Chúa nhật XXV  thường niên - Năm B
ÐƯỜNG PHỤC VỤ

Linh mục Nguyễn Cao Luật, OP

Ðấng Mê-si-a phục vụ
Ðức Giê-su đang trên đường. Con Người đang tiến đến cuộc Thương Khó và lần thứ hai, Người báo trước cho các môn đệ về biến cố này, cũng như về cuộc Phục Sinh.

Trong lần loan báo trước, các môn đệ không hiểu điều Ðức Giê-su muốn nói, các ông - qua đại diện là Phê-rô - đã ngăn cản Người. Nhưng Người vẫn đưa các ông đi theo và dần dần giáo huấn các ông về vai trò của một Ðấng Mê-si-a chịu đau khổ. Lần đó, Ðức Giê-su đã nói đến sự cần thiết phải mang lấy thập giá của mình mà đi theo Người.

Trong lần loan báo này, các môn đệ cũng không hiểu điều Ðức Giê-su muốn nói, nhưng các ông không dám hỏi. Các ông chẳng hiểu gì về cuộc sống ở phía bên kia và vẫn cảm thấy khó chấp nhận quan niệm về một Ðấng Mê-si-a là Tôi Tớ. Chính vì vậy, trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Ðức Giê-su nhận thấy phải giải thoát các ông khỏi tình trạng u tối.

Về tới nhà, Ðức Giê-su hỏi các môn đệ : "Dọc đường anh em đã bàn tán điều gì vậy ?" Ðức Giê-su muốn kiểm nghiệm lại tình trạng u tối của các ông. Các môn đệ không dám trình bày lại, vì các ông đã tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong vương quốc trần thế mà các ông đang trông đợi. Ða số các môn đệ xuất thân là những người hèn kém trong xã hội, nên các ông ước mơ trở thành những người có uy tín, có chức quyền, và được nắm quyền chỉ huy.

Khi loan báo cuộc Thương Khó, Ðức Giê-su cũng báo trước cuộc Phục Sinh, nhưng các môn đệ không hiểu. Thật ra, người ta có thể nghĩ đến cái chết của ai đó, nhưng hầu như chẳng có ai muốn nghĩ nhiều đến cuộc sống sau đó, như là chuyện không thể. Còn nếu nói đến cuộc sống của một người đã chết rồi sống lại, quả thật, điều này ngoài tầm hiểu biết của con người.

Ðứng trước tương lai không thể hiểu nỗi này, các môn đệ đứng yên tại chỗ, lấy hiện tại làm vĩnh cửu. Các ông lo tổ chức xã hội nhỏ bé của mình và tranh luận xem ai là người lớn nhất.

Ðức Giê-su đã trả lời cho các môn đệ : Ai muốn làm người đứng đầu, phải làm người rốt hết. Ai muốn làm người lớn, phải nên như trẻ nhỏ. Ai muốn làm thầy, phải là người phục vụ. Câu trả lời của Ðức Giê-su quả là một nghịch lý. Tuy vậy, đây không phải là những nhận định lý thuyết, nhưng là những mẫu gương cụ thể mà Người Tôi Tớ đau khỗ không ngừng đưa ra.

Cuộc đời và cái chết của Ðức Giê-su là một bằng chứng sống động về điều này : Ðể trở thành người lớn nhất, phải trở nên người bé nhất, trở thành người phục vụ. Phục vụ tất cả mọi người, kể cả một đứa trẻ.

Trong thế giới mới do Ðức Giê-su thiết lập, người ta trở thành người lớn khi người ta là tôi tớ, thay vì có tôi tớ. Trong thế giới này, đứa trẻ chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Quả là một điều lạ thường !

Trẻ nhỏ là tương lai
Ðón nhận Ðấng Phục Sinh, đó là đón nhận cuộc sống mới do Người đem lại. Sự sống ấy không chỉ là sự yếu ớt của đứa trẻ mà người ta cần bảo vệ, nhưng là một tương lai mà Ðức Ki-tô đòi người ta phải chấp nhận, phấn dấn mình vào.

Quả thế, đứa trẻ đáng được yêu thương vì sự ngây thơ và giản dị, nhưng hơn thế, vì nó là dấu chỉ về một cuộc sống mở ra và luôn mới mẻ. Ðứa trẻ là một nhân tố đem lại một hy vọng đặc biệt, là một cuộc sống luôn hướng về phía trước, đón nhận thêm những điều mới. Ðức Giê-su đồng hoá đứa trẻ với con người được phục sinh, bởi vì phục sinh là khởi đầu cho sự sống mới này và cuộc sống này được trao tặng cho từng người. Như thế, cần phải đón nhận cuộc sống bên kia như đón nhận một đứa trẻ.

Tuy vậy, Ðức Giê-su nhìn những đứa trẻ như thế nào khi Người ôm chúng vào lòng và chúc lành cho chúng ?

