)
Sau cuộc đối thoại với Chúa
Giêsu th́ ngài đă thay đổi 180 độ. Trước
kia ngài hăng say đi bắt những người tin vào
danh Giêsu bao nhiêu th́ giờ đây ngài lại hăng say
đi rao giảng danh ấy bấy nhiêu. Đến nỗi
nhiều người thấy vậy đă từ ngạc
nhiên đến hoài nghi và căm giận ngài. Những
nơi nào đến được và những nơi nào
cần th́ ngài đều đến. Nào là Antiôkia, Côrintô, nào
là Galata, nào là Êphêsô....Thậm chí khi bị bắt trong tù ngài
cũng không bỏ việc rao giảng. Ngài đă viết
rất nhiều bức thơ để an ủi những
cộng đoàn ngài đă đi qua. Nếu chúng ta mở sách
Tân ước ra th́ phần lớn những thơ trong
đó đều là của ngài.
Như thế, Thánh Phaolô thật là một con
người hăng say. Chỉ v́ trước kia ngài
hăng say theo suy nghĩ của ḿnh nên ngài đă phạm
phải sai lầm. Nhưng từ khi ngài được
Chúa Giêsu thu phục th́ sự hăng say ấy hoàn toàn theo
thánh ư Chúa. Ngài chỉ c̣n biết hăng say trong ck thôi. Ngài
đă nói: "Tôi sống không phải là tôi sống nhưng
là Đức Kitô sống trong tôi" "Đối
với tôi sống là Đức Kitô" hay "Không có ǵ có
thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức
Kitô".
Qua sự hăng say trong Đức Kitô đó,
chắc hẳn ngài đă sống lời mời gọi và
lệnh truyền của Chúa Giêsu trong đoạn Tin
mừng: "Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên
hạ, loan báo Tin mừng cho mọi thọ tạo" (Mc
16 ,15) một cách rất tuyệt hảo. Từ một con
người hăng say đi bắt những ai tin vào Tin
mừng trở nên một con người hăng say rao
giảng Tin mừng.
Do đâu, Thánh Phaolô đă sống
được như thế? V́ ngài đă cảm nghiệm
được t́nh yêu của Thiên Chúa dành cho ḿnh qua Chúa Giêsu
quá sâu xa đậm đà. Chắc chắn mỗi
người chúng ta cũng đều được Thiên
Chúa yêu thương như vậy. Chỉ khác nhau mỗi
người ở trong những hoàn cảnh và điều
kiện khác nhau. Ước ǵ mỗi người chúng ta
mỗi ngày cảm nghiệm được nhiều hơn
t́nh yêu Thiên Chúa dành cho ḿnh. Để rồi chúng ta cũng
biết noi gương Thánh Phaolô hăng say sống
chứng nhân tin mừng mỗi ngày.
Người ta trở thành kitô hữu.
(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa
Nhật’)
Đoạn Phúc âm này theo thánh Marcô, tỏ cho
chúng ta hai điều: Trước hết chúng ta thấy
Chúa Giêsu rảo qua miền Galilê, để giảng
dạy. Kế đó chúng ta thấy Chúa Giêsu kêu gọi các
môn đệ để họ hợp tác vào sứ mệnh
của Người.
1. GIÁO HUẤN CỦA CHÚA GIÊSU
Giáo huấn ấy gồm một lời loan
báo và một đ̣i hỏi. Lời loan báo Tin Mừng Phúc âm
ấy là thời gian chuẩn bị và chờ đợi
đă gần chấm dứt, Nước Thiên Chúa đă
đến, có thể nhận ra được. Cũng
như vào những ngày cuối đông, chúng ta thường
nói: ‘Xuân sắp về’, th́ Chúa Giêsu cũng vậy, cuối
hạn kỳ cuộc chờ mong lâu dài của Cựu
Ước, Chúa loan báo Nước Trời đă
đến, gần gũi như muà xuân của thế gian.
Nhưng chúng ta phải đủ sức nh́n ra nó và đón
tiếp nó. Để được thế, anh em phải
ăn năn thống hối và tin vào Tin Mừng. Bằng
một thay đổi nào trong nếp sống, chúng ta
phải mở ḷng ra để đón lấy ân huệ
đức tin. Gioan Tẩy Giả chỉ rao giảng
sự ăn năn thống hối. Chúa Giêsu đi xa hơn
và đ̣i Đức tin. Đoạn tiếp của Phúc âm
cho thấy là đức tin đ̣i hỏi ở đây, không
nhắm vào một giaó lư mà là vào một người. Khi Chúa
Giêsu đ̣i hỏi Đức tin, điều đó có
nghĩa là ở địa vị con Thiên Chúa, Người
đề nghị chính Người là đối
tượng của đức tin ấy. Cuối cùng,
nỗ lực ăn năn thống hối có mục
đích làm cho con người có đủ khả năng
gắn bó với Chúa Giêsu.
Khi đă loan báo Nước Trời, Chuá Giêsu
đưa vào một yếu tố mới. Người
muốn sự loan báo ấy được trao phó cho những
người có sứ mệnh đem truyền bá nó ra cho
hết thảy mọi người. Chúa kêu gọi các môn
đệ.
2. KÊU GỌI CÁC MÔN ĐỆ
Chúa Giêsu phán: Hăy đến theo ta và Ta sẽ
làm cho các ngươi trở thành những ngư ông
lưới người. Trong câu nói ấy của Chúa Giêsu,
chúng ta hăy dừng lại ở hai phương diện quan
trọng của lời kêu gọi: Hăy đến theo ta; ta
sẽ làm cho các ngươi trở thành.
a) Hăy đến theo Ta. Lời
mời gọi này của Chuá Giêsu nhấn mạnh
đến tất cả sự khác biệt mà người
đặt vào giữa Người và các nhà thông thái lề
luật. Các nhà thông thái này có nhiều môn đệ, song
họ chỉ truyền lại môt giáo huấn, không hơn
không kém. Một môn đệ nào đó có thể nói: họ
nhận nhà thông thái Lề Luật làm thầy, nhưng
họ vẫn được phép tranh luận với thày,
không chấp nhận mọi điểm thày dạy, và
vượt quá thày. Sự đ̣i hỏi của Chúa Giêsu th́
khác hẳn. Chúa kêu gọi người ta theo Chúa, và trong Phúc
âm tiếng “theo” luôn luôn có nghĩa là gắn bó với con
người của Thày. Điều đó có vẻ thái quá
v́ theo năo trạng người Do Thái, chỉ ḿnh Thiên Chúa
mới xứng đáng cho người ta gắn bó với
Ngài. Điều đó có nghĩa là Chúa Giêsu chiếm
đoạt cho Người lời nói của tiên tri Is. loan
báo một ngày kia hết thảy đều trở nên “môn
đệ của Thiên Chúa” (Is 54,13). Không mạc khải ngay
ḿnh là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu cách gián tiếp đă lôi kéo các môn
đệ vào con đường chuẩn bị cho họ
đón nhận sự mạc khải đó.
b) Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành. Chúa Giêsu
không nói: Ta làm cho các ngươi, cũng không nói cách
đơn giản: Ta sẽ làm cho các ngươi.
Người nói: Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành.
Lời kêu gọi của Chúa Giêsu không có tác dụng làm cho
kẻ được kêu trở nên môn đệ hoàn
hảo ngay trong t́nh trạng cuối cùng. Đây chỉ
mới là một sự lên đường, một sự
khởi đầu, một lời kêu gọi chuyển
động. Người ta trở thành môn đệ
của Chúa, chứ người ta không tức khắc là môn
đệ Chúa. Trước khi là Tông đồ của Chúa
sau Lễ Ngũ tuần, các Tông đồ đă
được Chúa huấn luyện lâu dài, đă được
thử thách, thanh tẩy, kiện toàn. Ngày nay, chúng ta cũng
vậy. Thật ra, chúng ta không thể nói: Chúng ta
đương nhiên là kitô hữu; chúng ta được
Chúa Giêsu kêu gọi trở thành kitô hữu, trở thành môn
đệ Người. Danh từ “theo” mà Chúa dùng ở
đây giả thiết một động tác ấy. “Theo”
có nghĩa là không đứng yên tại chỗ, nhưng là
tiến bước theo sau Thày ḿnh. Do Thánh Linh của
Người, Chúa Kitô phát triển trong chúng ta một công
cuộc huấn luyện, như Người đă huấn
luyện các môn đệ đầu tiên của
Người. Sự h́nh thành về tâm linh của chúng ta
ưu tiên tùy thuộc nơi Người. Phần chúng ta,
Chúa đ̣i hỏi chúng ta phải thừa nhận tác
động của Chúa, phải ngoan ngoăn dễ dạy
đối với Người và phải đặt
đời sống chúng ta trong đời sống của
Người.
Để chuẩn bị chịu phép Thêm
sức, các em thanh thiếu niên phải thiện nguyện
tham gia những việc bác ái như giúp đỡ những
người già yếu, tham gia vào việc xă hội của cộng
đoàn… Sau khi làm công tác, các em họp nhau lại để
chia sẻ cảm nghiệm. Có một em đă kể câu
chuyện giúp đỡ một bà cụ từ siêu thị
Kmart về nhà như sau:
Sáng Chúa nhật em ra ngoài tiệm Kmart, gặp
một bà cụ đang khệ nệ với hai túi xách tay
nặng những hàng hóa mới mua. Bà cụ chỉ có
một ḿnh, vất vả với hai túi xách tay cồng
kềnh, và cứ đi được ít bước
phải dừng lại nghỉ ngơi, em liền
đến xin giúp đỡ. Bà vui vẻ thuận lời
ngay. Nhận thấy hai túi đồ hơi nặng, em
hỏi bà: “Nhà bà có xa lắm không?” bà trả lời: “Không xa
lắm đâu, ở cuối đường kia thôi!”
Lúc đầu em cảm thấy OK, sau một
lúc em hơi mỏi tay. Hai bà cháu đă đi bộ qua
được vài khu phố. Hai cánh tay em bắt
đầu ê ẩm nhưng v́ tự ái em không muốn
nghỉ dọc đường. Tuy vậy, em cứ luôn
miệng hỏi bà cụ xem đă về gần đến
nhà chưa. Mỗi lần hỏi, bà đều trả
lời: “Không xa lắm đâu, gần tới rồi!” Sau
cùng bà quẹo vào một con đường nhỏ. Em mừng
rỡ hỏi: “Phải khu phố này không?” “Không xa lắm
đâu, ở cuối đường kia thôi!” Bà trả
lời.
Bà và em lại bước đi thêm mấy khu
phố nữa. Những bước chân chậm chạp,
nặng nề và đầy nỗ lực. Các ngón tay
của em đă đau và tê cóng lại. Sau cùng bà cụ
dẫn em vào một cái building cho mướn, chừng 5 hay
6 lầu. “Bà ở lầu mấy?” Em hỏi bà cụ. Bà
lại trả lời, “Không xa lắm đâu, mấy
bước ấy mà!” Hai bà cháu lại lết thết
bước lên từng lầu một. Tại mỗi
lầu, em đều hỏi xem có phải bà ở lầu
này không. Sau cùng th́ lên đến lầu thứ 5. Em chia
sẻ rằng em cảm thấy công việc bác ái từ
thiện của em giống như một cuộc mạo
hiểm leo lên núi! Cái khoảng cách bà cụ nói rằng “Không
xa lắm đâu, ở cuối đường kia thôi!”
đă làm em kiệt sức!
Tôi không thể tránh được sự nghi
ngại rằng Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay, có cái ǵ đó
giống như bà cụ: “Thời giờ đă măn và
nước Thiên Chúa đă gần đến. Anh em hăy sám
hối và tin vào Tin Mừng”. Và thánh Phaolô trong bài đọc
II cũng đă kêu gọi giáo dân Côrintô rằng: “Thời
gian chẳng c̣n bao lâu. Vậy từ nay những
người có vợ hăy sống như không có…” À há! Chúa
Giêsu và thánh Phaolô đă nói như thế cách đây đă
hơn 2000 năm rồi, và bây giờ cũng vẫn
chờ đợi măi!
Có phải rằng thời gian của Chúa khác
với thời gian tính của con người không? Trong
thơ thứ hai của thánh Phêrô cũng đă cắt
nghĩa rằng: “Xin anh em đừng quên: đối
với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm
cũng tựa một ngày”. Tại sao Chúa Giêsu nói rằng
thời giờ đă măn mà vẫn cứ phải chờ
đợi?
Vương Quốc Thiên Chúa giữ một vai
tṛ quan trọng trong lời rao giảng của Chúa Giêsu.
Thánh Maccô dùng từ “Vương Quốc Thiên Chúa”, nhưng
thánh Matthêu lại dùng từ “Vương Quốc Trên
Trời”, theo như ngôn ngữ của các thầy Rabbi Do
Thái đương thời. Thực ra cả hai từ
đều đồng nghĩa với nhau.
Trong Phúc âm Chúa Giêsu đă dùng rất nhiều
dụ ngôn khác nhau để công bố và diễn tả
Vương Quốc của Ngài. Nó sẽ tăng
trưởng giống như hạt cải, hạt
giống được gieo xuống đất, trở
thành một cây to lớn, ở đó mọi chim trời
sẽ đến làm tổ. Nó sẽ nâng thế giới lên
như men trong bột, và có thể được coi như
một thực tại vô h́nh, nhưng đang hiện
diện. Nó ẩn hiện giống như lúa lẫn lộn
với cỏ lùng trong một cánh đồng, hay ở chính
giữa “đàn chiên nhỏ bé” đă lănh nhận nó.
Vương Quốc có thể là Giáo Hội
được xây dựng trên Phêrô. Đó cũng là ân
sủng tuyệt hảo của Thiên Chúa ban do làng nhân lành
của Ngài qua dụ ngôn thợ làm vườn nho, hoặc
người ta phải sở đắc bằng tất
cả những ǵ họ có, hay được ban cho ai có tâm
hồn khó nghèo, có thái độ bé thơ, tích cực t́m
kiếm sự công chính, chịu đựng những sự
bách hại, chu toàn thánh ư Chúa Cha, và có t́nh yêu thương
huynh đệ. Muốn vào được Vương
Quốc không phải ai cũng có thể vào được,
nhưng phải chu toàn những đ̣i hỏi, có kẻ
bị đuổi ra ngoài v́ không mặc áo cưới. Theo
nguyên tắc phải hoán cải và tỉnh thức.
“Vương Quốc Thiên Chúa” là một từ
với rất nhiều ư nghĩa. Một ảnh
hưởng thấm nhập vào tâm khảm con người
để con người trở nên một với Thiên Chúa.
Đó là ân sủng và sự hiện diện của Thiên Chúa
nơi các tâm hồn. Một nơi mà t́nh yêu Thiên Chúa cai
trị trong trái tim của ta.
Trong những trang nhật kư của bà Elaine M.
Prevallet trích từ “Occasional Journal” có đoạn như sau:
“Vương Quốc Thiên Chúa ở trong chúng
ta, ở giữa chúng ta, ở trong sức mạnh của
chúng ta, nó có sẵn đó cho chúng ta. Nó có thể bị lôi
kéo ra khỏi chúng ta, và chúng ta có thể lấy nó ra khỏi
những người khác… Chữ “Vương Quốc”
chỉ về một tiến tŕnh phát triển của t́nh
yêu Thiên Chúa trong cuộc sống của con người”.
“Vương Quốc ở trong tôi khi tôi có an
b́nh, khi tôi giữ phẩm giá của ḿnh, khi tôi biết ḿnh
là quư giá trong ánh mắt Chúa, khi tôi sống thẳng thắn
với nhân quyền, khi tôi biết đón nhận và dùng tài
năng, khi tôi có thể cảm tạ Chúa v́ đời ḿnh.
Vương Quốc không ở trong tôi khi tôi
sợ hăi, khi tôi đầy mặc cảm tội lỗi,
khi tôi mất niềm tin, khi tôi bị khinh thường, khi
tôi không biết kính trọng ḿnh, khi tôi nghĩ ḿnh là
xấu.
Vương Quốc ở giữa chúng ta khi
chúng ta cư xử với mọi người như anh
chị em, khi chúng ta có thể tha thứ, khi chúng ta nhân ái
với mọi người, khi chúng ta chân thành trong các liên
hệ, khi chúng ta làm việc cho an ḥa, khi chúng ta chỉ
ước ao làm điều tốt.
Vương Quốc không ở giữa chúng ta
khi chúng ta muốn khống chế người khác, khi chúng
ta chất đầy những tư tưởng báo thù, khi
chúng ta lạm dụng t́nh yêu và sự tin tưởng
của người khác, khi chúng ta không thành thật trong các
tương quan, khi có sự chia rẽ trong gia đ́nh, khi
chúng ta tạo ra đau khổ và ghen tương.
Vương Quốc ở xung quanh chúng ta khi
chúng ta đoàn kết với nhau, khi chúng ta nh́n thẳng vào
cuộc sống, khi chúng ta dấn thân, khi chúng ta phấn
đấu trong kiên nhẫn và vui sướng, khi chúng ta
mời người khác cùng xây dựng, khi chúng ta cảm
tạ Chúa v́ sự hiện diện của Ngài trong chúng ta,
trong gia đ́nh và cộng đoàn chúng ta.
Vương Quốc không ở xung quanh chúng ta
khi chúng ta bị chia rẽ và phân tán, khi chúng ta mù quáng
đối với những vấn đề phải
giải quyết, khi chúng ta không muốn biết, khi chúng ta
đầu hàng trong tuyệt vọng, khi chúng ta làm nản
ḷng người khác, khi chúng ta đổ thừa cho Chúa”.
Vương Quốc Thiên Chúa đă hiện
diện đầy đủ và sung măn nơi chúng ta,
nhưng chúng ta không nhận ra là v́ trong chúng ta và thế
giới này c̣n đầy tội lỗi và bất công. Chúng ta
chưa hoán cải và tỉnh thức như Chúa Giêsu đă
kêu gọi: “Anh em hăy sám hối và tin vào Tin Mừng”.
Giờ đây trên Internet tôi nhận
được một bản thống kê về sự chênh
lệch và bất công trên thế giới. Nếu dân số
thế giới được thu hẹp lại với
cùng một tỷ lệ tương tự vào một ngôi
làng nhỏ chỉ có 100 người, chúng ta sẽ thấy
một h́nh ảnh như sau:
Có 57 người Á Châu, 21 người Âu Châu,
14 người từ cực Nam Bắc, 8 người Phi
Châu.
30 người là da trắng; 70 người
không phải da trắng.
30 người là Kitô hữu; 70 người
không phải là Kitô hữu.
50/o của cải trên thế giới ở
trong tay 6 người và 6 người này là công dân Hoa
Kỳ.
70 người không biết đọc.
50 người thiếu ăn, bị suy dinh
dưỡng.
80 người không nhà không cửa, hoặc
nơi ở thiếu tiêu chuẩn.
Chỉ có một người tốt
nghiệp đại học mà thôi!
Cải thiện đời sống, xóa bỏ
bất công, tránh xa tội lỗi là những lời kêu
gọi thúc dục cấp bách của Tin Mừng để
giúp nhận ra sự hiện diện của Vương
Quốc Thiên Chúa.
William Barclay đă giải thích lời Chúa Giêsu
kêu gọi sám hối như sau: “Chữ sám hối theo
từ ngữ Hy Lạp “metanoia” có nghĩa là một sự
thay đổi của tâm trí. Chúng ta thường lẫn
lộn hai điều: hối tiếc v́ những hậu
quả của tội lỗi và hối hận v́ tội.
Nhiều người rất ân hận v́ sự rối
loạn do tội lỗi gây ra cho họ, nhưng chính
họ lại biết rơ ràng rằng, nếu có thể thoát
khỏi những hậu quả của tội lỗi,
họ cũng sẽ phạm lại y như vậy.
Sám hối thực sự có nghĩa là một
người không chỉ ân hận v́ những hậu
quả của tội ḿnh, nhưng phải tiến tới
việc ghét bỏ chính tội lỗi nữa. Xưa kia,
Montaigne, một nhà khôn ngoan đă viết trong cuốn
tự thuật rằng, “Trẻ em nên được
dạy dỗ phải ghét bỏ tật xấu v́ chính
sự cấu tạo của nó, các em sẽ không chỉ
tránh né trong hành động, mà c̣n phải chê ghét nó trong tâm
hồn tới nỗi chỉ một tư tưởng
về nó thôi cũng đủ làm cho ghê tởm”. Sám hối
có nghĩa là phải ghét tội v́ chính sự tội
tỗi của nó”.
Sách Giáo lư Công giáo khuyên chúng ta: “Nhưng trong
cuộc lữ hành của ḿnh, Giáo Hội đă kinh
nghiệm về “quăng cách giữa sứ điệp ḿnh
phải công bố và sự yếu đuối của
những con người được ủy thác Phúc âm
này”. Vậy phải tiến bước trên con
đường “của sám hối và của đổi
mới…”
Vương Quốc Thiên Chúa chính là ân sủng
của Thiên Chúa đă hiện diện ở giữa chúng ta
để giúp chúng ta chiến đấu với tội
lỗi. Bổn phận của chúng ta là ḥa hợp hành
động của ḿnh với hành động của Thiên
Chúa. Khi chúng ta ḥa nhịp với thánh ư Thiên Chúa, chúng ta
sẽ cảm nghiệm được Nước Thiên
Chúa. Mỗi giây phút hiện hữu trên cuộc đời
là một cơ hội cho con người gặp gỡ
Thiên Chúa và Vương Quốc của Ngài.
Cựu Hoàng Edward VIII của Anh Quốc, vào
năm 1936 khi c̣n đang trên ngai Hoàng Đế nước
Anh, bỗng ông si mê một thiếu phụ thuộc hàng
thứ dân, đă một lần bà ly dị chồng.
Theo luật Anh Quốc, th́ nhà Vua không
được phép cưới một người đàn bà
như thế, v́ là điều xỉ nhục cho quốc
thể. Bởi đó, nhà Vua phải chọn một trong hai
con đường:
1. Phải bỏ mối si t́nh đó, nếu
c̣n muốn là Hoàng Đế cai trị Anh Quốc.
2. Nếu muốn được yêu
đương tự do th́ phải bỏ ngôi vị Hoàng
Đế, trở thành một người thứ dân.
Chỉ v́ muốn đáp tiếng gọi
của ái t́nh, Cựu Hoàng Edward đă chọn con
đường thứ hai, trả lại cho Anh Quốc uy
quyền và mọi danh vọng, để được
cùng người yêu sang Pháp Quốc, sống cuộc
đời b́nh thường như mọi người công
dân khác.
Thế rồi, vào 1972 Cựu Hoàng Edward
bỗng lâm bệnh nặng. Vừa được tin này,
Nữ Hoàng Elizabeth là cháu của ông đang cai trị Anh
Quốc, vội vàng từ Luân Đôn bay thẳng sang Paris,
xin vào thăm bác của bà, nhưng Cựu Hoàng Edward
nhất mực từ chối. Sau v́ Nữ Hoàng năn
nỉ măi, nên ông đă đ̣i một điều kiện là:
Nếu bà muốn được vào thăm ông, th́ phải
phong cho người yêu của ông trở thành hàng công chúa,
để người yêu của ông được nở
mày nở mặt với đời, không c̣n bị
người đời mỉa mai là hạng đàn bà
thứ dân.
V́ t́nh huyết nhục, Nữ Hoàng Elizabeth
đành phải chấp nhận điều kiện
để ông được toại nguyện. Thế là
ông vui sướng đến độ ngất xỉu,
rồi chết luôn ngày 28 tháng 5 năm 1972. Cựu Hoàng Edward
VIII chỉ v́ muốn được tự do theo tiếng
gọi của ái t́nh, ông đă đành bỏ ngai vàng Hoàng
Đế và mọi vinh sang danh vọng; nhưng rồi
lại cũng chỉ v́ muốn danh vọng cho
người yêu của ông, mà ông đă vui sướng
đến chết đi v́ danh vọng. Thật là điên
khùng!
Bài sách tiên tri Jona chúng ta vừa nghe, cho chúng ta
thấy mănh lực của niềm tin tưởng và ḷng yêu
mến vâng nghe Lời Chúa. Tiên tri Jona vừa công bố
lệnh Chúa truyền: " Chỉ c̣n bốn mươi
ngày nữa, thành Ninive sẽ bị phá hủy". Khi nghe
tin đó, chính nhà Vua đă lià bỏ ngai vàng, cởi áo
cầm bào, mặc áo vải thô, ngồi trên đống tro.
Khắp nơi trong thành Ninive, người ta tuân theo sắc
lệnh của nhà Vua và triều đ́nh: Mọi
người lớn bé, già trẻ, cả chiên ḅ, súc vật
đều không được ăn uống của ǵ;
lại cả người lẫn súc vật đều
phải cuốn bao bố. Mọi người đều
khẩn cầu cùng Chúa, quyết tâm cải thiện
đời sống, tẩy trừ gian ác, xin Chúa nguôi
giận và tha thứ tội lỗi cho dân.
Quả thật, Chúa đă thấy họ
thực tâm sám hối cải thiện đời sống,
chừa bỏ tội lỗi, Chúa liền động ḷng
thương xót không thi hành việc giáng họa, tiêu diệt
thành Ninivê, như lời Người đe phạt. Đó
là kết quả của niềm tin tưởng và ḷng yêu
mến.
Bài Tin Mừng hôm nay nhắc lại, sau khi
Gioan Tiền Hô bị tống ngục, Chúa Giêsu đến
xứ Galilea và rao giảng rằng: " Thời giờ
đă măn và Nước Thiên Chúa đă gần đến; anh
em hăy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".
Thế rồi, đi dọc theo bờ biển,
Người gặp Simon và Andrê đang thả lưới,
Người phán bảo hai anh em: "Hăy theo Ta, Ta sẽ làm
cho các ngươi trở thành những kẻ chài
lưới người". Lập tức hai ông bỏ
chài lưới đi theo Chúa. Đi một chút nữa, Chúa
lại gặp Gioan và Giacôbê là hai con ông Giebeđê đang
xếp lưới, Người cũng gọi họ.
Lập tức hai anh em cũng từ bỏ thân phụ và
các người làm công để đi theo làm môn đệ
Chúa Giêsu.
Các vị này đă dứt khoát bỏ mọi
sự, để dấn thân theo Chúa ngay, cũng chỉ v́
niềm tin tưởng và ḷng mến yêu đặt nơi
Đấng đă kêu gọi họ. Chính niềm tin
tưởng ḷng yêu mến đó, c̣n có mănh lực
đến nỗi, đă làm cho các ngài sẵn sàng chấp
nhận mọi gian khổ, cùng với Chúa đi khắp
đó đây để rao giảng Tin Mừng Cứu
Độ cho muôn dân; rồi cuối cùng, các ngài đều
sung sướng được chịu chết, để
minh chứng niềm tin yêu nơi Chúa, như tiểu sử
các ngài đă từng ghi nhận:
Thánh Phêrô sau những năm theo Chúa rao
giảng Tin Mừng, làm việc ngày đêm, long đong
vất vả, trốn tránh ngược xuôi, ra tù vào khám.
Ngài đă rảo khắp miền Anitoche và vùng Tiểu Á
thực thi sứ mạng Chúa ủy thác dù phải gặp
biết bao gian truân. Cuối cùng, ngài đă phải lănh án
tử h́nh thập giá; nhưng ngài đă xin được
đóng đinh ngược đầu xuống, để
tôn kính Chúa và để người ta khỏi lầm
tưởng ngài với Thầy Chí Thánh ḿnh.
Cũng vậy, Thánh Andrê cũng chịu
đóng đinh trên thập giá suốt hai ngày trời, sau
nhiều năm rao giảng Tin Mừng và ca tụng Thầy
Chí Thánh trước mặt muôn người.
Thánh Giacôbê th́ bị dân chúng xua đuổi
hết thành này đến thành khác, nếm đủ mùi
khổ thống. Cuối cùng, ngài đă bị chém
đầu để chứng minh cho Thầy ḿnh.
Cùng một số phận, Thánh Gioan Tông
Đồ được Chúa Giêsu yêu thương
đặc biệt, được Chúa trao sứ mạng
phụng dưỡng Mẹ Maria; và sau cuộc đời
gian khổ v́ Tin Mừng, ngài đă bị quảng vào
vạc dầu sôi, chịu chết để minh chứng
cho niềm tin yêu và ḷng trung thành của ngài với
Đấng ngài yêu mến.
Để minh chứng niềm tin yêu của
chúng ta nơi Chúa, chúng ta đă làm ǵ? Chỉ một
tiếng gọi của ái t́nh, được thỏa măn
ḷng si mê một người đàn bà thứ dân, Cựu
Hoàng Edward đă sẵn sàng từ bỏ ngai vàng Hoàng
Đế và mọi vinh sang phú quí triều đ́nh Anh
Quốc.
C̣n chúng ta, chúng ta đă có thái độ nào khi
nghe lời thống thiết Chúa kêu gọi: " Hăy sám
hối và tin vào Tin Mừng", để được
hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời trong Nước
Thiên Chúa?
Chúng ta hăy noi theo gương dân thành Ninive,
cấp bách đáp lời tiên tri Giona kêu gọi bỏ
đàng tội lỗi, sám hối cải thiện
đời sống, để đáng được Chúa thương
ban ơn tha thứ.
Chúng ta hăy mau mắn đáp lại Lời Chúa
mời gọi: " Hăy theo Cha" và hăy anh dũng dấn
thân theo Chúa, trung kiên thực thi sứ mạng tông
đồ, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ,
và nếu cần sẵn sàng hiến cả mạng sống
ḿnh, để minh chứng niềm tin yêu nơi
Đấng đă yêu thương kêu gọi chúng ta, theo
gương các Thánh Tông Đồ đă chịu chết v́
Thầy ḿnh.
Chúng ta hăy sống niềm tin vào tinh thần
Tin Mừng, vào những giáo huấn của Chúa và những
lời dạy dỗ của Giáo Hội như Chúa và Giáo
Hội đă kêu gọi.
Kết Luận
Chớ ǵ chúng ta luôn có tâm hồn ngoan thảo
thưa với Chúa: Lạy Chúa, xin chỉ bảo cho chúng con
biết đường lối Chúa. Xin cho chúng con luôn
biết lắng nghe Lời Chúa và biết can đảm, anh
dũng dấn thân sống Lời Chúa, để chúng con
cũng được Chúa chúc phúc như chính Chúa đă kín
đáo chúc khen Mẹ Chúa: "Hạnh phúc hơn nữa cho
những ai biết lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên
Chúa" (Lc 11:28).
“Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Tin Mừng
là ǵ? Có ǵ quan trọng mà người ta phải sám hối
và đặt ḷng tin vào đó? Sám hối và ḷng tin đi
đôi với nhau như hai con mắt cùng nh́n vào một
đối vật, sám hối sửa soạn cho ḷng tin, ḷng
tin khởi đầu bằng sự sám hối. Sám hối
gồm hai khía cạnh: khía cạnh tiêu cực là nhận
về quá khứ, nh́n lại dĩ văng, để thấy
đường ḿnh đă đi, cuộc đời ḿnh
đă sống như thế nào, đúng hay sai, tốt hay
xấu. Khía cạnh tích cực là hướng tới
tương lai để sống đúng hơn và tốt
hơn. Người sám hối trở nên khiêm tốn, bé
nhỏ, từ bỏ ḿnh, để đặt tất
cả niềm tin vào sự công chính của Nước
Trời, vào ơn cứu độ do Tin Mừng đem
đến, c̣n tin là trao hiến, tin ai và tin điều ǵ?
Chúng ta hăy t́m hiểu nội dung của Tin Mừng gồm
những vấn đề ǵ mà chúng ta phải sám hối và
đặt ḷng tin vào đó. Chúng ta có thể tóm lược
nội dung của Tin Mừng vào hai phạm vi luân lư và giáo
lư.
Về phạm vi luân lư: chúng ta thấy Tin
Mừng đă đề cập tới những vấn
đề quan trọng sau: Thứ nhất, về hôn nhân,
Chúa Giêsu đă lập luận hôn nhân bất khả phân ly và
nhất phu nhất phụ: mỗi người chỉ
được một vợ một chồng và phải
trung thành chung thủy với nhau cho đến chết.
Thứ hai, Chúa Giêsu đă đề cao tinh thần nghèo khó:
người nghèo khó được Chúa chúc phúc, Chúa kêu
gọi hăy nghèo của nhưng không nghèo ḷng, ngược
lại, người giàu của mà không giàu ḷng th́ khó vào
nước trời như con lạc đà trước
lỗ kim. Thứ ba, về luật lao động và tinh
thần hợp tác, Chúa dạy: mọi người phải
siêng năng làm việc để tự lực mưu sinh,
lười biếng sẽ bị phạt, rồi phải
biết cộng tác với nhau để cùng nhau thăng
tiến. Thứ tư, vấn đề tiền của:
tiền của nay c̣n mai mất, Chúa dạy: phải
biết dùng tiền của làm phương tiện đi
vào nước trời, mỗi người đừng quá
đ̣i hỏi mà chỉ mong sao hằng ngày dùng đủ,
rồi tin tưởng vào Thiên Chúa quan pḥng, các tài nguyên thiên
nhiên, hăy dùng chúng để kiến tạo ḥa b́nh và biến
gươm giáo thành cày cuốc. Thứ năm, để
đảm bảo luật luân lư, Chúa dạy: mọi
người phải coi nhau như anh em, phải yêu
thương nhau, yêu thương cả kẻ thù nghịch
với ḿnh, cầu nguyện cho kẻ ngược đăi
ḿnh, mọi người phải tha thứ cho nhau. Thứ
sáu, về vấn đề giáo dục trẻ em, Chúa
dạy: phải yêu mến chúng, phải hướng
dẫn chúng và không được làm gương mù
gương xấu cho chúng, nước trời thuộc
về những ai có tâm hồn đơn sơ như
trẻ em. Thứ bảy, các nhân đức luân lư
được đề cao: khôn ngoan, công bằng, vâng
lời, tiết độ, kiên nhẫn, can đảm
chịu đựng những đau khổ, khiêm
nhường, hiền lành, trong sạch, phục vụ,
tránh xa dịp tội và đứng làm gương mù. Tóm
lại, mọi người là anh em, là con cái Thiên Chúa,
mỗi người là chi thể trong một nhiệm
thể, cho nên, phải dùng t́nh thương mà đối
xử với nhau và yêu nhau như Chúa yêu chúng ta.
Về phạm vi giáo lư: Tin Mừng đă
mạc khải cho chúng ta biết bốn điều quan
trọng: Thứ nhất, một Thiên Chúa có Ba Ngôi, chúng ta
chỉ tôn thờ một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa có Ba Ngôi:
ngôi thứ nhất là Cha, là Đấng tạo dựng
vũ trụ trời đất muôn loài, ngôi thứ hai là Con,
là Chúa Giêsu Kitô, Đấng xuống thế làm người
để cứu chuộc mọi người, ngôi thứ
ba là Thánh Thần, Đấng thánh hóa, an ủi và giúp
đỡ mọi người. Cả ba Ngôi chỉ là
một Thiên Chúa, bằng nhau mọi đàng. Thứ hai, Chúa
Giêsu là Thiên Chúa và là Thiên Chúa nhập thể, Ngài là một
người như mọi người, có cha có mẹ, có
quê hương tổ quốc, có sinh có tử, có sống và
chết như mọi người, Ngài giống chúng ta
mọi đàng chỉ trừ tội lỗi, nhưng Ngài
cũng là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha,
Ngài đến trần gian để dạy dỗ và
cứu chuộc loài người, Ngài là đường, là
sự thật và là sự sống, ai tin theo Ngài sẽ
được sự sống đời đời.
Thứ ba, về Nước Thiên Chúa, Nước Trời,
đây là nước hằng sống, vĩnh cửu, là
thiên đàng, muốn vào Nước Thiên Chúa phải tin và
thực hành đức tin chứ không thể chỉ nói
“Lạy Chúa” mà vào được, nước Chúa có giá
trị vô song, người ta phải hy sinh mọi sự,
kể cả mạng sống để chiếm hữu nó.
Thứ tư, Tin Mừng cho biết về Giáo Hội qua
những dụ ngôn người gieo giống, hạt
giống tự mọc, hạt cải, tấm men, kho báu,
viên ngọc quư, mẻ cá, bầy chiên… Giáo Hội có phẩm
trật: Phêrô là đầu, tức Đức Giáo Hoàng sau
này, các tông đồ, là các giám mục sau này, những
vị lănh đạo Giáo Hội được Chúa trao
quyền cầm buộc và cởi mở, ai muốn
đến với Chúa phải đến với Giáo
Hội.
Có cuốn sách nào được người
ta ham mộ, kính trọng như sách Tin Mừng không? Có sách
nào tồn tại suốt 20 thế kỷ và bán chạy
như sách Tin Mừng không? Sách Tin Mừng toàn bộ đă
được dịch ra 236 thứ tiếng, và c̣n cả
100 thứ tiếng nữa đang sửa soạn để
dịch Tin Mừng, có sách nào khích lệ, đổi mới
con người bằng sách Tin Mừng không? Cho nên, vấn
đề đặt ra cho chúng ta là chúng ta có đọc Tin
Mừng hay không? Nếu chúng ta không chịu đọc th́
sách có hay mấy cũng là không hay, cũng như đă
gọi là thuốc hay mà chúng ta không dùng thuốc th́ làm sao
khỏi bệnh được? Chúng ta hăy nhớ: sách Tin
Mừng là lời Thiên Chúa hằng sống, chúng ta có
đọc, có sống Tin Mừng th́ chúng ta mới thấy
được sự sống ấy dồi dào ra sao,
nơi đâu có ánh sáng Tin Mừng nơi ấy tràn
đầy hy vọng cho hiện tại và tương lai.
Ước mong mỗi gia đ́nh đều có sách Tin
Mừng, chúng ta có đủ thứ sách mà lại thiếu
sách Tin Mừng th́ thật đáng tiếc. Nhưng có sách mà
không dùng, không đọc cũng như không có. Ước
mong chúng ta hăy đọc và sống theo những điều
chúng ta đọc, bảo đảm bản thân chúng ta và
gia đ́nh chúng ta sẽ tốt đẹp.
Đoạn Tin Mừng kể lại việc
Chúa Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên là
Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Chúa kêu gọi các ông: “Các anh hăy đi
theo tôi”. Lời kêu gọi đó Chúa cũng nói với
mỗi người chúng ta hôm nay.
Tin Mừng cho biết cả bốn môn
đệ, bốn tông đồ đầu tiên ấy
đều là những người chài lưới, và
họ đang hành nghề trên biển hồ Galilê. Cho
tới lúc đó, chưa bao giờ các ông đưa mắt
nh́n xa quá tầm mắt quen thuộc với những công việc
sinh nhai hằng ngày. Bây giờ Chúa Giêsu mời gọi các ông
nh́n lên cao hơn và xa hơn. Ngài chỉ cho các ông thấy thế
giới như biển cả mênh mông, phải vượt
khắp đó đây để đánh lưới “sinh
linh”. Sứ mệnh của các ông là đem các linh hồn
về cho Chúa.
Nghe tiếng Chúa kêu gọi, các ông đáp
lại ngay và sẵn sàng từ bỏ mọi sự, kể
cả những ǵ thiết thân nhất trong đời
sống như nghề nghiệp và phương tiện sinh
sống cùng với những mối liên hệ ruột
thịt tự nhiên. Từ nay các ông sẽ có những
bận tâm khác với những lo lắng trước
đây. Các ông rời bỏ quê hương làng xóm, nơi
chôn nhau cắt rốn, để đi đến những
nơi Thầy sẽ sai đến. Quê hương các ông
bây giờ là thế giới. Các ông từ bỏ gia đ́nh
ruột thịt quen thuộc, Thiên Chúa sẽ ban cho các ông
một gia đ́nh khác, gia đ́nh các linh hồn mà các ông
sắp cứu vớt. Các ông thoát ly hoàn toàn và dứt khoát.
Thực vậy, các tông đồ đầu
tiên thoát ly mọi sự trước kia đă ràng buộc
các ông là để gắn bó với Chúa Giêsu. Các ông đi
theo Ngài một cách tin tưởng mà không hỏi xem Ngài
sẽ dẫn các ông đi đâu và tương lai sẽ
thế nào. Các ông đi theo Ngài để chia sẻ vui
sướng, nhưng đồng thời cũng để
đồng lao cộng khổ với Ngài. Các ông đi theo
Ngài để lănh nhận lời giáo huấn, lấy đó
làm mẫu mực cho đời sống ḿnh trước
hết, để rồi sau đó tuyên xưng giáo
thuyết của Ngài và truyền bá giáo thuyết đó cho
mọi người.
Tóm lại, bốn tông đồ đầu
tiên nói riêng và tất cả các tông đồ nói chung, đă
thực thi mệnh lệnh “Hăy đi theo tôi” của Chúa
Giêsu một cách trọn vẹn. Các ông đă đi theo Chúa,
sống bên Chúa, chứng kiến mọi việc Chúa làm, ghi
nhớ những lời Chúa giảng dạy. Và khi Chúa
về trời, các ông hăng say rao giảng về Chúa và
giáo huấn của Chúa cho đến chết. Đó là
đường lối mà các tông đồ đầu tiên
và các tông đồ kế tiếp nhau đă làm đổi
thay bộ mặt cũng như toàn bộ thế giới
cho tới chúng ta ngày nay.
Nếu Chúa Giêsu đă quan tâm kêu gọi
những người cộng sự trong sứ mạng rao
giảng Tin Mừng, th́ điều đó có nghĩa là Ngài
không muốn làm việc một ḿnh mà muốn nước
trời là một công tŕnh có sự đóng góp của
mọi người, nhất là qua ơn gọi thừa tác.