Ngoài những đặc tính mà ai ai cũng thấy, chắc chắn đứa trẻ cũng có những khuyết điểm, những thiếu sót. Ðức Giê-su không phải là người cuối cùng biết rằng trẻ nhỏ cũng có những hình thức mặc cảm, cũng có những thái độ ghen tương, ma mãnh và dối trá.
Nói như thế không có nghĩa là kết tội trẻ nhỏ, nhưng để nêu lên một vấn đề khác : giáo dục. Thông thường, trẻ em có khuynh hướng quy tất cả về mình. Ðây là một sự kiện về tâm lý chứ không phải về luân lý. Do đó, nhiệm vụ của những người có trách nhiệm giáo dục không phải là dùng Tin Mừng để đưa ra những lời khuyên đạo đức, nhưng là thổi vào cuộc sống của đứa trẻ luồng gió Tin Mừng để nó dần dần tự khám phá điều này : phải yêu thương người khác như chính mình.

Cũng do tính ích kỷ này, trẻ em thường có thái độ vô ơn : nó không hiểu được những hy sinh nhọc nhằn cha mẹ phải chịu. Trong khi đó, nên tảng của lòng tin Ki-tô giáo là tạ ơn. Nhà giáo dục sẽ phải hướng dẫn đứa trẻ từ đời sống tự nhiên đến đời sống siêu nhiên.

Như vậy, để hiểu rõ thái độ của Ðức Giê-su với các trẻ em, cần phải vượt qua những đặc tính mà theo thói quen, người ta thường gán cho chúng, đồng thời phải hiểu điều được tượng trưng nơi đứa trẻ theo quan điểm đức tin : đứa trẻ luôn ở trong tình trạng tiếp nhận. Chính trong tình trạng này, đứa trẻ đi vào đời sống Ki-tô giáo.

Phải chăng đó không phải là tình trạng của người lãnh bí tích thánh tẩy : sống tuỳ thuộc vào tình yêu đối với Thiên Chúa của mình ?

Như thế, chẳng có gì là lạ lùng khi mà Nước Trời thuộc về các trẻ nhỏ và những ai giống như chúng ! Có gì là lạ lùng khi tiếp đón đứa trẻ trong tinh thần này, bởi vì đó là đón tiếp Thần Khí của Thiên Chúa.

Nên bé nhỏ để giống Ðức Giê-su
Phần chúng ta, chúng ta tranh luận gì trên những nẻo đường đời ? Có lẽ chúng ta cũng bối rối khi Ðức Giê-su đặt vấn đề này với chúng ta ! Khi nói lên điều người ta vẫn ấp ủ trong lòng, mỗi người bày tỏ điều sâu kín nhất của chính mình.

Phải chăng chúng ta cũng mơ ước được nắm quyền chỉ huy ? Hãy nghe lời Ðức Giê-su nói với các môn đệ mà tìm cách để phục vụ người khác cách tốt nhất và giúp đỡ những ai đang cần. Mỗi người hãy quan tâm biến đổi đời mình nên giống Ðức Giê-su qua việc đón tiếp những người yếu đuối, những người bé mọn, coi họ như những sứ giả của Thiên Chúa. Ðó là con đường tốt nhất để mỗi người gặp được Ðức Giê-su và trở nên giống Người.

Ngoài ra, khi mời gọi chúng ta sống khiêm tốn, trở nên bé nhỏ, Ðức Giê-su không có ý bảo chúng ta phải từ khước những hồng ân đã lãnh nhận, hay tránh né các trách nhiệm được giao phó, nhưng là thẳng thắn chấp nhận tình trạng của mình với những giới hạn, những yếu đuối, nhất là ý thức được tình trạng lệ thuộc của chúng ta vào Thiên Chúa, Ðấng ban cho ta mọi sự. Khi mơ ước chỗ nhất, chúng ta cắt đứt sự tuỳ thuộc này. Khi tìm chỗ cuối hết, dù công khai hay âm thầm, chúng ta để cho Thiên Chúa xếp đặt như ý Người muốn. Chỉ có chỗ này mới chắc chắn.

"Trẻ em mãi mãi là hình ảnh rõ nét nhất, đúng Tin Mừng nhất của Chúa. Trẻ em đón nhận Ðức Ki-tô chứ không tranh cãi. Chúng để cho Người lôi cuốn chứ không tìm cách độc quyền chiếm hữu Người. Trẻ em chính là hiện thân của thái độ tự do phó thác và yêu thương ...

Chỉ có một cách không bị vấp ngã vì cớ Ðức Ki-tô, ấy là hoá nên trẻ nhỏ, đơn sơ, nghèo nàn. Chỉ có một hạng người Ðức Ki-tô không bao giờ là cớ vấp ngã cho họ là các trẻ nhỏ ... (Juan Arias Thiên Chúa mà tôi không tin, bản dịch của Lưu Tấn trang 6,4. )