Lời kêu gọi “Hăy đi theo tôi” hôm qua vang lên tai các tông
đồ th́ hôm nay vẫn c̣n vang lên trong nhịp sống
Giáo hội và gửi đến chúng ta hằng ngày. Vấn
đề là chúng ta có quan tâm lắng nghe và đáp ứng
không?
Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta đă
được Chúa mời gọi theo Chúa, chúng ta đă
thực sự là Kitô hữu rồi. Nhưng đời
sống Kitô hữu không phải chỉ là tin những
điều Giáo hội dạy, giữ những điều
răn Chúa và Giáo hội truyền, và giữ như thế
để được rỗi linh hồn. Cũng như
các tông đồ xưa kia được kêu gọi không
phải chỉ là để được “rỗi linh
hồn”, nhưng c̣n là để cộng tác với Ngài.
Người Kitô hữu cũng thế, được kêu gọi
theo Chúa, không phải chúng ta chỉ lo cứu linh hồn
ḿnh, nghĩa là không phải chỉ là người giữ
đạo, đọc kinh, đi lễ, nhưng phải là
những tông đồ cho Chúa nữa. Dù ở bậc
sống nào, dù không vào đoàn thể nào, dù ở bất
cứ chỗ nào, chúng ta cũng phải là những tông
đồ của Chúa. Làm tông đồ trước tiên là
bằng chính đời sống tốt đẹp của
chúng ta.
Đời sống tốt đẹp của
chúng ta có thể thay đổi được nếp
sống của những người chung quanh. Đời
sống tốt đẹp của chúng ta có thể thay
đổi được vận mệnh của
người khác, từ không biết Chúa đến nhận
biết Chúa, tôn thờ, yêu mến Chúa. Đời sống
tốt đẹp của chúng ta có thể làm cho mọi
người từ tị hiềm ghen ghét đến yêu
thương, xây dựng, đùm bọc, nâng đỡ nhau.
Về điều này chính chúng ta đă kinh
nghiệm hay chúng ta biết được qua kinh nghiệm
của người khác. Câu truyện sau đây là một
điển h́nh: Một hôm, thánh Cờ-lê-men-tê lững
thững đi vào một quán ăn. Ngài giơ tay ra và nói:
“Xin quí ông rộng lượng bố thí cho các em cô nhi
một miếng ăn”. Tức th́ các thực khách
cười rộ lên. Một người tên là Uyn-déc
(Wilszek) ngổ ngáo nói: “Một miếng ăn cho các em
hả, được lắm”. Nói xong, anh ta nâng cốc bia
lên uống, rồi phùng miệng phun thật mạnh vào
mặt cha Cờ-lê-men-tê. Ngài điềm tĩnh lấy
khăn mùi xoa ra lau mặt, rồi lại giơ hai tay ra và
nói: “Thưa các ông, đó là phần của tôi. C̣n phần
của các em cô nhi đâu chưa thấy”. Uyn-déc như
bị đấm một quả thôi sơn, té nhào xuống
đất, anh ấp úng nói.
“Tôi…tôi…sẽ…gởi…tặng các em một món
quà”. Quả thực, sau đó anh tự động đi
lạc quyên giữa các bạn bè xa gần và đến trao
cho thánh Cờ-lê-men-tê một món tiền lớn; và anh c̣n làm
nhiều lần như thế.
Gương sáng, đời sống tốt
đẹp có sức mạnh như thế đó. Xin Chúa cho
chúng ta biết sống tốt đẹp, nêu gương
sáng cho mọi người, trước tiên cho những
người thân yêu trong gia đ́nh bằng đời
sống ḥa thuận yêu thương nhau, hạnh phúc trong
t́nh yêu mến Chúa và yêu mến nhau, rồi từ đó lan
tỏa cho những người chung quanh.
Thánh Marcô tạo ra cảm giác là lời kêu
gọi các môn đệ đầu tiên là một sự
kiện mang tính cách rất lễ nghi, và người
được kêu gọi hoàn toàn bất ngờ, không
được biết trước, hoặc có quan hệ
ǵ với Đức Giêsu. Nhưng thánh Gioan cho thấy
rằng không phải là trường hợp đó. Ngài
giải thích rơ ràng rằng mối tương quan của
các môn đệ với Đức Giêsu trải qua một giai
đoạn lớn lên và phát triển. Người ta không
đi theo một người hoàn toàn xa lạ. Nếu
như vậy, th́ họ là những kẻ điên rồ.
Rơ ràng là cả bốn môn đệ (Simon, Anrê,
Giacôbê và Gioan) đă có quan hệ từ trước với
Đức Giêsu. Chắc hẳn là họ bắt đầu
bằng cách đứng trong đám đông, lắng nghe
Người nói. Điều này đưa đến
kết quả là họ thán phục Người, làm cho
họ muốn được quen biết với Người
một cách cá nhân. Một khi đă được gặp
gỡ Người, và cảm thấy được
sức thu hút nơi nhân cách của Người, th́ họ
đều bị lôi cuốn về phía Người. Từ
đó, có thể họ quyết định đi theo
Người.
Điều này giải thích nguyên nhân tại
sao, khi cuối cùng Người kêu gọi họ, th́ họ
liền hưởng ứng ngay tức khắc và một
cách trọn vẹn đến như vậy. Họ bỏ
lại tất cả mọi sự – cách sinh nhai, tài
sản, sự an toàn, những liên hệ gia đ́nh – và
tự hiến thân riêng biệt cho việc đi theo
Đức Giêsu. Qua bao thời đại, nhiều kẻ
tin đă thực hiện cũng lời cam kết này
đối với Đức Kitô. Mặc dù lời kêu
gọi “Hăy theo Thầy” của Người nghe giống
như một lệnh truyền, nhưng tất nhiên, đó
không phải là một lệnh truyền, mà là một
lời mời gọi.
Những người đó là ai vậy?
Họ là những người đánh cá, mà đánh cá là
một công việc quan trọng. Nhưng Đức Giêsu
mời gọi họ đến với một công việc
thậm chí c̣n quan trọng hơn. Người đem
đến cho họ không chỉ một công việc mới
mẻ, nhưng c̣n là một nguyên cớ để rồi
từ đó, họ hiến trọn cuộc đời
ḿnh. Họ biết rằng Người không kêu gọi
họ đến với một cuộc sống dễ dăi.
Trái lại là đàng khác. Nhưng vốn là những
người đánh cá, họ đă từng quen thuộc với
cảnh khó nhọc rồi.
Họ cũng hiểu rằng lời mời
gọi của Đức Giêsu chính là lời mời gọi
phục vụ người khác: “Thầy sẽ làm cho anh em
trở thành những kẻ lưới người”. Khi
những người lănh đạo các giáo phái kêu gọi
người ta đi theo họ, họ biến những
kẻ đó thành nô lệ cho họ. Đức Giêsu kêu
gọi các tông đồ, không phải để phục
vụ bản thân Người, nhưng là để
phục vụ những người khác.
Lời mời gọi của Người mang
ư nghĩa hy sinh những kế hoạch riêng, những tham
vọng, sự an toàn v.v… Đây là một cuộc phiêu
lưu đầy nguy hiểm, bởi v́ họ đang
chuyển từ công việc mà họ biết, để
đến với một công việc mà họ không hề
biết. Nhưng họ cũng biết rằng lời mời
gọi của Người đem đến cho họ
một cơ hội được sống một
cuộc sống trọn vẹn hơn và xứng đáng
hơn. Cho đến nay, họ đă có một nghề
nghiệp. Bây giờ, họ có được một ơn
gọi.
Một nghề nghiệp và một ơn
gọi khác hẳn nhau, mặc dù không hề loại trừ
lẫn nhau. Chúng ta vẫn có thể sống theo một
ơn gọi, thông qua một nghề nghiệp cụ
thể, chẳng hạn như làm giáo viên, y tá, bác sĩ…
Nhưng không bao giờ một ơn gọi có thể
đưa đến những hoạt động này.
Ơn gọi mang nét ǵ đó sâu xa hơn, đ̣i hỏi
một tầm nh́n, một động cơ, một sự
tận tụy. Một nghề nghiệp thường mang ư
nghĩa đưa con người đi xa hơn. Nhưng
một ơn gọi có nghĩa là phục vụ những
người khác.
Sự kiện các môn đệ chấp
nhận thử thách này một cách hết ḷng đến
thế, nói lên cho chúng ta biết rất nhiều về tính
cách con người của họ, mặc dù họ không phải
là những siêu nhân, mà chỉ là những con người b́nh
thường. Không ai có thể tin tưởng vào những
con người b́nh thường, giống như
Đức Giêsu đă tin. Để trở thành môn
đệ của Đức Giêsu, người ta không
cần phải trở thành một con người
đặc biệt.
Ngày nay, Chúa vẫn c̣n kêu gọi con
người, và nhu cầu hiện nay rất lớn.
Vẫn có những người đáp trả lại
lời mời gọi của Người. Một số người
(giống như bốn môn đệ trên) được
kêu gọi hoàn toàn hiến thân, và sống theo một cách
thức “chuyên nghiệp” đi theo Đức Kitô. Nhưng
không phải tất cả mọi Kitô hữu đều
được mời gọi đi theo Đức Kitô
bằng cách này.
Ư tưởng về lời mời gọi
trái ngược với nền văn hóa phổ biến
hiện nay. Ngày nay, chúng ta nghĩ rằng ḿnh vẫn có
thể sống một cuộc sống không hề
được kêu gọi – không cậy nhờ vào bất cứ
mục đích nào bên ngoài bản thân ḿnh. Thật không
dễ dàng khi cho phép ḿnh được chọn lựa. Khi
để mặc một ḿnh, chúng ta có khuynh hướng
đi theo lối sống nào ít bị kháng cự nhất. Do
đó, chúng ta cần có người nào đó thách đố
chúng ta, người đó biết rơ những điều mà
chúng ta ưa thích nhất, và sẽ không để cho chúng ta
sắp xếp bất cứ thứ ǵ, mà khả năng
của chúng ta chưa đạt tới.
Việc đi theo Đức Kitô có ư nghĩa
ǵ đối với người b́nh thường?
Điều đó có nghĩa là hăy là người Kitô hữu
ngay tại nơi bạn đang sống, và theo nghề
nghiệp mà bạn đă chọn lựa. Có nhiều cách
thức phục vụ Đức Kitô và Tin Mừng của
Người. Lời kêu gọi này ngay từ đầu
không phải là trở nên người tông đồ, mà là
trở nên môn đệ của Đức Kitô.
Chủ đề: "Chẳng
những Chúa Giêsu tạo nguồn hứng khởi cho ta, mà
Ngài c̣n làm hơn thế nữa. Ngài có thể ngự vào
trong tâm hồn ta để giúp ta thực hiện tiềm
năng sung măn nhất của ḿnh"
Tháng chín năm 1862 cuộc Nam Bắc phân tranh
của Hoa Kỳ đă dứt khoát nghiêng thế thuận
lợi về cho quân đội phương Nam. Tinh
thần quân đội phương Bắc rơi vào
mức thấp nhất của cuộc chiến. Một
số rất lớn các toán quân liên bang rút lui về Virginia.
Các nhà lănh đạo địa phương bắt
đầu lo sợ điều tệ hại nhất
sắp xảy ra. Họ không c̣n phương cách nào
để đảo ngược t́nh thế và biến
những toán quân bị đánh te tua, kiệt sức trở
thành một đạo quân hữu dụng trở lại.
Chỉ có một vị tướng có thể
làm nên được phép lạ này. Đó là tướng
Mc.Clellan. Ông đă huấn luyện binh lính chiến
đấu, họ yêu qúi và khâm phục ông. Thế nhưng
bộ quốc pḥng đă không thấy điều này;
cả đến nội các chính phủ cũng chả
nhận thấy ngoại trừ một ḿnh Tổng Thống
Lincoln. May mắn thay, Lincoln đă phớt lờ những
lời phản đối của các cố vấn và
đặt Mc.Clellan trở lại vị trí chỉ huy.
Lincoln ra lệnh cho ông xuống Virginia để tặng cho
các binh sĩ ấy điều mà không người nào khác
trên mặt đất có thể trao cho họ, đó là:
Nhiệt t́nh, sức mạnh và Hy vọng. Mc.Clellan chấp
nhận nhiệm vụ chỉ huy. Ông leo lên con ô mă to
lớn và phóng xuống những nẻo đường cát
bụi ở vùng Virginia.
Quả là khó giải thích điều xảy
ra tiếp sau đó. Các lănh tụ phương Bắc
chẳng thể giải thích được. Các binh lính
phương Bắc cũng chẳng thể giải thích
được. Ngay cả Mc.Clellan cũng chẳng thể
giải thích được. Mc.Clellan gặp các lực
lượng Liên Bang đang rút quân. Ông giơ nón lên cao
vẫy chào và hô lên những khẩu hiệu cổ xuư ḷng
can đảm. Nh́n thấy chủ tướng quí yêu,
đám lính mệt mỏi bắt đầu b́nh tâm lại:
Họ bắt đầu cảm giác một cách kỳ
lạ rằng kể từ bây giờ mọi sự sẽ
đổi khác. Và giờ đây mọi sự đều có
thể ổn định trở lại.
Bây giờ chúng ta hăy xem Bruce Catton một
sử gia danh tiếng viết về cuộc nội
chiến đă mô tả nỗi phấn khích ngày càng gia
tăng khi có tin Mc.Clellan lại trở về vị trí
chỉ huy như sau: “Từ dặm này đến dặm
nọ suốt con đường vùng Virginia những toán
quân đi đứng chuệnh choạng bắt đầu
hồi sinh, họ ném mũ nón, túi vải lên không trung và ḥ
hét cho đến khi khan cả cổ… bởi v́ họ
đă nh́n thấy vị anh hùng lanh lợi nhỏ con ấy
đang cỡi ngựa xuất hiện dưới ánh sáng
sao màu tím. Một cách nào đó, đây chính là bước
ngoặt của cuộc chiến… không ai có thể cắt
nghĩa được điều ấy cho đầy
đủ…(Trích trong cuốn this Hallowed Ground: vùng đất
Thánh này)
Nhưng dẫu sao, đó chính là điều mà
Lincoln và phương Bắc đang cần và lịch
sử đă măi măi thay đổi nhờ điều
ấy.
***
Câu chuyện về tứơng Mc.Clellan cho
thấy rơ rệt người lănh đạo ảnh
hưởng đến tinh thần người
dưới quyền mănh liệt như thế nào.
Trong một thiên khảo luận, Ralph Waldo
Êmrson ghi lại hàng chữ đáng nhớ sau đây:
“Điều cần thiết chính yếu trong cuộc
sống chính là gặp được một ai đó có
khả năng giúp ta làm những ǵ ta có thể làm”. Và ai làm
được điều ấy sẽ là một lănh
tụ vĩ đại. Chúng ta không thể tự ḿnh làm
bừng dậy cái khả năng tiềm tàng vĩ
đại ẩn dấu bên trong mọi người chúng
ta.
Hầu hết mọi người chúng ta
giống như cái chai Aladdin nhặt được trên
bờ biển. Mỗi người chúng ta đều có
vị thần vĩ đại đang cư ngụ trong
ḿnh. Nhưng ông ta không thể tự ḿnh bước ra ngoài
và chúng ta cũng chẳng thả ông ta ra được.
Chúng ta cần một anh chàng Aladdin đi đến khui
nắp chai và giải phóng vị thần khổng lồ
ấy dùm chúng ta. Và đó cũng chính là những ǵ Emerson
đă cưu mang trong tâm trí ông. Ngay sau khi nói câu; “Điều
cần thiết chính yếu trong cuộc sống là gặp
được một ai đó có khả năng giúp ta làm
những ǵ ta có thể làm”. Ông liền thêm: “và đây chính là
công việc của một người bạn”, c̣n tôi th́
lại muốn thêm vào: “Đấy cũng là công việc
của Đức Giêsu Kitô”
Không nơi nào tŕnh bày cho chúng ta điều này
rơ hơn trong Phúc Âm. Và cũng không câu chuyện Phúc Âm nào
chỉ cho ta điều này rơ hơn bài đọc hôm nay. Nó
giúp ta hiểu được điều Napoléon đă
từng nói về năng lực của ông là có thể
tạo ra một điều ǵ đó nơi tâm hồn các
thuộc hạ của ông. Napoléon nói:
“Chỉ cần nh́n ánh sáng nơi mắt tôi,
nghe âm giọng tôi và chỉ cần nghe một lời
từ miệng tôi, th́ lập tức ngọn lửa linh
thiêng bừng cháy lên trong ḷng họ thực sự, tôi đă
nắm được bí quyết của một năng
lực ma thuật có thể lay chuyển tâm hồn kẻ
khác”. Quả thế, Napoléon đă chiếm hữu
được quyền năng ấy, và chính ông ta chú thích
thêm trong cùng một đoạn văn trên như sau:
“Đức Kitô cũng có được quyền năng
này nhưng ở một cấp độ vô cùng to lớn
hơn’.
Nơi Chúa Giêsu, có ǵ khiến Ngài khác biệt
với những lănh tụ khác vậy? câu trả lời
thật đơn giản.
Tất cả lănh tụ khác chỉ có thể
ảnh hưởng trên ta, gây cho ta niềm phấn khích, tuy
nhiên ảnh hưởng họ gây ra trên ta chỉ thuần
về mặt tâm lư. C̣n ảnh hưởng Đức Giêsu
gây ra trên ta không chỉ mang tính cách tâm lư và c̣n gồm cả
tính mầu nhiệm nữa. Điều này có nghĩa là ǵ?
Nghĩa là các lănh tụ khác có thể hâm nóng nhiệt t́nh của
chúng ta, có thể khích động chúng ta, có thể khơi
dậy niềm xúc cảm của ta, kích thích trí
tưởng tượng của ta nhưng họ không
thể ban cho ta tinh thần của họ được;
họ không thể chia sẻ cho chúng ta năng lực và
sức mạnh riêng của họ được; nếu
có sự thay đổi xảy ra nơi những
người theo họ, th́ chắc hẳn sự thay
đổi đó là do nơi nguồn lực và sự
gắng sức của đám người theo họ
ấy.
Trong trừơng hợp Đức Giêsu,
tất cả mọi điều này thực khác hẳn.
Đức Giêsu có thể đặt tinh thần Ngài trong
chúng ta. Ngài có thể chia sẻ quyền năng riêng của
Ngài với chúng ta. Ngài có thể bước vào trong tâm trí ta
để gíup ta làm được điều mà tự
sức riêng ta không thể nào làm được một ḿnh.
Chỉ cần ta mở rộng ḷng trí cho Ngài th́ Đức
Kitô sẽ bứơc vào trong cuộc đời của ta
và Ngài sẽ làm tất cả những ǵ tiếp theo sau
đó.
Như thế chúng ta bước sang
điểm cuối cùng và cũng là điểm trọng
yếu nhất đối với chúng ta.
Chỉ cần điều duy nhất mà Chúa
Giêsu không thể làm được cho chúng ta đó là Ngài
không thể cởi mở tâm hồn chúng ta ra nếu chúng ta
không muốn. Ngài có thể làm tất cả mọi
điều khác ngoại trừ điều này, bởi v́
chúng ta nắm giữ ch́a khoá cửa ngơ tâm hồn chúng ta
trong cuộc sống ḿnh. Và điều này dẫn chúng ta
trở lại với bài Phúc Âm hôm nay.
Bài Phúc Âm hôm nay chỉ cho ta cách thức mở
ngỏ ḷng ra để Chúa Giêsu bước vào; đồng
thời cũng cho chúng ta thấy rơ cái giá chúng ta phải
trả nếu chúng ta muốn làm được
điều này. Chúng ta phải thực hành những ǵ các
tông đồ đă làm, chúng ta phải sẵn ḷng chấp
nhận cái giá các ngài đă phải trả, chúng ta phải
sẵn ḷng thiêu huỷ mọi chiếc cầu phía sau chúng
ta để bước theo Chúa Giêsu bất cứ nơi
nào Ngài muốn dẫn đi.
Nếu chúng ta quyết định làm
điều các tông đồ đă làm, nếu chúng ta
quyết định liều bỏ mọi sự v́ Chúa
Giêsu th́ Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta những ǵ Ngài đă
làm cho các vị ấy. Ngài sẽ biến chúng ta nên
những thành viên chia sẻ công việc của Ngài, và ban cho
đời sống chúng ta một ư nghĩa mới
vượt quá mọi niềm ước mơ vĩ
đại nhất của chúng ta.
Để kết thúc, chúng ta hăy dùng bài suy
niệm thú vị của Edward Farrell trong tập sách của
ông nhan đề; “Kinh ngạc bởi Thánh Linh” (Surprised by Spirit).
“Người đang đi dọc bờ
biển lung linh sáng, Người là ai? người là ai –
trông sáng ngời kinh khiếp – đang nh́n chúng tôi bằng
đôi mắt ṃn mỏi, đôi mắt như t́m kiếm
chính linh hồn chúng tôi?
“Người là ai mà thấy được
tư tưởng, đọc được tâm hồn sâu
kín của chúng tôi bằng ánh mắt yêu thương, thông
suốt, như muốn nói rằng: Ta chẳng muốn ǵ
cả ngoài bản thân của bạn”
Clay Trumbull thuật lại cuộc đối
thoại ư vị giữa vị Mục Sư Tin Lành và
một bé trai. Vị Mục Sư hỏi: "Tại sao em
lại muốn gia nhập Giáo Hội?" Em bé nhanh
nhẹn đáp: "V́ con muốn nói một cách công khai
rằng Chúa Giêsu đă cứu con." Vị Mục Sư
hỏi dồn: "Em cảm thấy em được
cứu rỗi? Ai cứu em?" Em bé giải thích:
"Đó là công việc của Chúa Giêsu và của con!"
Vị Mục Sư hỏi lại: "Công việc của
em? Phần nào là phần của em?" Cậu bé trả
lời: "Con thống hối tội lỗi con, và Chúa
Giêsu làm tất cả."
Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu bắt
đầu Sứ Vụ Tông Đồ của Người
bằng lời kêu gọi tha thiết: "Thời giờ
đă măn và Nước Thiên Chúa đă gần đến; anh
em hăy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc
1,15). Thời gian đă măn là lúc thuận tiện để
Thiên Chúa làm việc qua con người Chúa Giêsu. Sự
hiện diện của Chúa Giêsu báo hiệu việc
Nước Chúa đă bắt đầu và đang h́nh thành.
Nước Chúa, theo những nhà chú giải Thánh Kinh, không
những chỉ một nơi chốn (Kingdom) trên bản
đồ, nhưng c̣n nói đến sự thống trị
(Basileia hay Reign) của Thiên Chúa. Việc Thiên Chúa thống
trị không bị giới hạn ở Pa-lét-tin nhưng lan
rộng trên toàn thế giới. Chúa Giêsu đă đến
để công bố Nước Trời và chuẩn bị
cho Nước Trời mỗi ngày một lan rộng qua
lời giảng và các phép lạ. Nước Thiên Chúa sẽ
nên hoàn hảo khi Con Người trở lại thế gian
lần thứ hai (Mc 8,38 - 9,2).
Để gia nhập nước Thiên Chúa, con
người phải làm ǵ? Chúa Giêsu nói rơ điều
kiện tiên quyết để gia nhập Nước Thiên
Chúa là sám hối và tin vào Tin Mừng của Ngài. Ngài không
bắt người ta phải học tiếng hay phải
xin nhập quốc tịch Do-thái. Nhưng Ngài buộc
phải có tinh thần sám hối. Ḷng sám hối đ̣i
người có tội nhận ḿnh có lỗi và rồi thay
đổi hướng đi cho đời ḿnh (metanoia).
Hối nhân quay trở về với Thiên Chúa v́ nhận
thức rằng con đường quá khứ đă không
ăn khớp với đường lối của Thiên
Chúa hoặc sự cai trị của Ngài.
Đoạn trích Tin Mừng không nói đến
ḷng thống hối của các Tông Đồ nhưng nói rơ
việc các ông bỏ mọi sự để theo Thầy
Giêsu. Thánh Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gioan đă tin lời Chúa Giêsu
và "lập tức" bỏ lưới và cha mẹ
để theo Chúa Giêsu. Việc từ biệt cha mẹ già
của Gia-cô-bê và Gioan là điều quá khích đối với
người thời bấy giờ. Những người
bỏ cha mẹ được coi như là kẻ phạm
thượng (Kn 3, 1-16, Tb 5,1). Ngay như ngôn sứ Êlisa, khi
được Chúa gọi để theo ngôn sứ Êlisa,
cũng đă xin phép về hôn cha hôn mẹ trước khi
lên đường. Nhưng v́ Ḷng Tin nơi Chúa Giêsu, các ông
đă thay đổi từ nghề chài lưới cá cho
đến việc chài lưới người. Tư
tưởng thay đổi và cuộc sống cũng thay
đổi hoàn toàn. Các ông đă theo Chúa Giêsu Kitô, và Ngài đă
biến các ông thành những kẻ chài lưới
người thật đắc lực (Mc 1, 17). Các tông
đồ đă làm phần của các ngài, và Chúa Giêsu đă
làm phần c̣n lại.
Chúa Giêsu Kitô đă đến trong thời gian
và qua Ngài Nước Thiên Chúa đă thành h́nh được
hơn 2000 năm. Nhưng tại sao Nước Thiên Chúa
vẫn chỉ là một "tiểu quốc" so với
những quyền lực khác đang làm chủ thế giới?
Tại sao con số những người theo Chúa Giêsu
mới chỉ được một phần tư dân
số thế giới? Xin mạo muội đưa ra
một câu trả lời: Xin thưa, v́ con người
thời nay không nhận ra nhu cầu phải thống
hối và ư thức về tội lỗi h́nh như không c̣n
nữa. Nếu không nhận ḿnh có tội th́ cũng
chẳng cần phải thống hối hay cần Vị
Cứu Thế là Chúa Giêsu.
Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen đă
có lư khi ngài viết: "Mối họa nghiêm trọng
trong xă hội hiện đại, sự nguy hiểm đă
phá hủy nhiều nền văn hóa xưa và sẽ phá
hủy nền văn minh của chúng ta nếu chúng ta không
ngăn ngừa, là sự mất đi ư thức về
tội lỗi... Có một sự phủ nhận chung cho
rằng không có ǵ đúng và không có ǵ sai. Và có sự đồng
ư chung cho rằng "tội lỗi" (hiểu theo
thần học cổ xưa) chỉ là một sự
dữ tâm lư (psychic evil) hay là sự sa thải trong tiến
tŕnh biến hóa (a fall of evolutionary process)."
Nhận xét trên của cố Tổng Giám
Mục Sheen tuy đă có lâu nhưng vẫn chí lư trong thời
buổi này v́ ư niệm tội lỗi nếu có cũng
rất hời hợt. Ví dụ, giới trẻ thời nay
coi sự liên hệ tính dục ngoài hôn nhân là chuyện b́nh
thường không có ǵ là sai quấy. Theo một thống kê,
40 % các em lớp chín đă làm chuyện tính dục. Lên
lớp 10, 48 %. Đến lớp 11, 57 %. Và khi lên lớp 12
th́ có 72 % các em đă ăn ở với nhau trước hôn
nhân. Nhiều thống kê khác c̣n cho thấy 86 % các em trai và 75
% các em nữ tuổi 19 biết chuyện ân ái vợ
chồng. Điều đáng lo ngại hơn nữa là
trong những em 18 tuổi lớn lên trong gia đ́nh Kitô
hữu, 43 % đă ân ái trước khi lập gia đ́nh
(Understanding Today's Youth Culture, Walt Mueller, 213 - 214). Và kết
quả của sự mất ư thức về tội
lỗi này thật nguy hiểm và đáng buồn.
Nơi khác, Đức Tổng Giám Mục Sheen
quả quyết: "Thiên nhiên nói cho chúng ta rằng tội
lỗi mang đến chết chóc; lương tâm nói cho
chúng ta rằng tội lỗi bứt rứt tâm hồn (guilt)
và Chúa nói với chúng ta rằng tội lội chống
lại t́nh yêu Thiên Chúa."
Lời cầu nguyện của người
trộm lành: "Thưa ông Giêsu, khi nào vào nước Thiên
Đàng, xin nhớ đến tôi cùng" (Lc 23, 42).
Người Kitô hữu chỉ là Kitô hữu
đích thực khi họ là ánh sáng thế gian
Mẹ Têrêsa Calcutta kể lại câu chuyện
sau. Một người đàn ông phong cùi sống trơ
trọi trong một túp lều tăm tối, xa tránh và
hận thù mọi người, hận thù xă hội, ông
đă không chấp nhận cho một nữ tu chăm sóc và
nghĩ rằng chị nữ tu sẽ được
hưởng một nụ cười măn nguyện qua
sự từ chối của anh.
Mẹ Têrêsa Calcutta nói:
«Ngày tôi đến thăm người đàn
ông đă không bao giờ muốn rời khỏi túp lều
tăm tối của ḿnh. Tôi tiến lại gần con
người ấy và đưa cánh tay ra mời mọc,
nâng cánh tay của anh để anh đứng dậy
rồi cùng d́u anh bước ra khỏi túp lều tăm
tối. Vừa đến bên cánh cửa nơi có ánh sáng
mặt trời chiếu xuyên qua, người đàn ông
đă có một thái độ mà măi măi tôi không bao giờ có
thể quên được. Ra khỏi căn nhà,
đứng giữa ánh sáng, anh hô lên một tiếng kêu
lớn: «Tôi thấy!» Kể từ khi bóng tối của
bệnh phong cùi ập phủ xuống trên cuộc
đời th́ hôm nay thực sự là lần đầu tiên
anh cảm nhận được có ánh sáng trong cuộc
đời. Với tất cả sức lực c̣n lại
anh muốn thét lên với cây cỏ, với núi non, với
thiên nhiên, với tất cả mọi người như
sau: «Tôi thấy! Tôi thấy! Tôi thấy!».
Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu lại đánh
động chúng ta thêm một lần nữa: «Thời
kỳ đă măn, và Triều đại Thiên Chúa đă
gần đến. Anh em hăy sám hối và tin vào Tin Mừng ».
Tin Mừng của Chúa Giêsu luôn mới mẻ, luôn là ánh sáng
chỉ đường cho mỗi người chúng ta,
nhưng nhiều khi trong cuộc đời chúng ta không
cảm nghiệm được điều đó. Tin
Mừng đă trở thành cũ kỹ, và chính chúng ta là
những người phải loan báo Tin Mừng nhưng ḷng
chúng ta không c̣n nhạy cảm nữa, đôi khi nó đă ra
chai đá! Nhiều lúc chúng ta giống như anh phong cùi kia,
tự giam ḿnh vào bóng tối, tự hăm ḿnh vào bóng tối.
Đôi khi vô t́nh hay hữu ư, chúng ta cũng xô đẩy
những người khác vào trong bóng tối. Một
cuộc sống không muốn làm chứng tá, một
khước từ và tự khép cửa ḷng chối từ
ánh sáng của Thiên Chúa.
“Các con là ánh sáng thế gian”. Câu nói đó
của Chúa Giêsu vẫn c̣n vang vọng trong các trang Phúc âm.
Người Kitô hữu chỉ là Kitô hữu đích
thực khi họ là ánh sáng thế gian. Nhưng khi ánh sáng
không c̣n khả năng chiếu sáng, th́ ánh sáng ấy trở
thành tăm tối và nó sẽ dần tắt ngút trong màn
đêm. Chúng ta là những con người cần ánh sáng
để sống, để lớn lên trong t́nh Chúa và t́nh
người. Ta cần có ánh sáng Lời Chúa soi sáng dẫn
lối chỉ đường trong thế giới
đầy lôi cuốn của cám dỗ. Vậy hăy nhận
lấy ánh sáng của Lời chân lư ấy, hăy chiếu sáng
bằng những việc làm của ánh sáng. Hăy để
Lời chân lư đó thấm nhuần ḷng trí ta, hăy để
chính Đấng là sự đường, là sự thật
và là sự sống đó hoạt động trong chúng ta.
Từ đó, chúng ta sẽ trở thành những ngọn
đèn đang thắp sáng chung quanh chúng ta: bằng một
lời nói nâng đỡ an ủi, bằng một nụ
cười thông cảm, một đường
hướng đưa ra để đồng hành với
những ai thất vọng tràn trề nơi cuộc
sống, để giúp đó hồi phục v́ những
vết thương bất chính trong cuộc sống...
đó chính là những việc làm của ánh sáng, đó chính
là phương cách đón nhận Tin Mừng và trở thành
chứng nhân Tin Mừng cho những người chung quanh
đang chờ đợi chúng ta. Một hành động bác
ái, một biểu lộ yêu thương dù nhỏ mọn
đến đâu cũng là một tia sáng mang hy vọng
đến cho những nơi tối tăm và cô đơn
nơi những tâm hồn đau khổ.
Lậy Chúa, xin mở ḷng trí con ra, để
con biết tiếp nhận ánh sáng của Lời chân lư Ngài,
v́ con đang ch́m ngập trong bóng tối nhỏ nhoi của
ích kỷ, hận thù. Xin Chúa tha thứ cho con những
lần vô t́nh hay hữu ư xô đẩy người khác vào
bóng tối cô đơn hay tội lỗi. Xin cho con niềm
vui v́ được biết rằng mỗi lần con
thực thi một cử chỉ nhỏ mọn cho
người anh em, là mỗi lần con được
lớn lên trong ánh sáng và trong t́nh yêu Chúa. Amen.
“Đức Giêsu nói với họ: ‘Hăy theo Ta’,
và họ đă bỏ cả chài lưới mà theo Ngài” (Mc
1,17).
Cuối năm 1999, trước t́nh trạng
thiếu hụt binh lính trong các đơn vị, Bộ
Quốc Pḥng Hoa Kỳ đă đưa ra một quảng
cáo rất hấp dẫn nhằm chiêu mộ thêm thanh niên nam
nữ ṭng quân giúp nước.
Ngũ Giác đài đă tặng một món
tiền thưởng lên đến 6.000 đô la cho
những ai t́nh nguyện gia nhập lục quân trong
khoảng thời gian từ cuối tháng Tám cho đến 30
tháng 9. Tuy nhiên kể từ khi tung ra món tiền “câu
người” cộng với những giao kèo cho đi
học tại các ngành nghề thực dụng và cao
cấp, rất bảo đảm cho cuộc sống
tương lai sau khi giải ngũ, kết quả
tuyển quân vẫn rất khiêm nhường: chưa
tới 1,000 người. Trong khi đó, chỉ tiêu do Bộ
quốc pḥng đề ra là 6.000.
Người ta cho biết nguyên nhân của
sự thiếu hụt binh lính, cũng như t́nh trạng
đáp ứng không mấy sốt sắng, dù rằng
quảng cáo rất hấp dẫn, là v́ t́nh trạng kinh
tế quá khả quan. Cuộc sống c̣n dễ thở, công
việc không khó kiếm, nên đi lính làm ǵ. Với lại,
cuộc đời quân kỷ ngày nay khá là gắt gao nên
chẳng mấy ai hăng hái tham gia.
Mẫu tin thời sự, t́nh cờ xem
thấy sau khi đọc qua bài Phúc âm Chúa Giêsu kêu gọi các
môn đệ tiên khởi, đă gợi lên trong tôi đôi chút
suy tư: có lẽ chưa lúc nào việc đi lính
được ưu đăi như lúc này: vừa
được tiền lại vừa được
nhiều lợi lộc khác, sự chết chóc đổ
máu không dễ ǵ sảy ra. Ấy thế mà chẳng mấy
ai hưởng ứng. Lư do là v́ sống đời dân
sự vẫn t́m được nhiều tiền hơn.
Thế mới hay cái ǵ lợi vẫn được
người ta ưu tiên chọn lựa.
Riêng việc đi theo Chúa, khách quan mà nhận
xét th́ không thấy được đồng nào, thậm
chí c̣n phải từ bỏ rất nhiều: bỏ thân
bằng quyến thuộc, tài sản vật chất,
dự tính riêng tư, có khi c̣n phải đối diện
với khó khăn hiểm nguy, nhưng không hiểu sao theo
tổng kết của Toà thánh th́ chiều hướng gia
tăng ơn gọi hiện nay rất lạc quan, nhất
là tại các vùng Á châu.
Thử hỏi theo Chúa được lợi
ǵ?
Ngày xưa, khi đáp lại lời mời
gọi của Chúa Giêsu, các tông đồ Phêrô, Anrê, Gioan,
Giacôbê đă phải bỏ lại cha mẹ và những
người làm công quen biết. Họ phải giă từ
luôn cả chiếc thuyền, tấm lưới, biển
khơi, để theo một con người chỗ
gối đầu không có, tài sản nổi ch́m ǵ cũng
không. Đă vậy, t́nh trạng no đói cũng thất
thường, đến nỗi có hôm phải tuốt gié
lúa mà ăn cho đầy bụng. Tương lai về tài
chánh, kinh tế, an sinh không có ǵ hứa hẹn. Ấy
thế mà c̣n phải đi theo Con Người đó
suốt đời.
Đi lính hay tham gia phục vụ trong một
tổ chức hành chánh nào th́ cũng có những hạn
kỳ nhất định. Ít là 2 hay 3 năm, nhiều là 40,
50 năm. Sau đó có thể giải ngũ để
thực hiện những dự phóng của ḿnh khi xưa.
C̣n bước theo Đức Giêsu là phải bước
theo suốt cả cuộc đời. Không có t́nh trạng
vài ba hôm rồi nghỉ, hay 5, 6 năm rồi thôi.
Ấy thế mà tại sao vẫn có không ít
người đă “từ bỏ mọi sự để
đi theo Ngài”? Thử hỏi người ta muốn t́m
điều chi bên kia sự từ bỏ? Trong mọi hành
động hay bước đi của con người luôn
luôn có đích tới, vậy đích tới của
người theo Chúa Giêsu là ǵ?
Cuộc đời của con người hay
được đan dệt bởi hai câu hỏi “sống
để làm ǵ?” và “làm ǵ để sống?” Sự
sống đây tất nhiên không chỉ thuần tuư sự
sống của phần xác, được duy tŕ bằng
ăn uống, hoạt động, ngủ nghỉ,
nhưng c̣n là sự sống tâm linh-một sự sống
chỉ được thăng hoa khi t́m ra ư nghĩa và giá
trị của cuộc đời. Song, ư nghĩa cùng giá
trị cao đẹp của cuộc đời con
người lại không nằm nơi tiền tài, vật
chất, dục t́nh, danh vọng, nghề nghiệp,
nhưng là con người.
“Hăy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi làm
ngư phủ bắt người” (Mc 1,17). Phục vụ
“con người” mới là lư tưởng và mục tiêu
tiến tới. Trải dài trong lịch sử cứu
độ, khi Thiên Chúa cất tiếng gọi hay chọn
ai- dù là Abraham, Môisen, Samuen, Đức Maria, hay các tông
đồ Phêrô, Gioan-không bao giờ chỉ để họ
được hưởng phúc vinh, nhưng là để
cộng tác trong tiến tŕnh đưa mọi người
vào chung hưởng Tin Mừng Thiên Chúa yêu thương con
người.
Để có thể thành công trên bước
đường đem niềm hy vọng yêu thương
đến cho mọi người và đưa mọi
người về với cội nguồn yêu thương
là Thiên Chúa, kẻ được gọi trước
hết cần phải hướng đến, đón
nhận, và bước theo một con người:
Đức Giêsu. Đây chính là đích điểm của
mọi đích điểm, giá trị trên mọi giá
trị, và chính lộ của muôn vạn nẻo
đường. Do đó trước khi có thể “chài
lưới người” là phải “theo Ta”. Không thể nào
t́m thấy ư nghĩa của cuộc đời hay nhận
rơ được giá trị của con người
để mà đi “lưới” về, nếu không tin
phục Đức Kitô.
Chỉ có Đức Kitô mới có thể làm
cho một ngư phủ lưới cá thành một ngư
phủ lưới người. Thế giới vạn
vật có ǵ sánh được với giá trị siêu
việt của con người. Thiên Chúa không đến
thế gian để đánh bắt tôm cá hay cứu vớt
một sinh vật nào khác ngoài con người. Cho nên đáp
trả lời mời gọi cộng tác trao ban t́nh
thương của Thiên Chúa cho con người là ta đang
làm cho cuộc sống đời ḿnh nên tốt đẹp,
ư nghĩa.
Một lần kia, trên một bài báo, nhà tỉ
phú George Soros đă than thở: “Tôi không biết ḿnh đang
giàu hay đang nghèo; tôi đang làm chủ số phận hay
là nô lệ cho thành công? Bởi v́ để thành công tôi
phải làm việc như một con chó; để giàu có tôi
phải chịu căng thẳng trường kỳ; và
để duy tŕ phú quí tôi phải chịu cảnh bất an
liên tục, một sự bất an mà thiết tưởng
kẻ nghèo khổ nhất hiện nay cũng chưa
phải gánh chịu.”
Thế rồi một hôm kia, một tiếng
gọi vang lên từ nơi thẳm sâu của tâm hồn
George Soros. Trong âm thầm ông đă hành động. Ông chi
viện hàng năm 300 triệu đô la cho người nghèo
bên phương Đông, trợ giúp 50 triệu cho
người Macedoine đang bị các nước chung quanh
cô lập; ông chi 50 triệu cho thành phố Sarajevo trong
việc tái thiết hệ thống cung cấp nước
cho người di tản; ông c̣n trả tiền cho gần
30 ngàn khoa học gia thuộc khối cộng sản sau khi
sụp đổ, để họ không cộng tác với
những quốc gia khủng bố, chế tạo bom
đạn nguyên tử, gây tang thương cho thế
giới. Sau những công tác cứu trợ nhiều quốc
gia và dân tộc, Soros tâm sự: “Chỉ từ khi biết
yêu thương và chia sẻ, đời tôi mới bắt
đầu nếm được mùi hạnh phúc và sung túc
thật sự.”
Đúng vậy, chỉ khi biết yêu
thương và phục vụ con người trong
đường lối của Thiên Chúa, chúng ta mới
cảm nếm được giá trị và ư nghĩa
của đời ḿnh.
NGỌN ĐÈN TÂM HỒN CỦA TA CÓ
ĐƯỢC CHÚA THẮP LÊN KHÔNG?
Anh chị em thân mến,
Lúc Mẹ Têrêsa Calcutta ở nước Úc,
một hôm Mẹ đến thăm một người
nghèo già không ai biết tới. Căn pḥng của ông dơ
bẩn, đồ đạc ngổn ngang, lại không
cửa sổ, không một bóng đèn. Mẹ bắt tay vào
dọn dẹp, nhưng ông quát lên: "Cứ để yên
mọi thứ cho tôi!" Nhưng Mẹ vẫn tiếp
tục. Khi mọi thứ vào ngăn nắp, Mẹ tim
thấy một cây đèn dầu ở góc pḥng đầy
bụi. Mẹ hỏi: "Sao lâu rồi ông không thấp
đèn lên?"- "Thắp làm chi? Có ai tới thăm tôi
đâu!" - "Nếu sau này khi nữ tu của tôi
tới thăm ông, ông hứa sẽ thắp đèn lên
nhé!" Ông trả lời cởi mở hơn: "Vâng, tôi
sẽ làm như vậy!" Sau đó mỗi ngày, các nữ
tu đều tới chăm sóc cho ông...Một hôm ông nói
với một chị em: "Bây giờ tôi biết tự
dọn dẹp cho ḿnh rồi. Cám ơn các cô. Các cô làm ơn
nói lại với Bà nữ tu đầu tiên rằng:
ngọn đèn mà bà đă thắp lên nay vẫn tỏa
sáng." (Trích "Sợi chỉ đỏ")...
Qua câu chuyện này, ta thấy Mẹ Têrêsa
đă thắp lên ngọn đèn dầu cho ông già nghèo.
Điều đó đă không vô ích. Chúa Giêsu muốn thắp
lên ngọn đèn tâm hồn trong ta, ta có muốn nó luôn sáng
không? Đây là đề tài chúng ta sẽ suy niệm trong
ngày chúa nhật hôm nay...
a/. Bài Tin mừng hôm nay có hai vấn nạn ta
cần t́m hiểu:
Một: Chúa Giêsu kêu gọi: "hăy theo
Thầy"; chính khi Chúa kêu gọi là Người muốn
thắp lên ngọn đèn trong tâm hồn chúng ta... Trong
những ngày đầu tiên ra đi rao giảng, Chúa Giêsu kêu
gọi mọi người mà nói: "Nước Thiên Chúa
đang đến gần. Anh em hăy sám hối và tin vào Tin
Mừng. Đang đi dọc theo bờ biển, Chúa
thấy hai anh em ông Simon đang thả lưới xuống
biển; Chúa gọi họ: "hăy theo Ta...." Lập
tức, họ bỏ mọi sự mà theo Chúa. Qua cử
chỉ này, Chúa Giêsu muốn gieo vào tâm hồn các môn
đệ niềm tin đầu tiên, cũng là h́nh ảnh
Chúa thắp lên trong tâm hồn ngọn đèn niềm tin.
Đó cũng chính là h́nh ảnh Mẹ Têrêsa thắp lên cho
ông già nghèo bị bỏ rơi, ánh đèn dầu, ánh đèn
mà bao lâu nay chính ông không buồn thắp lên, cũng không
được ai thắp lên cả. Ông hầu như đă
bị mất niềm tin nơi mọi người, như
h́nh ảnh cây đèn bị bỏ xó, không ai quan tâm tới
nữa. Ông cũng không hi vọng ngọn đèn của ḿnh
được sáng lên.
Hai: Các môn đệ bỏ hết mọi
sự mà theo Chúa: Khi bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu,
chính là các môn đệ muốn giữ chiếc đèn tâm
hồn của ḿnh, đă đuợc Chúa thắp lên,
để nó được sáng luôn luôn, không tắt
nữa. Thái độ của các môn đệ sẵn sàng
bỏ hết mọi sự để theo Chúa cũng nói lên
thái độ tích cực của ḿnh, sẵn sàng theo Chúa,
sẵn sàng từ bỏ bản thân, ư riêng ḿnh để
nghe lời Chúa, sẵn sàng giữ ǵn ngọn đèn cho nó
luôn tỏa sáng, như câu chuyện ông già nghèo sẵn sàng
nghe lời Mẹ Têrêsa Calcutta, giữ ngọn đèn
dầu sáng lên mỗi khi chị em tới thăm. Chúa Giêsu
có nói hứa sẽ biến họ thành kẻ lưới
người ta, không chỉ là người chài cá. Lúc đó,
các môn đệ có thể không hiểu bao nhiêu. Ở đây
ta chỉ nói đến thái độ sẵn sàng, thái
độ của ḷng tin. Chính Chúa đă thắp lên trong
họ ngọn đèn ḷng tin; phần họ, họ lại
sẵn sàng ǵn giữ ngọn đèn ḷng tin được
tỏ sáng...
b/. Câu chuyện: Đức Tổng Giám
mục Helder Camara của Brasil kể rằng: "Anh
ruột của tôi có rửa tội hồi nhỏ. Lớn
lên học trường ḍng, nhưng rồi lôi thôi; sau
đó lại bỏ đạo luôn. Sau khi tôi làm linh mục,
anh về sống chung với tôi. Mỗi lần tôi đi
giảng tỉnh tâm, anh hỏi: Chú sẽ nói về cái ǵ?
Tôi giải thích cho anh nghe bài giảng của ḿnh. Tám năm
sau, anh bị bệnh hiểm nghèo sắp chết. Biết
ḿnh không sống được, anh gọi tôi: Tôi thấy
nơi chú, giữa bài giảng và việc làm của chú không
có sự cách biệt; Vậy tôi có thể dựa vào ḷng tin
của chú mà rước lễ được không? Tôi nói:
Em tin ḷng thương xót của Chúa sẽ tha thứ cho anh.
- Nhưng tôi chưa đi xưng tội? Tôi định t́m
một linh mục cho anh, nhưng anh xin xưng tội
với tôi...Sau khi rước lễ xong, anh thều thào: Bây
giờ tôi tin Chúa, không phải dựa vào ḷng tin của chú,
mà thực sự tôi xác tín Chúa thương tôi...Sau đó anh
chết cách b́nh an. (Vietcatholic news 12. 2007).
Đức TGM Brasil đă nói với
người anh của ḿnh: "Hăy theo Chúa"; Ngài không nói
bằng lời, nhưng nói bằng chính cách sống của
ḿnh. Anh của Ngài đă tin, người anh đă muốn
giữ ngọn đèn mà em của ông thắp lên trong tâm
hồn của ḿnh; chính v́ lẽ đó, trong giờ phút
cuối cùng, ông đă ăn năn trở lại và đă
chết b́nh an, nghĩa là ông giữ cho chiếc đèn tâm
hồn mà em ông thắp sáng lên, không hề tắt nữa.
c/. Gợi ư sống và chia sẻ:
Câu chuyện trên đẹp quá, phải không
anh chị em? Nhưng nó sẽ đẹp hơn nhiều,
nếu mỗi người kitô hữu chúng ta biết
để Chúa Kitô thắp chiếc đèn tâm hồn cho ḿnh,
nghĩa là ḿnh sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa
gọi: "Hăy theo Thầy". Ta có nghĩ rằng Chúa
Kitô muốn nói với ta: "Hăy theo Thầy". Tin như
vậy, Ta có sẵn sàng bỏ hết mọi sự mà theo
Chúa không?
Có một thầy ẩn tu tên là Xê-bat-chiêng
thường đến cầu nguyện tại một nhà
nguyện vắng vẻ trên núi. Trong nhà nguyện này dân chúng
tôn kính một tượng Thánh Giá với tước
hiệu là "Tượng Chúa ban ơn"
Thấy dân chúng có ḷng tin thường
đến cầu xin ơn lành, thầy Xê-bat-chiêng cũng
thêm ḷng tin cậy.
Một hôm vắng người, thầy
quỳ gối trước Thánh Giá và chân thành khấn
nguyện: "Lạy Chúa, con ước ao được
chia sẻ đau khổ với Chúa, xin cho con
được thế chỗ Chúa trên thánh giá".
Thầy quỳ yên lặng, mắt đăm
đăm nh́n lên Thánh Giá mong đáp lời. Một lúc sau,
từ Thánh Giá có tiếng phán bảo: "Được,
Ta bằng ḷng để con thế chỗ Ta trên Thánh Giá
nhưng với một điều kiện duy nhất là
bất cứ điều ǵ xảy ra, tai con nghe ǵ, mắt
con thấy ǵ, con đều phải giữ im lặng không
được nói năng ǵ hết". Xê-bat-chiêng hứa
và được Chúa Giêsu cho lên thế chỗ Ngài trên Thánh
Giá.
Ngày qua ngày, dân chúng vẫn đến
trước tượng Thánh Giá để cầu
nguyện. Không ai hay biết về việc đổi
chỗ này.
Một hôm, có người xứ nọ
đến cầu nguyện. Khi ra về, ông để quên
dưới ghế quỳ cái túi đầy những
đồng tiền vàng. Thấy vậy thầy vẫn yên
lặng.
Lúc sau, có một người nghèo khổ vào
nhà nguyện, ông ta sung sướng nh́n túi tiền vàng,
tưởng là Chúa ban cho liền xách túi, tạ ơn và
đi ra.
Rồi có một chàng thanh niên vào quỳ
gối khẩn nguyện xin ơn che chở v́ sắp
đi xa. Vừa ra khỏi nhà nguyện th́ gặp
người phú hộ trở lại t́m túi tiền. Không
thấy đâu, ông nghi chàng thanh niên đă lấy đi, tranh
căi và cả hai mời cảnh sát phân xử.
Không cầm ḷng được nữa, từ
trên Thánh Giá, thầy Xê-bat-chiêng hét lên: Đứng lại.
Mọi người ngạc nhiên. Thầy phân trần
sự việc. Người phú hộ t́m người nghèo
xin lại túi tiền. Chàng thanh niên cũng vội vă đi
cho kịp chuyến tàu.
Khi không c̣n ai trong nhà nguyện, Chúa Giêsu lên
tiếng bảo Xê-bat-chiêng: "Con hăy xuống ngay khỏi
Thánh Giá, con không xứng đáng thế chỗ cho Ta, v́ con
đă không biết giữ yên lặng như lời con
đă hứa."
Thầy vội vă phân trần: Nhưng lạy
Chúa, làm sao con có thể chịu đựng được
cảnh bất công đó?
Chúa Giêsu đáp: Thật con không hiểu ǵ
hết! Tiền của người phú hộ là tiền
bất lương, trong khi người nghèo đói kia
vất vả mà không kiếm đủ miếng cơm manh
áo cho đàn con nhỏ. Và nếu chàng thanh niên kia có bị
cảnh sát giữ lại, anh ta lỡ chuyến tàu, như
thế đă cứu được mạng sống ḿnh.
Ḱa, tàu của anh ta đang lao đao giữa biển cả
sắp ch́m v́ sóng to gió lớn. (Trích tuyển tập
truyện hay, Giấc Mộng Vàng, trang 27)
Câu chuyện này nhắc chúng ta nhớ lời
Chúa trong sách Isaia: Tư tưởng của Ta không phải
là tư tưởng của các ngươi,
đường lối của Ta không phải là
đường lối của các ngươi. Như
trời cao hơn đất bao nhiêu th́ tư tưởng
của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các
ngươi bấy nhiêu.
Trong suy nghĩ của con người,chúng ta
không thể hiểu được tại sao Chúa Giêsu
lại gọi bốn môn đệ đầu tiên
để đặt nền tảng xây dựng Giáo hội
như bài phúc âm đă kể.
Đó là những người chài lưới,
"ăn với sóng, nói với gió", ít học, quê mùa.
Chúa Giêsu lại chọn họ làm môn đệ. Tại sao
Chúa Giêsu không chọn những Luật sĩ, những
Pharisiêu, những Kư lục thông thái?
Cũng như chúng ta cũng hỏi, tại
sao Chúa Giêsu không sinh ra nơi cung điện nguy nga lộng
lẫy mà lại chọn hang đá Bêlem hôi hám lạnh
lẽo để giáng sinh? Tại sao Chúa Giêsu lại
chọn cái chết Thập giá đau đớn tủi
nhục để làm phương thế cứu
độ? Ngắm nh́n Hài Nhi trong máng cỏ cũng như
nh́n lên tử tội Giêsu trên thập giá, chúng ta
thường tự hỏi tại sao Chúa lại thích
những điều nghịch lư? Làm sao người ta có
thể tuyên xưng Người là Đấng Giải Thoát
khi Người đến trong dáng vẻ yếu
đuối bé bỏng?
Thánh Phaolô đă từng thốt lên: Trong khi
người Hy lạp t́m kiếm sự khôn ngoan, trong khi
người Do thái t́m các dấu lạ, th́ chúng tôi lại
rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh, một
sự điên rồ đối với lư trí nhân loại.
Bởi đó, đường lối của
Thiên Chúa không phải là đường lối của con
người. Thiên Chúa là Thiên Chúa. Con người là thụ
tạo.
Chúa Giêsu thường chọn những cái
nghịch lư để làm những điều vĩ
đại. Tám mối phúc thật là nghịch lư đối
với người đời nhưng lại là Hiến
Chương Nước Trời. Chúa Giêsu không đến
với sức mạnh bạo lực nhưng với
những ǵ yếu ớt mỏng manh kết tụ nơi
Hài Nhi bé nhỏ. Chúa Giêsu cũng kêu gọi những
người tầm thường, những người
khiêm nhường bé nhỏ. Chính bằng cái mỏng manh bé
nhỏ ấy mà Người khơi dậy nơi con
người cái chân tâm để rồi t́nh yêu của
Người giúp họ biến đổi để
trở nên những rường cột của Giáo hội.
Như thế Chúa nh́n con người với
cái nh́n yêu thương, tôn trọng, luôn thấy cái tốt,
cái đáng yêu nơi mỗi người cho dù họ nhỏ
bé, họ tầm thường. Chính sự bé nhỏ đó
mà Chúa biến đổi để nên lớn lao.
Mỗi người chúng ta trong cách nh́n về
tha nhân cũng cần học theo gương của Chúa.
Đó là cái nh́n về phía đàng trước, về phía
tương lai.
Nhiều lần ta khóa chặt anh chị em
ḿnh trong quá khứ lỗi lầm. Nhiều khi chỉ v́ vài
xích mích, vài lỗi lầm trong cuộc sống, nhưng ta
lại vịn vào đó mà phủ nhận, mà phán đoán và
đánh giá chính họ theo thành kiến của ḿnh. Có
người giận Cha xứ mà bỏ Nhà thờ không
đi lễ, không xưng tội rước lễ. Có
người tâm sự: mọi người coi tôi như
một người xấu xa, ai cũng lên án, ai cũng xa
lánh, cùng lắm chỉ thương hại, không c̣n cánh
cửa mở ra phía trước cho tôi.
Về mặt xă hội, hai mươi mấy
năm qua cũng có thái độ xét đoán con người
như thế. "Chủ nghĩa lư lịch" tạo
nên sự kỳ thị khủng khiếp. Biết bao nhân
tài bị mai một, không phát huy được tài năng
chỉ v́ lư lịch. Biết bao kẻ bất tài nhờ lư
lịch được thăng quan tiến chức. Khóa
chặt con người trong quá khứ, một quá khứ do
cha mẹ, do hoàn cảnh xă hội tạo nên. V́ quá khứ
ấy mà mà mọi cánh cửa mở ra cho tương lai
của xă hội đất nước cũng bị
thiệt tḥi.
Cho nên xem ra con người ta vẫn hay nh́n
lại phía đàng sau hơn là nh́n về phía đàng
trước. Trong khi đó niềm tin vào Thiên Chúa,
Đấng mở ngỏ cho tương lai, lại thúc bách
ta nh́n về phía tương lai. Nh́n về phía tương
lai là không chấp nhận thái độ thất vọng:
thất vọng về chính ḿnh, về anh em, về cuộc
đời. Nh́n về phía tương lai là thay thế
thất vọng bằng niềm tin: tin vào chính ḿnh, vào con
người, vào cuộc đời... Và trên hết cũng
như sâu hơn hết là tin vào Thiên Chúa, Đấng mở
ngỏ và dẫn đưa chúng ta đi về tương
lai.
(Suy niệm của Lm. Bùi Thượng Lưu)
Ninivê kinh thành sám hối: một kinh thành
"lớn quá trời rộng ba ngày đàng" (Ga 3,3), đặc
biệt đó là một kinh thành ngoại giáo. Chính trong kinh
thành này, lời sấm của Ngôn sứ Giona đă vang
dội khắp hang cùng ngơ hẻm, dội tới cung
điện đức vua. Điều kinh ngạc là dân
thành đă "tin vào Thiên Chúa" và tin vào lời rao
giảng sám hối của sứ giả Thiên Chúa sai
đến. Nhà vua đă ra chiếu chỉ bắt toàn dân
từ vua quan tới thứ dân phải theo nghi tiết sám
hối... Và Thiên Chúa đă chấp nhận tấm ḷng
thống hối của Ninivê.
Đức Kitô, sau thời gian tĩnh tâm trong
sa mạc đă khai mào việc rao giảng Tin Mừng
Nước Thiên Chúa tại Galiê:
"Thời buổi đă măn và nước
Thiên Chúa đă gần bên" (Mc 1,14)
Theo địa dư, Galilê giáp với xứ
Samarie và miền Syrô-Phénicie, ngoài dân địa phương
là người Do Thái lập cư, c̣n có các sắc dân
thiểu số ngoại bang khác cư trú, họ là những
người ngoại giáo. Điều đáng lưu ư là
Đức Kitô đă bắt đầu sứ vụ loan báo
Tin Mừng Nước Thiên Chúa từ Galilê. Rồi sau khi
sống lại, Ngài cũng hẹn với các môn đệ
của Ngài ở Galilê (Mc 14,28 và 16,7). Quả thực, Tin
Mừng đă được công bố cho cả dân
tộc Do Thái và dân ngoại.
Một trong những điều kiện tiên
quyết để đón nhận nước Thiên Chúa chính
là ḷng hối cải: "Hăy hối cải và tin vào Tin
Mừng" (Mc 1,14). Đọc hạnh các thánh, nhất là
những vị đại thánh, chúng ta kinh ngạc và thán
phục con đường cải quá tự tân dẫn các
ngài từ con đường sa đọa tội lỗi
quay trở về với Thiên Chúa: Một Augustin, một
Charles de Foucauld... và biết bao những tâm hồn lành thánh
khác. Ḷng hối cải thường bắt đầu
với sự đánh động từ thâm sâu của Thiên
Chúa, nói một cách khác chính ân thánh của Thiên Chúa biến
cải tâm hồn và làm cho con người t́m về đàng
ngay nẻo chính. Tiếp đến là một đoạn
tuyệt, cắt đứt với đời sống dĩ
văng, cởi bỏ con người cũ để mặc
lấy con người mới, con người
được tái tạo trong ân thánh. Dân thành Ninivê đă
nhận lấy lời cảnh cáo của sứ giả
Thiên Chúa, đă ăn năn sám hối và chắc hẳn
đă cải bỏ nếp sống lăng loàn cũ
để bắt đầu cuộc sống mới trong
đức tin vào Thiên Chúa.
Lư do khiến con người hối cải
thật lớn lao: để tiếp nhận Nước
Thiên Chúa, đón nhận ơn cứu độ. Con
người từ bỏ kiếp sống nô lệ tội
ác trở về với thiên chức con cái Thiên Chúa. Trong cái
nh́n vĩnh cửu và khải huyền đó, thánh Phaolô
đă khuyên tín hữu thành Corinthô hăy hướng nh́n về
tương lai:
"V́ bộ dạng thế gian này đang qua
đi" (1 Cr 7,31)
Dân thành Ninivê sống vào thế kỷ thứ
8 trước kỷ nguyên, rồi đến các tín hữu
thành Côrinthô cũng như những người đồng
thời với Đức Kitô quả thực họ đă
qua đi. Bao nhiêu đế quốc đă sụp đổ
hoang tàn không c̣n vết tích. Và thế gian với những phù
hoa của nó: tiền tài, danh vọng và sắc dục...
tất cả cũng sẽ qua đi. Sống trong kiếp
phù du, con người thường bị vật chất ru
ngủ, quên đi kho tàng khôn sánh ví là Nước Thiên Chúa. "Và
tức khắc họ đă bỏ cả chài lưới mà
theo Ngài", các môn đệ đầu tiên theo Đức
Kitô hẳn đă hiểu phần nào Tin Mừng nước
Thiên Chúa họ đă nghe Thầy ḿnh rao giảng, họ
đă sẵn sàng từ bỏ tất cả, ngay cả
những ǵ cấp thiết nhất cho kế sinh nhai
của họ. C̣n chúng ta, những người con đang
sống trong thế giới mau qua chóng hết này, chúng ta
phải có thái độ và nếp sống nào đối
với Tin Mừng Nước Thiên Chúa chúng ta đă lănh
nhận?
Anh chị em thân mến.
Con người ai cũng nặng t́nh gia
đ́nh không thể rời xa cha mẹ. Thế mà, anh
chị em đă từng chứng kiến: biết bao
người đă dám từ bỏ cha mẹ ḿnh cách dứt
khoát, để chạy theo tiếng gọi của t́nh yêu.
Khi đó họ không c̣n phải suy nghĩ ǵ nhiều
đến cha mẹ ḿnh nữa, chỉ c̣n có con tim là trên
hết. Tiếng gọi của con tim nó bao phủ tất
cả, nó lấn át tất cả. Khi đó họ không
cần biết những ǵ sẽ chờ đợi ḿnh,
không cần biết tương lai sẽ ra sao. Họ
chỉ cần biết, giờ đây họ hành
động theo lệnh lệnh của con tim mách bảo và
bước theo tiếng gọi của t́nh yêu. Như
thế họ bắt đầu một cuộc đời
mới mà không cần suy nghĩ ǵ nhiều. Mỗi
người đều trải qua giai đoạn như thế,
cứ sự thường th́ chăng ai hối tiếc
về việc làm đó của ḿnh cả.
Các tông đồ cũng thế. Các ông cũng
bước đi theo tiếng gọi: hăy theo Ta. Chúng ta nh́n
xem thái độ của các ngài như thế nào? - Không
một tiếng trả lời, vội đứng dậy,
bỏ tất cả để ra đi. Các ông đă bỏ
cha mẹ, bạn bè thân hữu, tài sản, cả những
ǵ đă từng làm vướng bận tay chân các ngài
bấy lâu nay: đó là chiếc lưới với những
mớ dây chằn chịt đă từng trói chặt đôi
chân các ngài, không cho các ngài đi đâu . Thế mà giờ
đây tất cả cả những thứ đó
đều trở nên vô dụng trước tiếng
gọi của t́nh yêu cao cả. Các ngài đă dứt khoát
những ǵ gần gủi với ḿnh bấy lâu nay
để bước đi mà không cần biết đi
đâu, không cần biết tương lai như thế nào
và cũng chẵng cần biết phải làm ǵ. Giờ
đây các ngài chỉ cần biết nghe theo tiếng
gọi và đáp trả là đủ. Cuộc đời các
ngài đă trung thành với tiếng gọi. Các ngài đă làm
tṛn những ǵ mà tiếng gọi đ̣i hỏi, cho
đến đỗi đă dám hy sinh cả mạng
sống v́ tiếng gọi. Lời mời gọi đó
vẫn c̣n vang lên mănh liệt qua từng thời
đại. Cũng có biết bao người không thể
từ chối hay cưỡng lại được nên
cũng đă bước theo và trung thành cách tốt
đẹp.
Ngày hôm nay, tiếng gọi t́nh yêu cao cả
đó cũng đă vang đến bên tai mỗi
người chúng ta, và chúng ta cũng đă đáp lại .
Mỗi người cũng đă dứt khoát và bước
đi theo tiếng gọi. Nhưng rồi từng ngày,
từng ngày trôi qua và giờ đây mỗi người nh́n
lại ḿnh xem: Chúng ta đă sống theo tiếng gọi
như thế nào? Mệnh lệnh con tim thuở ban
đầu giờ đây chắc không c̣n hiệu quả
lắm đối với chúng ta. Bởi v́ thỉnh
thoảng chúng ta vẫn c̣n trở về cây da cũ bến
đ̣ xưa, để t́m lại những bạn bè năm
xưa. Đó là mỗi khi phạm tội, là chúng ta đă
trở về với con người chưa
được kêu gọi. Chúng ta cũng c̣n để cho
những mớ chày lưới rối tung đó quấn
chặc những bước chân của ḿnh để
rồi không thể tiếng bước thêm được
nữa. Cũng có những lúc chúng ta để cho những
t́nh cảm riêng tư trong con người nỗi lên lấn
át cả tiếng gọi linh thiêng của mối t́nh cao
cả mà ngày nào ḿnh đă can đảm bước theo.
Nhưng giờ đây đôi lúc chúng ta sợ sệt:
sợ không c̣n ai yêu thương ḿnh, nếu sống theo
tiếng gọi mà ḿnh đă bước theo, sợ
thiệt hại bản thân nếu sống đúng với
những ǵ tiếng gọi đ̣i hỏi, sợ mất
đi một chút thời giờ quí báu để
hưởng thụ cho thân xác nếu ḿnh sống đúng
với những ǵ sứ mệnh của tiếng gọi
đ̣i hỏi. Nỗi lo sợ đó là những mớ dây
chày lưới đă trói bược đôi chân, khiến
chúng ta không thể bước đi thoải mái theo
tiếng gọi và trung thành với những ǵ mà t́nh yêu cao
cả đ̣i buộc chúng ta.
Nếu tất cả mọi hành động,
mọi lời nói của chúng ta đều phát xuất
bởi t́nh yêu , nếu chúng ta biết đối xử
với người khác bằng tất cả t́nh yêu
thương mà Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta, nếu
chúng ta biết sống như thế nào để
người khác nhận ra t́nh yêu của Thiên Chúa đang
hiện diện nơi chúng ta th́ như thế ḿnh đă
sống trọn vẹn và trung thành với tiếng gọi
t́nh yêu của Thiên Chúa.
Xin Chúa cho chúng ta biết yêu thương
thật sự, để trung thành đáp lại lời
mời gọi của Chúa trong đời sống hằng
ngày.
(Suy niệm của Lm. FX. Vũ Phan Long)
1.- Ngữ cảnh
Bài Tin Mừng này lấy phần cuối
của Lời tựa (Bản tóm tắt hoạt
động rao giảng của Đức Giêsu tại
Galilê, cc.14-15) và phần đầu của hoạt
động của Đức Giêsu tại Galilê (cc. 16-20).
Tin Mừng không phải là bản công bố
một loạt các chân lư rơ ràng và tách biệt. Ngược
lại, đây là một bản tường thuật lôi kéo
độc giả vào, đặt câu hỏi cho độc
giả, gây ra những nỗi ngờ vực và những câu
hỏi. Nhưng chính là nhờ cứ tiếp tục tự
hỏi trong công việc giải thích, mà độc
giả–thính giả trở thành môn đệ Đức
Giêsu, sẵn sàng bước đi đàng sau Thầy.
Đọc lần đầu tiên, hoặc đọc
những đoạn rời rạc, độc giả
thấy ư nghĩa của Tin Mừng không rơ ràng. Do đó
độc giả cần có can đảm đọc
tiếp, và cứ để cho những thắc mắc
mở ra và chờ đợi các câu trả lời đến
dần dần.
Cùng với việc Đức Giêsu xuất
hiện, hành tŕnh của các môn đệ cũng bắt
đầu. Đức Giêsu gọi các môn đệ
đầu tiên tại bờ hồ Galilê. Qua các hành
động của Người, Nước Thiên Chúa
cũng đến gần.
2.- Bố cục
Bản văn gồm hai đoạn nhỏ có
thể văn khác nhau:
1) Một “bản tóm tắt” công việc rao
giảng của Đức Giêsu tại Galilê (1,14-15):
a- nơi chốn và thời gian (c. 14a),
b- chính “bản tóm tắt” (cc. 14b-15);
2) Bài tường thuật việc Đức
Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên (1,16-20):
a- Đức Giêsu thấy (cc. 16.19),
b- Đức Giêsu gọi: đến, theo (cc.
17.20a),
c - Các ông đáp: từ bỏ và đi theo (cc.
18-20b).
Người ta thường coi “bộ ba” Gioan
Tẩy Giả – Phép Rửa – Cám Dỗ như một
phần Mở của TM Mc, c̣n “bản tóm tắt” là
khởi đầu cuộc đời công khai của
Đức Giêsu. Toàn bản văn chúng ta đang khảo sát
là phần khai mạc sứ mạng của Đức Giêsu
với khởi đầu công việc rao giảng của
Ngài và việc kêu gọi các môn đệ. Trong Mc, có
nhiều đoạn nhắc lại và nối kết hai
điểm này: x. 3,7-12.13; 6,6b.7-12).
Tuy nhiên, người ta cũng có thể coi
1,1-15 là một khối, được đóng khung bởi
hai từ “Tin Mừng” (cc.1 và 15) (x. Gnilka). Sang phần
kế tiếp, tác giả đưa vào một phần
mới với “biển hồ Galilê”. Như thế, có
thể nói, nhờ lối cấu trúc đóng khung, ta
hiểu lúc đầu Tin Mừng được giới
thiệu tổng quát, sau sẽ được giới
thiệu chi tiết.
Các câu 14-15 long trọng giới thiệu các
lời nói đầu tiên của Đức Giêsu theo Mc, do
đó, cần lưu ư đến tầm quan trọng
của những lời này. Trong Mt và Lc, Đức Giêsu
đă nói trước khi đi vào đời sống công
khai: qua ba mẩu đối thoại với quỷ (Mt
4,3-10; Lc 4,3-12); trước đó, Mt 3,14-15 kể lại
mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu với
Gioan Tẩy Giả, c̣n Lc 2,48-49 kể lại mẩu
đối thoại giữa Đức Giêsu với
Đức Maria tại Đền Thờ. Những lời
đầu tiên của Đức Giêsu có ư nghĩa
đối với nền thần học Mt và Lc, th́ hẳn
cũng có ư nghĩa đối với nền thần
học Mc... Nhưng bản văn song song đích thực
chính là lời nói công khai đầu tiên của Đức
Giêsu được ba Tin Mừng Nhất Lăm ghi lại:
a) So sánh Mc với Mt
|
Mt
4,17 |
Mc
1,14-15 |
|
Đức
Giêsu rao giảng |
Đức
Giêsu bắt đầu rao giảng |
|
|
Tin
Mừng của Thiên Chúa: Thời
kỳ đă măn |
|
Anh
em hăy sám hối |
|
|
v́
Nước Trời đă đến gần |
Triều
Đại (Nước) Thiên Chúa đă đến gần Anh
em hăy sám hối và tin vào Tin Mừng |
Công thức của Mt th́ ngắn và mờ
nhạt hơn công thức của Mc. Điểm ṇng
cốt (Nước Thiên Chúa và hoán cải) được
đóng khung bởi hai yếu tố bổ sung: “thời
kỳ đă măn”, và “anh em hăy tin vào Tin Mừng”.
Ngay trong bản văn Mt, câu nói ngắn
ngủi của Đức Giêsu đă được Gioan
Tẩy Giả nói trước đó: Tác giả Mt dùng cách
đó để khẳng định sự tiếp nối
của các sứ mạng (việc rao giảng của Gioan
chuẩn bị cho việc rao giảng của Đức
Giêsu, và việc rao giảng của các môn đệ nối
dài sứ điệp của Thầy). Nhưng v́ thế,
khi so sánh với bản văn Mt, ta thấy bản văn
Mc phong phú hơn, độc đáo hơn, đặc
biệt với từ “Tin Mừng” đặt trên môi
miệng Đức Giêsu.
b) So sánh Mc với Lc (Lc 4,14-15): Tác giả Lc nói
rằng Đức Giêsu giảng dạy nhưng không ghi
lại một lời nào của Người; ngược
lại, ngay sau đó, trong câu truyện hội
đường Nadarét (4,16-30), Đức Giêsu đọc
đoạn văn Is 61, mà theo Lc, là cả môt chương
tŕnh. Mà Lc lại dùng động từ “loan báo Tin Mừng”
(euangelizomai) (Lc thích dùng động từ này hơn là danh
từ “Tin Mừng”). Đây là điểm song song đáng
lưu ư với bản văn Mc. Trong cả hai bản
văn, quang cảnh khai mạc cuộc đời công khai
của Đức Giêsu là một Tin Mừng.
Mc đă nhấn mạnh tầm quan trọng
của “Tin Mừng” (HL. euangelion) khi ngài dùng từ này mà
đóng khung bản văn của ngài: “Đức Giêsu rao
giảng Tin Mừng của Thiên Chúa” và “anh em hăy tin vào Tin
Mừng”. Từ ngữ “Tin Mừng” được lặp
lại ba lần để đóng khung hai đoạn
văn trong cùng một phân đoạn, khiến ta hiểu
đây là “từ ch́a khoá” vừa của phần Mở
vừa của “bản tóm tắt”. Đàng khác, nếu
từ “Tin Mừng” đóng khung những lời nói
đầu tiên của Đức Giêsu, điều này có
nghĩa là, muốn hiểu những lời này, ta phải
đi từ “Tin Mừng”.
3.- Vài điểm chú giải
- Tin Mừng (14.15): Tác giả dùng từ
ngữ “Tin Mừng” ở dạng tuyệt đối (=
không có bổ ngữ theo sau) 5 lần, mà ta có thể phân
phối thành hai loạt: trong quan hệ với việc rao
giảng cho Dân ngoại (13,10; 14,9; 16,15) và khi nói về
việc các môn đệ bị bách hại và phải
biết hy sinh (8,35; 10,29). Trong hai bản văn cuối cùng,
đáng lưu ư là “Tin Mừng” được đặt
song song với Đức Giêsu: “v́ tôi và v́ Tin Mừng”, y
như là một sự đồng hoá. Tin Mừng
được nói đến y như là một nhân vật.
Trong tác phẩm Mt, từ ngữ này chỉ được
dùng 3 lần trong thuật ngữ “Tin Mừng về
Nước Trời”, c̣n Lc th́ không bao giờ sử
dụng. Hẳn đây là sáng kiến của riêng tác giả
Mc. Nhưng cũng rất có thể là ngài đă nhận
lấy ư niệm này từ Phaolô, v́ vị tông đồ
đă sử dụng từ ngữ “Tin Mừng” khoảng 60
lần, và có tới khoảng 30 lần dùng từ ngữ
này ở thể tuyệt đối (Các bản văn chính:
1 Tx 2; 1 Cr 9; Rm 1; 15; Pl 1 và 4). Từ ngữ này có nhiều
nghĩa:
+ việc loan báo một sứ điệp
hạnh phúc: nội dung của sứ điệp này;
+ hoạt động truyền giáo của tông
đồ Phaolô nơi Dân ngoại;
+ giá trị tối cao mà thánh Phaolô phải
đón nhận v́ vượt quá ngài vô cùng;
+ nhất là, đây luôn luôn là một thực
tại sống động, năng động, một
biến cố đang diễn tiến: sự xuất
hiện của vinh quang (2 Cr 4,4), sự mạc khải
đức công chính của Thiên Chúa đang hoạt
động để cứu độ loài người (Rm
1,16). Phaolô có thể nói rằng Đức Giêsu là “Con Thiên
Chúa quyền năng do phục sinh từ cơi chết” (Rm 1,4)
hoặc Tin Mừng là “quyền năng của Thiên Chúa
để cứu thoát mọi kẻ tin” (Rm 1,16). Nh́n theo quan
điểm cứu độ, Phaolô cũng như Máccô
đồng hoá Đức Giêsu và Tin Mừng (so sánh Mc 1,14-15
với Rm 1,1-5.16).
Các độc giả của Phaolô, sống
trong đế quốc, đă quen với những từ
ngữ như “quang lâm”, “giáng lâm”, “tiền hô”, “công bố”
(HL. kêrygma)… Nhưng tư tưởng của Phaolô không
bắt nguồn trực tiếp từ nghi thức đón
tiếp hoàng đế, mà là từ một nền tảng
Cựu Ước: từ các câu chuyện các vua Saun, Đavít
và Salômôn (x. 1 Sm 31; 2 Sm 1,4; 1 V 1) trong đó Tin Mừng có ư
nghĩa là chiến thắng, giải phóng, sự hiển
ngự của một vị vua. Đặc biệt từ
sách Sách Yên Ủi Israel (Is 40–55) trong đó có từ ngữ
“Tin Mừng”: hai lần ngài đă quy về Is 52,7 (x. Rm 10,15;
Ep 6,15). Sách II Isaia đă dùng từ “Tin Mừng” mà áp dụng
cho một biến cố cụ thể: biến cố
giải phóng những người lưu đày, nhờ
chiến thắng của vua Kyrô và sắc lệnh cho phép
họ hồi hương và tái thiết Đền Thờ.
Khi giải phóng Dân Người, Đức Chúa (Yhwh) tỏ
ra cho Dân ngoại thấy Người là Đấng Cứu
độ đầy quyền lực, là Đấng công
chính, Đấng yêu thương. Thiên Chúa đă thiết
lập triều đại của Người khi tích
cực can thiệp mà cứu độ Dân Ngài và tỏ ḿnh
ra cho họ. Vậy Tin Mừng là việc công bố cho muôn
dân biết cuộc đăng quang này của Thiên Chúa.
Đối với Phaolô và cả Mc nữa, Tin
Mừng là một cuộc đăng quang hoàng đế, là
một triều đại bắt đầu (x. Rm 1,1-4).
Nhưng nếu Phaolô đặt biến cố đăng
quang vào lúc Đức Giêsu chết và sống lại, Mc
lại đưa biến cố ấy ra trước,
đặt vào đời sống công khai của Đức
Giêsu. Đối với Mc, quyền lực của
Đấng Phục Sinh đă được bày tỏ cách
kín ẩn trong những lời nói và việc làm của
Đức Giêsu trần thế. Được loan báo trong
bản tóm tắt, Tin Mừng sẽ được bung ra
trong những bài tường thuật kế tiếp:
lời rao giảng với uy quyền, cuộc chiến
đấu chống Satan, các phép lạ và, có thể,
trước tiên, việc chọn lựa các môn đệ.
Từ đó, biến cố cứu độ khởi
đầu cho Triều Đại của Thiên Chúa (“Tin
Mừng của Thiên Chúa”: Mc 1,14) chính là bản thân
Đức Giêsu (“Tin Mừng Đức Giêsu Kitô”: 1,1) đang
hành động và rao giảng, Người chính là
“Triều-Đại-hiện-thân” (Origiênê). Như Phaolô nói,
và như Mc đă hiểu rất đúng: Tin Mừng của
Thiên Chúa, chính là Con của Người. Và Đức Giêsu có
thể nói: “Triều Đại (Nước Thiên Chúa)
đang ở đó” bởi v́ chính Người đang
ở đó.
Sự song song giữa hai bản văn
của Phaolô (Rm 1,1-5 và Rm 1,16-17) và Mc (Mc1,14-15) c̣n cho thấy
một yếu tố khác nữa: lời đáp của con
người với biến cố cứu độ hệ
tại một thái độ duy nhất, đức tin. Hoán
cải, chính là tin vào Tin Mừng, nghĩa là đón nhận
Tin Mừng và dấn thân phục vụ Tin Mừng.
- Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ: Trong
Mt, có một bản văn hầu như tương tự
bản văn Mc, c̣n trong Lc, hoàn cảnh khác hẳn: đây
là một bản văn độc đáo với ba yếu
tố: giảng dạy đám đông, mẻ cá lạ lùng
và việc kêu gọi Phêrô. Có thể nói bài tường
thuật về việc kêu gọi các môn đệ
đầu tiên đă có trong truyền thống ở
dạng độc lập.
Đọc lướt qua, chúng ta có ấn
tượng đây là một sự kiện tầm
thường. Đọc kỹ hơn, ta thấy hoàn
cảnh không đơn giản mấy. Trong thực tế,
có hai bài tường thuật nhỏ, khá giống nhau, ta có
thể đọc riêng rẽ, nhưng chúng được
nối kết với nhau về thời gian, nơi chốn
và hoàn cảnh, làm thành một khối rất thống
nhất.
Nói là hai bài tường thuật v́ các
đoạn văn này được xây dựng theo cùng
một mẫu, theo cách lược đồ (làm bảng
nhất lăm th́ thấy rơ). Ta có thể đọc thêm bài
tường thuật về ơn gọi của Lêvi (x.
2,14) để thấy những đặc điểm
tương tự.
|
|
Phêrô-Anrê |
Giacôbê-Gioan |
Lêvi |
|
1. |
Người
đang đi dọc theo biển hồ Galilê |
Đi
xa hơn một chút |
Đi
ngang qua (trạm
thu thuế) |
|
2. |
Người
thấy Simon với em là Anrê |
Người
thấy Giacôbê với
người em là Gioan |
Người
thấy Lêvi
con Anphê |
|
3. |
đang
quăng lưới xuống biển v́ họ làm nghề
đánh cá |
đang
vá lưới ở trong thuyền |
đang
ngồi ở đó (trạm
thu thuế) |
|
4. |
Người
bảo: Các anh hăy theo Tôi (Tôi
sẽ làm cho các anh thành những
kẻ lưới người như lưới cá) |
Người
liền gọi các ông |
Người
bảo ông Anh
hăy theo Tôi |
|
5. |
Lập
tức hai ông bỏ chài lưới |
Và
các ông bỏ cha ḿnh là Dêbêđê (ở lại trên thuyền
với những người làm công) |
Ông
đứng dậy |
|
6. |
mà
đi theo Người |
mà
đi theo Người |
đi
theo Người |
Có hai yếu tố không đổi: khi đi
ngang qua, Đức Giêsu thấy ai đó với nghề nghiệp;
Người kêu gọi, người ấy bỏ nghề,
đi theo Người. Đây là cái khung trong đó ta chỉ
cần thay đổi tên người được
gọi và kiểu sống của kẻ ấy.
Trong thực tế, sự song đối không
hoàn toàn sít sao. Nếu đọc các bài tường
thuật từ trái qua phải, ta nhận thấy rằng,
cứ sang một cột, lại mất đi một
yếu tố. Nhưng dù cho hai bài tường thuật
đầu vừa theo một lược đồ
tương tự vừa có thể tách rời nhau, ta
vẫn có thể nói rằng dường như chúng không
được viết độc lập với nhau; trái
lại, chúng bổ túc cho nhau rất khéo. Cho dù công thức
“họ làm nghề đánh cá” được dùng cho Simôn và
Anrê, ta vẫn hiểu rằng Giacôbê và Gioan cũng làm
nghề ấy. Mỗi bài mô tả một phương
diện của nghề đánh cá (quăng lưới; vá
lưới) nhưng cả hai mới cung cấp một
bức hoạ đầy đủ về nghề này.
Muốn biết bốn người đă bỏ ǵ lại,
phải cộng các chi tiết của hai bài: lưới,
thuyền, cha; nghĩa là: nghề nghiệp và gia đ́nh.
Nhưng đặc biệt hai câu 17 và 20 soi sáng lẫn nhau:
Lời hứa “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ
lưới người” chỉ được ngỏ
với Simôn và Anrê, nhưng rơ ràng cũng có liên hệ
đến Giacôbê và Gioan. Câu “Người gọi các ông”
(bản văn 2) không nhắc lại “Các anh hăy theo tôi”
(bản văn 1). Câu 17 xác định đối
tượng của việc Đức Giêsu kêu gọi
(một sứ mạng), c̣n c. 20 giải thích lời mời
gọi bước theo Đức Giêsu (một ơn
gọi). Như thế, những chi tiết hơi khác nhau
trong hai bài lúc đầu đă khiến người ta
nghĩ đến những bài tường thuật
tiểu sử, nhưng v́ đặc tính đúc sẵn
của chúng, có lẽ phải coi đây là một thể
văn riêng. Nhiều nhà chú giải cho rằng bài
tường thuật này đă dựa theo một bài mẫu
là ơn gọi ngôn sứ Êlisa (x. 1 V 19,19-21). Những
điểm giống nhau giữa hai bản văn cho
thấy tác giả đă dựa vào sách 1 Vua, những
chỗ khác nhau cho thấy rằng ngài cũng có quan
điểm riêng của ngài.
+ Giống nhau: Hai bản văn có cùng một
cấu trúc, hầu như có cùng những từ ngữ
giống nhau: Êlia (như Đức Giêsu) đi qua, gặp
một người đang làm việc, mời người
ấy đi theo ḿnh. Người môn đệ mới
liền bỏ nghề và cha mà đi theo Thầy. Trong
trường hợp Êlisa, điểm thứ năm chi
tiết hơn: ông huỷ tất cả những ǵ liên
hệ với cuộc sống trước đây, và ông
từ giă cha mẹ (= hoàn toàn đoạn tuyệt với
quá khứ). Điều lạ lùng là yếu tố này
chỉ được nhắc lại trong một bài
tường thuật về một ơn gọi hụt do
Lc viết (9,61-62) ở cuối một chuỗi ba câu
truyện (Mt chỉ ghi giữ hai truyện đầu: Mt
8,18-22): Ở đây ta gặp lại lời xin
được từ giă gia đ́nh và lời nói về “cái
cày”. Như vậy, dường như truyền thống
liên hệ đến ơn gọi của Êlisa, bằng
ảnh hưởng trực tiếp nhưng cũng
bằng tương phản, đă đóng một vai tṛ quan
trọng trong việc sáng tác các bài tường thuật
về ơn gọi trong Tin Mừng. Các điểm khác nhau
c̣n cho thấy rơ điều này hơn.
+ Khác nhau:
(1) Từ biệt cha mẹ. Câu trả lời
của Êlia có thể có vẻ hàm hồ, nhưng Do Thái giáo
coi lời ông như một lời cho phép. C̣n trong ba bài
tường thuật của Lc (9,57-62), Đức Giêsu không
chấp nhận bất cứ sự chậm trễ nào.
Trong cuộc kêu gọi các ngư phủ, không hề có
lời nào cho thấy họ xin từ biệt cha mẹ.
Ngược lại, mọi sự đi theo chiều
hướng một sự đoạn tuyệt tận
căn.
(2) Êlia “gặp thấy” Êlisa gần như do
t́nh cờ và dùng một cử chỉ mà mời ông đi
theo. Ngược lại, Đức Giêsu “thấy” những
kẻ Người gọi, một cái nh́n diễn tả một
sự lựa chọn trước; ngoài ra, Người c̣n
nói một lời (“Hăy theo tôi”) chứng tỏ uy quyền
tuyệt đối của Người.
(3) Êlisa đi theo Êlia chỉ như một
người tôi tớ; c̣n bốn người
được Đức Giêsu kêu gọi, th́
được Người cho biết sẽ giao cho họ
một sứ mạng. Các từ ngữ gợi ư một
sự chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng trong
thực tế Đức Giêsu xác định một sự
thay đổi hoàn toàn chiều hướng sống.
Lời Đức Giêsu làm cho bốn ông
trở thành “ngư phủ lưới người” chính là
trọng tâm, xoay quanh đó là bài tường thuật ơn
gọi nhằm một sứ mạng. Chúng ta nhận
thấy có những điểm nổi bật:
+ Sáng kiến của Đức Giêsu cho
thấy uy quyền tối cao và tính hữu hiệu của
lời Người. Không phải là người môn
đệ đi t́m một vị thầy dạy suy tư,
nhưng là Đức Giêsu đi bước trước.
Như Yhwh đă thấy Môsê, đă nhận ra Giêrêmia,
Đức Giêsu thấy, chọn và gọi những kẻ
Người muốn. Ngay từ đầu, Người
đă xử sự như thầy và chúa tể.
+ Lời đáp của kẻ được
gọi: tuyệt đối vâng lời Đức Giêsu,
như trường hợp các ngôn sứ; đoạn
tuyệt trọn vẹn với hoàn cảnh trước
đó (gia đ́nh và nghề nghiệp); dâng ḿnh hoàn toàn cho
Đấng kêu gọi để sống với
Người một cuộc sống mới.
+ Đức Giêsu kêu gọi để giao phó
một sứ mạng. Đối với Giáo Hội tiên
khởi, bài tường thuật này là nền tảng cho
quyền bính tông đồ. Sứ mạng của các ông
không đến từ các ông, nhưng từ một
tiếng gọi và nó bén rễ trong sự kiện các ông
đă bước theo Đức Giêsu.
- “Kẻ lưới người như
lưới cá” (halieis anthrôpôn) (c. 17): Tại Sumer (thiên
niên kỷ iii) và tại Mari (thiên niên kỷ ii), trong một
ngữ cảnh nói về chiến tranh, tấm lưới
cá là một dụng cụ giúp đạt chiến thắng
trên kẻ thù và là biểu tượng diễn tả
việc Thượng Đế thực thi công lư. Trong
nhiều bản văn ngôn sứ, đặc biệt Gr
16,16; Kb 1,14-15, ta thấy những tư tưởng và h́nh
ảnh này liên hệ đến việc Yhwh phán xét Israel:
trong dụ ngôn chiếc lưới (x. Mt 13,47-49), h́nh
ảnh ám chỉ cuộc chọn lọc trong ngày tận
thế. Nhiều cách diễn giải: “you will catch men as if you
were catching fish” (Barrow Eskimo), “just like you catch fish, I will make
catch men (San Blas), “give power to bring men” (Black Bobo), “make you become
ones who are men bringers (Moré), “fishers who fish (or catch) men” (Bratcher
& Nida).
- “Lập tức hai ông bỏ …”: Tác
giả Mc chỉ áp dụng hai lần động từ HL
aphiêmi, “leave, abandon”; “rời bỏ, bỏ rơi” cho các tông
đồ (ở đây và 14,50). Có lẽ ngài muốn nói:
bỏ của cải ḿnh cũng chẳng ích ǵ nếu
lại bỏ rơi Đức Giêsu trước cái
chết, hay chỉ “theo Người xa xa” (14,54). Kể
từ việc tuyên xưng đức tin tại Xêdarê và
lời loan báo Khổ Nạn lần đầu, Mc
đưa vào vào đề tài con đường (x. 8,27.
“Con đường” đánh dấu các chặng lên Giêrusalem:
9,33; 10,32). Nhưng trên con đường này, mặc dù
đi đàng sau, các môn đệ không muốn theo
Đức Giêsu tiến về cuộc Khổ Nạn.
Ngược lại, người môn đệ chân chính, là
anh mù Báctimê, khi đă thấy, th́ theo Đức Giêsu trên con
đường này (10,52). Kể từ nay, bước theo
Đức Giêsu, chính là vác thập giá (x. 8,34). Phêrô, Anrê,
Giacôbê và Gioan chỉ thực sự đi theo Đức
Giêsu khi mang Tin Mừng đến cho mọi người (x.
1,38; 2,15), và hy sinh mạng sống “v́ Đức Giêsu và v́
Tin Mừng” (8,35).
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Tóm tắt hoạt động rao giảng
của Đức Giêsu tại Galilê (14-15)
Trước khi ghi nhận các chi tiết
thuộc về đời sống công khai của
Đức Giêsu, Mc tóm tắt hoạt động của
Người bằng cc. 14-15. Biến cố Gioan Tẩy
Giả bị bắt đă kết thúc hoạt động
của ông. Đức Giêsu, trước đây đă
được Gioan ban phép rửa cho (1,9-11), nay trở
lại Galilê và tại đó, Người bắt đầu
công tŕnh của Người. Sứ điệp
Người phải truyền đạt được
xác định ngay từ đầu là Tin Mừng của
Thiên Chúa: Tin Mừng đến từ Thiên Chúa và Tin Mừng
nói về Thiên Chúa. Đây là Tin Mừng tuyệt hảo
được Thiên Chúa thông ban cho ta và nói với ta về
tương quan Người muốn thiết lập
với ta. Đức Giêsu cho biết rằng những ǵ
Thiên Chúa đă hứa, nay đang trở thành hiện
thực. Thời gian đang khởi đầu với
lời loan báo và hoạt động của Đức Giêsu
là thời gian của sự hoàn tất, thời gian của
hoạt động đặc biệt của Thiên Chúa.
Tất cả những điều này khiến chúng ta vui
mừng và tin tưởng.
* Gọi bốn môn đệ đầu tiên
(16-20)
Ngay từ đầu, Đức Giêsu đă
chứng tỏ Người là vị Tôn sư và Chúa tể.
Người không giải thích cho các môn đệ biết
chương tŕnh hoạt động của Người,
Người không đề nghị hay hứa hẹn, không
t́m cách thuyết phục, Người chỉ đơn
giản kêu gọi bước theo Người. Ngoài ra,
bởi v́ ngoại trừ trong cuộc Khổ Nạn,
Đức Giêsu không làm ǵ mà không có các môn đệ.
Điều này có hai ư nghĩa: 1) Ngay khi xuất hiện,
Đức Giêsu tạo lập một cộng đoàn,
một gia đ́nh (x. 3,20-35) gồm các môn đệ,
để họ “ở với Người và để
Người sai đi” (3,14). 2) Các ông là những
người tiếp nối công tŕnh của Người,
các ông phải làm chứng về những hoạt
động của Người. Người ta trở thành
môn đệ khi đón nhận tiếng gọi của
Đức Giêsu. Mở ḷng ra liên tục với tiếng
gọi này chính là đặc điểm thường
hằng của người môn đệ.
Ở đây, chúng ta ghi nhận Simôn nổi lên
như người thứ nhất trong anh em do chính sáng
kiến của Đức Giêsu (sẽ có lúc tên ông không
được nêu ra đầu tiên nữa: x. 16,7); chính
Người đă tách ông ra khi thiết lập Nhóm
Mười Hai, Người đă đổi tên Simôn thành
“Phêrô” (x. 3,13-19).
+ Kết luận
Vậy bài tường thuật này có một ư
nghĩa thần học. Nhưng c̣n giá trị lịch
sử th́ sao? Dường như bài này đă gây nhiều
vấn nạn, và các Tin Mừng viết sau (như Lc và Ga)
đă tŕnh bày việc kêu gọi đúng thực tế
hơn. Dù vậy, bên kia tính chất lược đồ
thần học, bài này cũng phản ánh những nét
lịch sử:
- Các môn đệ đă thực sống quanh
Đức Giêsu (“bước theo, đi đàng sau” là
động từ xác định quan hệ của một
nhóm môn đệ với một vị thầy (Rabbi).
- Con người Đức Giêsu có sức thu
hút người ta đi theo Người vô
điều kiện (nhiều đoạn Mc cho thấy
như vậy).
- “Bước theo” Đức Giêsu có nghĩa
là dấn thân trọn vẹn vào một cuộc phiêu lưu.
- Có thể coi câu nói “những kẻ lưới
người” là câu nói của chính Đức Giêsu, v́ không
có bản song song trong truyền thống kinh sư Do Thái hay
Hy Lạp.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Tác giả muốn nêu bật sự nối
tiếp giữa cuộc đời Đức Giêsu và Giáo
Hội. Cuộc đời Đức Giêsu được
giới thiệu bởi một vị Tiền Hô “bị
nộp”. Cuộc đời các ông cũng sẽ
được mạc khải bởi một Đấng
“bị nộp” và “sống lại”. Đọc câu truyện
hôm nay, thực sự phải nhận ra, đây chính là
Đấng Phục Sinh vừa xuất hiện trên bờ
biển, liên kết con người vào Tin Mừng bằng
lời quyền năng của Ngài. Kể từ nay, Galilê
chính là toàn trái đất, và bốn vị tông đồ là
cộng đoàn mênh mông gồm những người
bước theo Đức Giêsu.
2. Người Kitô hữu hôm nay cũng là
những người đă nhận được lời
kêu gọi: “Hăy theo tôi”. Họ không tự ư ra tŕnh diện
Đức Giêsu, không thỉnh nguyện được tham
gia vào công tŕnh của Người. Đức Giêsu cũng
không nhận họ như là những cộng sự
viện có tiền lương và có thời gian nghỉ hè.
Người kêu gọi họ. Tiếng gọi của
Người rất đ̣i hỏi, nhưng đưa
lại trọn vẹn ư nghĩa cho cuộc đời
họ.
3. Đức Giêsu không đề nghị cho
họ một chương tŕnh đă được
hoạch định sẵn, nhằm thuyết phục
họ là dấn thân theo chương tŕnh ấy là chuyện
hợp lư. Người gọi họ đến với
Người. Thật ra tiếng gọi của
Người cũng là một mệnh lệnh: điểm
quy chiếu và định hướng duy nhất cho họ
là bản thân Đức Giêsu. Người đi
trước họ, và họ phải bước theo
Người. Nội dung cơ bản của tiếng
gọi, tức của cuộc sống mới của các
môn đệ, là sự quy hướng về Đức
Giêsu, sự hiệp thông đời sống với
Người. Người môn đệ kư thác vào sự hướng
dẫn của Người.
4. Tiếng gọi này đặt người
môn đệ vào trong một tương quan riêng tư
với Đức Giêsu, làm cho người ấy trở nên
thành viên của một cộng đoàn và tạo ra
tương quan của người ấy với những
người được gọi khác. Đi theo
Đức Giêsu không phải là từng cá nhân riêng lẻ, nhưng
là một cộng đoàn các môn đệ. Nhưng không
phải là các môn đệ mà là Đức Giêsu, bằng
tiếng gọi của Người, xác định ai
thuộc về cộng đoàn này.
5. Tiếng gọi này là một lời mời
để cho Người đào tạo: “Tôi sẽ làm cho
các anh thành những kẻ lưới người như
lưới cá” (c. 17). Người trao cho họ một
nhiệm vụ mới và Người chuẩn bị
họ. Họ sẽ dẫn những người khác đi
trên cùng một nẻo đường mà họ đang theo,
tức sống hiệp thông với Đức Giêsu.
(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Vũ
Khắc Nghiêm)
Khai mạc công việc rao giảng Tin
mừng, Đức Giêsu đă đề ra một
chương tŕnh cách mạng rất ngắn gọn,
gồm ba điểm: Hăy sám hối, hăy tin vào Tin mừng,
hăy theo Ta.
Hăy sám hối: Cách mạng bao giờ cũng
bắt đầu bằng lật đổ chế
độ cũ, chế độ thốt nát xấu xa.
Hầu hết các phong trào cách mạng đều bắt
đầu bằng những hành động tiêu cực:
đả phá, hiếu chiến, gây tàn ác, chém giết,
chiến tranh khốc liệt.
Bắt đầu cách mạng của
triều đại Thiên Chúa, Đức Giêsu không đi vào
đường lối tàn ác của các cuộc cách mạng
trần gian. Người đă mở một con
đường cách mạng mới. Con đường ḥa
b́nh chứ không hiếu chiến, con đường
thương yêu chứ không tàn ác, con đường sám
hối tu thân. Sám hối tu thân là đấm ngực ḿnh,
chứ không đấm ngực, đánh đập
người. Đau ḷng v́ lầm lỗi chứ không làm
người đau ḷng. Hối hận chứ không thù
hận. Sám hối tu thân là xét ḿnh nhận biết tội
lỗi ḿnh đă xúc phạm đến Thiên Chúa và anh em,
rồi quyết tâm sửa ḿnh, chứ không t́m lỗi
người để tuyên truyền bôi xấu, nhục
mạ, tiêu diệt. Mục đích của sám hối là tin
vào Thiên Chúa mà bỏ đường gian ác như dân thành
vĩ đại Ninivê đă nghe lời Giona, tin vào Thiên Chúa.
Họ công bố lệnh ăn chay, tất cả mọi
người từ lớn chí bé đều mặc áo
vải thô và quyết tâm bỏ đường gian ác.
Hăy tin vào Tin mừng: Bước tiến thứ
hai của cách mạng là đề xướng
chương tŕnh mới, kế hoạch mới, lư
thuyết mới, chế độ mới. Chế
độ mới thường được tuyên
truyền, quảng cáo rất hấp dẫn để lôi
cuốn quần chúng theo cách mạng. Nhưng lịch
sử đă cho thấy: trải qua bao nhiêu chế độ
từ nông nô, phong kiến đến quân chủ, từ dân
chủ, cộng ḥa đến xă hội chủ nghĩa ;
chế độ nào cũng chỉ tạm thời, rồi
sụp đổ v́ chế độ nào cũng nảy sinh
độc tài, bất công, tham nhũng, thối nát.
Ngay cả đến Khổng Tử muốn
thiết lập một chế độ trên nền
tảng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và thực hiện thiên
mệnh. Nhưng hầu hết những kẻ học nho
lên cầm quyền chẳng tin thiên mệnh, chẳng làm
theo ư Trời. Do đó, họ chỉ lo dẹp loạn cho
yên thân để hưởng vinh hoa phú quư. Dân nước
sống chết mặc bay, mà c̣n giết hại bao nhiêu dân
lành. Minh Mạng, Tự Đức, bề ngoài có vẻ
hiếu kính tổ tiên, nhưng thực chất họ
chỉ lo củng cố địa vị, quyền lợi
ḿnh, chém giết nhau để tranh giành ngôi vua và chém
giết hàng trăm ngàn dân lành tử đạo, chỉ v́
họ sợ mất ngai vàng, chớ không phải sợ
mất nước.
Không tin Thiên Chúa, đó là lư do chính khiến các
chế độ loài người thối nát, sụp
đổ. Đức Giêsu đến cứu độ
thế nhân. Người thực hiện cuộc cách
mạng chân chính vững bền trên nền tảng Tin
mừng, để xây dựng triều đại Thiên Chúa
đến muôn đời. Người kêu gọi ta tin vào
Tin mừng. Tin mừng hướng dẫn ta biết
được nguồn gốc cao cả của ta bởi
Thiên Chúa hằng sống, chứ không bởi bùn đất
hay bởi loài vật chết thối. Nhờ đó, con
người lấy làm vinh dự và tự tin, rồi
nỗ lực phát triển nhân phẩm, đền đáp
công ơn sinh thành vô cùng của Thiên Chúa.
Thật vinh dự cho tôi, nếu tôi biết
tổ tiên tôi là những bậc vĩ nhân hay thánh nhân. Tôi c̣n
được vinh phúc muôn phần hơn nhiều, khi
Đức Giêsu cho biết: “Cha anh em, Đấng ngự
trên trời, Ngài cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ
xấu cũng như người tốt, và cho mưa
xuống trên người công chính cũng như kẻ
bất chính” (Mt. 5, 45). Thấy Cha trên trời toàn năng và
yêu thương mọi người như vậy, chúng ta
phải biết yêu thương anh em như chính ḿnh
để nên hoàn thiện như Cha chúng ta ở trên
trời. Biết được nguồn gốc bởi
Thiên Chúa, làm cho chúng ta có đức tin. Biết
được t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa, làm cho chúng ta có
đức ái. Biết được Thiên Chúa là
Đấng hằng sống vinh quang làm cho chúng ta có
đức cậy. Biết được Con Một Thiên
Chúa là Đấng chịu chết để cứu
chuộc chúng ta và sống lại để cho chúng ta
được sống lại đời đời
với Người, làm cho chúng ta cảm thấy chan
chứa vui mừng. Chúng ta tràn trề hy vọng
được sống vinh phúc muôn đời, không c̣n
tuyệt vọng, đau khổ về cái chết nữa.
Như vậy, tin vào Tin mừng, chúng ta
được đức tin mạnh mẽ giải thoát
chúng ta khỏi đời sống sa đọa thấp hèn.
Tin vào Tin mừng chúng ta được đức ái
nồng nàn, sống liên kết khắng khít với Chúa và
sống ḥa hợp với nhau để hy sinh cứu giúp
nhau. Tin vào Tin mừng, chúng ta được đức
cậy vững vàng đem lại cho chúng ta niềm hy
vọng vào tương lai đầy tươi sáng,
để ra sức chiến đấu với mọi
thử thách gay go của cuộc đời.
Vậy ngay từ giờ, chúng ta quyết tâm
bước theo tiếng gọi của Đức Giêsu: “Hăy
theo Ta”, để thực hiện chương tŕnh của
Người xây dựng triều đại Thiên Chúa như
Phêrô, Gioan, Giacôbê và Anrê, v́ không c̣n triều đại
thế gian nào có thể cứu chúng ta khỏi chết.
“Bộ mặt thế gian này đang biến đi”.
Hiện tại, thế gian này như chiếc pháo,
để người ta mua sắm để chúc mừng
nhau, vui cười trong tiếng nổ vang dội. Kết
cuộc, chỉ c̣n những xác pháo tan tành buồn thảm.
Vậy “kẻ hưởng dùng của cải đời
này, hăy làm như chẳng hưởng” (Bài đọc II).
Hăy khôn ngoan nhận biết rằng:
“Đừng dựa vào tường, tường sẽ
đổ, đừng dựa vào cây, cây sẽ gẫy ;
đừng dựa vào người, người sẽ
chết”. Hăy chỉ dựa vào một ḿnh Thiên Chúa hằng
sống vinh quang ta sẽ được sống vinh phúc
bất diệt.
Lạy Chúa, xin ban cho con một nhận
thức lành mạnh, để sám hối tu thân. Xin ban cho
con một trái tim rộng mở để hiến thân
phục vụ Tin mừng. Xin ban cho con một ư chí cậy
trông để củng cố những ai thất vọng lo
âu.
Hôm đó, Chúa Giêsu đang đi dạo trên
bờ biển, Ngài thấy bóng dáng quen thuộc của
những người đánh cá… Có đôi lần họ
đă tiếp xúc với Ngài, cũng như đă nghe Ngài
giảng dạy.
Lúc này kẻ th́ đang quăng chài,
người th́ đang vá lưới. Chúa Giêsu đă nh́n
họ với cặp mắt yêu thương và rồi
đă lên tiếng kêu gọi:
- Các con hăy theo Ta.
Và như thế, ơn gọi khởi đi
từ một lời kêu mời của Chúa.
Nơi người Do thái, cũng như
nơi các dân tộc khác, người ta thường t́m thày
học đạo. C̣n ở đây, chính Chúa Giêsu đi t́m
các môn đệ như lời Ngài đă xác quyết:
- Không phải các con chọn Thày, nhưng chính
Thày đă chọn các con…
Sở dĩ như vậy là v́ Ngài biết rơ
những giới hạn của ḿnh trong thời gian và không
gian. Ngài cần đến những người cộng tác
với Ngài để làm tṛn sứ mạng Chúa Cha đă trao
phó.
Với chúng ta cũng thế. Rất có
thể lúc này Ngài cũng đang nh́n chúng ta bằng cặp
mắt tŕu mến. Không phải chỉ hạnh phúc cho
người nào được thấy Chúa, mà c̣n phải nói
thêm hạnh phúc cho người nào được Chúa nh́n
thấy, được lọt vào ánh mắt yêu
thương của Ngài. Chúa Giêsu đang nh́n chúng ta, chúng ta
thế nào th́ Ngài thấy chúng ta thế ấy. Cái nh́n
của Ngài không làm cho chúng ta bị tê liệt, bởi v́ Ngài
chấp nhận thân phận bất toàn và yếu
đuối của chúng ta. Cho nên, chúng ta không cần
phải tô son điểm phấn, chính cái đơn sơ
và chân thành của chúng ta mới thu hút Ngài. Ngài nh́n chúng ta,
đồng thời qua cái nh́n ấy, Ngài cũng muốn kêu
mời chúng ta trở thành những môn đệ, những
cộng tác viên của Ngài.
Ngày xưa các môn đệ đă từ bỏ
cha già, ghe thuyền, chài lưới cùng với những vui
buồn của kiếp sống trên sông nước mà đi
theo Chúa. C̣n chúng ta, liệu chúng ta có dám từ bỏ
để đi theo Chúa hay không?
Bởi v́ sự từ bỏ luôn là một
điều kiện gắn liền với ơn gọi
của người môn đệ:
- Ai muốn theo Ta phải từ bỏ ḿnh,
vác thập giá ḿnh hàng ngày mà theo Ta.
Dĩ nhiên Ngài không đ̣i hỏi mọi
người phải từ bỏ gia đ́nh, phải
từ bỏ nghề nghiệp để đi theo Ngài trong
nếp sống tu tŕ, nhưng Ngài đ̣i hỏi mọi
người phải từ bỏ ḿnh với sự ích
kỷ của bản thân, với sự chai đá của
tâm hồn, với sự xơ cứng của con tim,
với những thành kiến của trí khôn.
Sự từ bỏ nào cũng để
lại những đớn đau, nhưng nhờ đó
chúng ta sẽ được lớn lên và trở thành
những môn đệ, những cộng tác viên của Chúa,
như hạt lúa phải mục nát th́ mới sinh nhiều
bông hạt.
Trong khi thu dọn ngôi nhà thờ bị
đổ nát do chiến tranh gây nên. Từ những mảnh
vụn, người ta đă dựng lại tượng
chịu nạn. Thế nhưng tượng này lại
thiếu mất hai bàn tay. Người ta t́m măi t́m hoài trong
đống gạch vụn mà cũng chẳng thấy.
Cuối cùng người ta đành chịu vậy. Thế
nhưng, một viên sĩ quan đă ghi lại hàng chữ
dưới chân tượng như sau:
- V́ đôi tay của Chúa không c̣n nữa, nên dân
làng hăy thay Chúa làm những công việc mà lẽ ra đôi bàn
tay Chúa vốn thường làm.
Lúc này Chúa đang nh́n chúng ta, Ngài lên tiếng
kêu mời chúng ta bước theo Ngài để trở thành
những môn đệ, những cộng tác viên, những
cánh tay nối dài của Ngài trong chương tŕnh cứu
độ.
Con người chúng ta thật là cao cả,
bởi v́ được Thiên Chúa cần đến.
Phải, Ngài cần đến từng người chúng ta
như một viên gạch nhỏ cần thiết cho ṭa nhà
và chẳng có ai là thừa thăi và vô dụng cả.
Đức Giêsu bắt đầu sứ
vụ công khai của Người bằng lời rao
giảng: “Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Lời kêu
gọi sám hối này nhắm đến ai vậy?
Trước hết, lời kêu gọi này nhắm
đến những kẻ tội lỗi, nhưng trên thực
tế, cũng nhắm đến tất cả mọi
người, ngay cả người tốt lành.
Đức Giêsu băn khoăn đối
với những người tốt lành hơn, so với những
kẻ tội lỗi. Tại sao vậy? Kẻ khó biến
đổi nhất lại chính là những người
tốt lành, bởi v́ họ không nhận thấy ḿnh có
bất cứ nhu cầu nào trong việc hoán cải.
Muốn đưa một bệnh nhân đi khám bác sĩ
đă là một chuyện khá khó khăn, nhưng bạn hăy
thử thuyết phục người đang mạnh
khỏe đi bác sĩ xem sao! Những kẻ tội
lỗi vốn công khai thừa nhận rằng ḿnh là
người tội lỗi, lại không gây ra cho Đức
Giêsu cùng một nỗi băn khoăn như vậy.
Để đáp ứng lại lời kêu
gọi hoán cải, người ta phải cảm thấy
bất măn với chính ḿnh, và ao ước một
điều ǵ đó tốt đẹp hơn. Họ
phải ư thức rằng bản thân ḿnh có một
điều ǵ đó sai trái, hoặc ít nhất là đang thiếu
sót một điều ǵ đó. Cảm nghiệm về nhu
cầu hoán cải bắt đầu với việc
nhận ra rằng chúng ta không được như
điều chúng ta có thể và nên làm. Nhận thức này là
giai đoạn đầu tiên của một quá tŕnh,
bước kế tiếp là cả một hành tŕnh.
Để xúc tiến lời kêu gọi hoán
cải, đ̣i hỏi người ta phải có tinh thần
cởi mở, chân thành, khiêm tốn, và nhất là ḷng can
đảm – can đảm để chấm dứt
kiểu tự lừa dối chính ḿnh, và dám đối
diện với một thực tại đau ḷng, can
đảm thừa nhận tội lỗi của ḿnh,
cầu xin ơn tha thứ và quyết tâm thay đổi. Con
người ta có thể trở nên quá kiên định trong
lối sống của ḿnh, do đó, lại càng bị ch́m
đắm trong những lối ṃn, đến nỗi
hầu như không thể lay chuyển họ
được.
Một số người có thể nh́n
thấy tương lai tốt đẹp hơn, nhưng
vẫn không chịu di chuyển. Họ nhận ra rằng
không thể đạt được tương lai này
chỉ trong nháy mắt, hoặc bằng phương
tiện là cây gậy thần. Họ nhận ra rằng con
đường trước mặt sẽ lâu dài, sự
tiến bộ thật là chậm chạp và đau
thương. Con người của hiện tại không
thể cư ngụ trong ngôi nhà của tương lai,
chỉ người nào biết biến đổi mới
có thể sống được mà thôi. Đây là lư do
tại sao một số người đă chọn lựa
ở lại nguyên t́nh trạng của họ.
Người ta thường tŕnh bày sự
thống hối như là một công việc đầy khó
khăn, tiêu cực và đáng buồn, dường như
thể điều đó chỉ bao hàm cảm giác tội
lỗi về những sai phạm của ḿnh, và phải
gánh chịu h́nh phạt do các tội lỗi này. Sự
thống hối là một hành động rất tích
cực. Thật vậy, thống hối là thừa nhận
rằng tất cả mọi sự nơi bản thân ḿnh
đều chưa tốt đẹp. Nhưng cũng là khám
phá rằng con người ḿnh có một điều ǵ
đó tuyệt vời, nghĩa là có những tiềm
năng, mà ḿnh chưa biết là ḿnh có. Điều này có
nghĩa là người đó đang đạt
được một tầm nh́n mới, đang đi theo
một đường hướng mới, tự ḿnh theo
đuổi những mục đích xứng đáng hơn,
sống theo những giá trị tốt đẹp hơn.
Nói tóm lại, điều này mở ra một lối
sống mới. Khi thấu hiểu được
điều này, th́ thống hối lại là một công
việc đầy phấn khởi, và luôn luôn đưa
đến niềm vui.
Thống hối nghĩa là biến
đổi. Sự biến đổi là điểm mở
đầu cho mỗi cuộc hành tŕnh thiêng liêng, và đó là
điều tiên quyết để đi vào nước
Thiên Chúa. Cuộc sống Kitô hữu là một quá tŕnh
biến đổi liên tục.
“Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng”
Sau khi nghe bài đọc thứ nhất, tôi
tự hỏi: Nhờ vào đâu mà dân thành Ninivê đă
được Chúa tha thứ, được thoát khỏi
h́nh phạt nặng nề giáng xuống trên họ.
Tôi xin thưa: là nhờ vào tâm t́nh sám hối.
Thực vậy, trước lời cảnh
cáo của tiên tri Giona, họ đă ăn năn và từ
bỏ con đường tội lỗi, để rồi
đă được hưởng nhờ ḷng khoan dung nhân
hậu của Chúa. Chính v́ thế, khi bắt đầu
cuộc sống công khai Chúa Giêsu đă kêu gọi:
- Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng.
Qua lời kêu gọi ngắn ngủi này, Ngài
muốn chúng ta cộng tác với Ngài trong chương tŕnh
cứu độ. Đúng thế, có lần thánh Augustinô phát
biểu:
- Để tạo dựng nên chúng ta, Chúa không
cần hỏi ư kiến chúng ta, nhưng để cứu
độ chúng ta Ngài cần chúng ta ưng thuận và
cộng tác với Ngài. Bởi v́ Ngài sẽ không thể nào
cứu chuộc chúng ta nếu như chính bản thân chúng ta
lại không muốn.
Sự cộng tác của chúng ta, mặc dù
rất nhỏ bé, nhưng lại là một yếu tố
quan trọng và có tầm mức quyết định.
Cũng trong chiều hướng đó, chúng
ta thấy tâm t́nh sám hối ăn năn, chính là sự
cộng tác của chúng ta vào với ơn Chúa, chính là như
một thứ tiền bạc thiêng liêng để chúng ta
mua lấy ơn tha thứ.
Chàng trai phung phá sở dĩ đă
được người cha đón nhận, là v́ chàng
đă có can đảm chỗi dậy, trở về nhà cha.
Phêrô sở dĩ đă được Chúa tha thứ và
được đặt làm đầu Giáo Hội, là v́
ông đă biết đấm ngực sau những lầm
lỗi của ḿnh. Mađalêna sở dĩ đă
được Chúa tha thứ, là v́ nàng đă biết khóc
thương cho quăng đời nhơ nhuốc trong dĩ văng.
Anh trộm lành trên thập giá, sở dĩ đă
được Chúa tha thứ, là bởi v́ anh đă
quyết tâm trở về cùng Chúa, mặc dù chỉ trong
những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Nếu như gịng nước rửa tội
tẩy xóa mọi dấu vết của tội nguyên
tổ, th́ những giọt nước mắt ăn năn
sám hối, cũng chính là một thứ nước có
sức gột rửa những dấu vết của
tội lỗi mà chúng ta đă trót vấp phạm.
Để nói lên sự cần thiết phải cộng tác
với ơn Chúa, tôi xin kể lại một mẩu
chuyện sau đây:
Sau khi cuộc thế chiến lần thứ
hai kết thúc, có một toán lính đồng minh đi giúp
những người dân xây dựng lại cuộc sống
trên đống gạch hoang tàn đổ vỡ. Họ làm
lại nhà cửa, sửa chữa ngôi nhà thờ trong làng.
Nhưng đến khi dựng tượng Chúa th́ toán lính
không t́m đâu ra hai bàn tay của pho tượng đă
bị bom đạn cắt cụt. T́m kiếm suốt
một ngày trong đám xà bần mà cũng chẳng thấy.
Toán lính bèn chịu thua. Sau khi dựng bức tượng
lên, viên sĩ quan đă ghi lại một hàng chữ như
sau:
- Dân làng sẽ thay Chúa làm những công việc
mà đáng lẽ hai bàn tay Chúa sẽ làm.
Một người đau khổ nghèo túng kêu
cầu Chúa, và cần đến chúng ta để an ủi
và giúp đỡ họ. Chúa dùng bàn tay của chúng ta
để xoa dịu những nỗi bất hạnh của
người khác.
Cuộc sống của chúng ta phải là
một sự nối tiếp công tŕnh của Chúa, phải
là một sự kéo dài cho sự hiện diện đầy
t́nh thương của Ngài cho đến tận cùng
thời gian.
Chúa đă chết trên thập giá để
lập nên kho tàng cứu độ, thế nhưng, chúng ta
phải biết giơ bàn tay lên để đón nhận
ơn cứu độ ấy cho bản thân và cho những
người chung quanh của chúng ta.
Chủ đề về sự thống
hối là một trong những chủ đề chính
của các bài đọc hôm nay. Chúng ta nhận thấy cách
thế ngôn sứ Giô-Na rao giảng về sự thống
hối cho thành phố ngoại đạo của Ninivê, và
đă gặp được một sự đáp ứng
ngay tức khắc và hết ḿnh. Đức Giêsu cũng
bắt đầu sứ vụ công khai của Người
bằng lời rao giảng: “Hăy sám hối và tin vào Tin
Mừng”. Nhưng thật không may, Người đă không
hề gặp được một cách đáp ứng
tương tự.
Nhiều người nhận thấy rằng
ư tưởng thống hối là một ư tưởng gây
rắc rối. Thống hối có nghĩa là thay đổi
tầm nh́n của người đó về cuộc
sống, và điều chỉnh những hành động
của ḿnh một cách phù hợp. Điều đó có nghĩa
là thay đổi tâm hồn và thay đổi lối
sống, có lẽ là hoàn toàn thay đổi cuộc sống
của ḿnh, theo chiều ngược lại. Như
thế, sự thống hối nối kết với
cảm giác đau đớn. Đó là lư do tại sao
người ta chậm đi theo sự thống hối, và
chỉ muốn được yên thân.
Có một câu chuyện từ những ngày mà
đạo Công giáo vừa mới đến Rôma. Câu
chuyện này liên quan đến một người lính Rôma,
tên là Livinius, đă yêu một thiếu nữ Công giáo. Tuy
nhiên, nàng không đồng ư yêu người lính đó,
bởi v́ anh ta không phải là người Công giáo. Một
đêm kia, anh ta đi theo nàng đến một nơi
gặp gỡ bí mật của một nhóm Kitô hữu
nhỏ, tại đó, không để cho bất cứ ai
nhận ra ḿnh, anh ta lắng nghe phụng vụ.
Khi được nghe đến lời rao
giảng của thánh Phêrô, có một điều ǵ đó
xảy ra nơi tâm hồn của anh. Một tầm nh́n
mới về cuộc sống mở ra trước mặt
anh. Nhưng anh biết ngay rằng nếu anh đi theo
lời giảng dạy này, th́ anh sẽ phải bỏ
đi những tư tưởng, thói quen, mục đích và
tính cách cũ của ḿnh. Thế rồi anh ta sẽ
phải sống theo một lối sống hoàn toàn khác
hẳn. Chúng ta không biết rằng anh ta có đủ yêu
người thiếu nữ đó, đến nỗi
chịu thay đổi lối sống của anh ta
đến thế không.
Đó là một ví dụ về sự
thống hối – quay lưng lại với những
điều rơ ràng là xấu xa, chẳng hạn như
nghiện ngập, bất lương, loạn luân. Nhưng
đây chỉ là một loại thống hối mà thôi.
Cũng có một sự thống hối được
chuyển thành ḷng tốt. Ở đây, sự thay
đổi không nhất thiết phải mạnh mẽ,
quyết liệt. Sự thay đổi có thể xuất
phát từ một lối sống hoàn toàn ích kỷ,
đến một lối sống yêu thương và quan tâm
hơn. Loại thay đổi này cũng gây ra sự đau
xót. Ai muốn giũ khỏi lối sống theo nhục
dục, t́m kiếm tiện nghi, và nuông chiều bản thân?
Sự thống hối là điều ǵ đó
chủ yếu là tích cực. Thật vậy, thống
hối là thừa nhận rằng tất cả mọi
sự nơi bản thân ḿnh đều chưa tốt
đẹp. Nhưng cũng là khám phá rằng con
người ḿnh có một điều ǵ đó tuyệt
vời, nghĩa là có những tiềm năng, mà ḿnh chưa
biết là ḿnh có. Điều này có nghĩa là người
đó đang đạt được một tầm nh́n
mới, đang đi theo một đường
hướng mới, tự ḿnh theo đuổi những
mục đích xứng đáng hơn, sống theo những
giá trị tốt đẹp hơn. Nói tóm lại,
điều này mở ra một lối sống mới.
Không ai có thể đạt được
lối sống mới một cách nhanh chóng và không hề
đau xót ǵ cả, nếu không, tất cả mọi
người đều sẽ chọn lựa lối
sống đó. Nói đúng hơn, điều này đưa
đến một cuộc hành tŕnh và đấu tranh, mà
trong đó không ai hoàn toàn đạt được
chiến thắng.
Không giống như sự ân hận, thống
hối mở ra con đường tái sinh. Khi thấu
hiểu được điều này, th́ thống hối
lại là một công việc đầy phấn khởi, và
luôn luôn đưa đến niềm vui. Điều này có
nghĩa là chúng ta biết lắng nghe và sống theo Tin
Mừng.