| Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm A |
| MỘT CHỦ CHIÊN LÀNH VỪA KHUẤT BÓNG |
| Lm Nguyễn Khoa Toàn |
| “Ôi! Giáo Hoàng! Ông ấy có bao nhiêu sư đoàn?” Joseph Stalin đã nói như thế vào năm 1935 với Pierre Laval, ngoại trưởng Pháp thời bấy giờ, khi ông ta xin nhà độc tài này cho tôn giáo đuợc tự do hơn trong Liên Bang Sô Viết. Hình như Laval đã quá thơ ngây xin điều không thể vì tự do tôn giáo phải đi đôi với tự do tư tưởng, mà tự do tư tưởng thì chỉ là điều không tưởng trong chủ nghĩa cộng sản. Tên đồ tể khát máu mang tên thánh Joseph nhưng tên họ Stalin cũng đã từng tuyên bố: “Ý tưởng mạnh hơn súng đạn. Chúng ta không để cho kẻ thù có vũ khí thì tại sao lại để cho chúng có có tư tưởng đuợc?” Và Karol Wojtyla hiểu điều này hơn ai hết. Là nạn nhân của hai chế độ ngược ngạo và bạo tàn nhất lịch sử con nguời -Đức Quốc Xã và Cộng Sản- điều đầu tiên mà Karol, hay Lolek -tên cúng cơm mà những bạn hữu thân quen vẫn thường gọi Ngài- thực hiện sau khi lên ngôi Giáo Hoàng ngày 16/10/1978, là về thăm cố hương Ba Lan của Ngài năm 1979. Và ngay tại xưởng đóng tàu Gdanks, cùng với Lech Walesa và phong trào ‘Đoàn Kết’, Ngài đã cho cả thế giới cộng sản hiểu rõ thật rõ thế nào là sức mạnh của tư tưởng con người. Khi qùy gối cúi gập mình hôn kính đất Ba Lan vơi tư cách là Giáo Chủ của Giáo Hội Công Giáo, Ngài cũng đã gián tiếp gửi nụ hôn từ biệt -a goodbye kiss- đến chủ nghĩa cộng sản đại đồng. Đã có một thời giáo điều cuồng tín này làm mưa làm gió từ Á sang Au. Và gần như cả trên mọi miền thế giới. Tại công truờng “Chiến Thắng” thủ đô Warsaw, Ngài đã thẳng thừng thách đố các nhà cầm quyền Cộng Sản là “Chúa Kitô không thể bị tách rời ra khỏi lịch sử con nguời tại bất cứ phần đất nào- bất cứ kinh tuyến và vỹ tuyến nào- trên địa cầu này.” Với Ngài, tranh đấu cho tự do tôn giáo luôn là ưu tiên một vì đó là quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con nguời. Và quyền này phải đuợc tuyên đối tôn trọng ở bất cứ nơi đâu. Trong bất cứ thể chế chính trị nào. Khi những viên đạn từ nòng súng của Mehmet Ali Agca xuyên vào da thịt Ngài tại Quãng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981, cả thế giới đều sững sờ kinh ngạc. Kinh ngạc một phần về âm mưu ám sát, nhưng kinh ngạc hơn vì đó cũng chính là phát súng ân huệ nhắm thẳng vào những môn đồ của Karl Marx, Lenin. Lời thách thức can trường trên đã lung lay tận cùng gốc rể giáo điều phi nhân và chủ nghĩa phi dân tộc này. Có lẽ một vài nơi còn dè dặt với sấm ngôn trên nhưng không một ai có thể phủ nhận là đỉnh cao của triều đại Giáo Hoàng Ngài là sự sụp đỗ môt cách có hệ thống toàn bộ chủ nghĩa cộng sản. Những búa đóng tàu ở Gdanks với sức mạnh Gioan Phaolô II đã trở thành những bộc phá sụp nát bức tường ô nhục Bá Linh. Và những bức tường cách ngăn vô hình khác. Và vì thế, Ngài đã rộng cánh bay đi 773,520 dặm đến khắp mọi miền thế giới. 876 thành phố của 129 quốc gia đã được vinh hạnh đón tiếp Ngài viếng thăm mục vụ, trong đó có quê hương Australia và thành phố Sydney chúng ta. Và trong 3,288 bài giảng và diễn văn, Ngài đã luôn tâm đòi buộc quyền làm nguời cho những nguời đã bị tước đi quyền đuợc làm người. Tiếp kiến riêng 803 lãnh đạo các quốc gia, Ngài đã là tiếng nói cho những người không còn tiếng nói. Từ đứa bé thơ trong cung lòng mẹ cho đến những người già yếu đau ốm tật nguyền, Ngài đã tranh đấu liên lĩ không mệt mỏi và cũng không nao núng cho đến giây phút cuối đời Ngài để những người bất hạnh này luôn đuợc có quyền sống. Luân lý, với Đức Cố Gioan Phaolô, phải luôn đi đôi với công lý. Không thể tranh đấu cho quyền sống của một bào thai mà lại hờ hững thờ ơ lạnh nhạt với những kẻ đang sống rất khốn cùng. Thật thế! Không thể tìm được Đuờng, Sự Thật và Sự Sống khi chỉ tập chú đến luân lý ở Amsterdam, Sydney, New York mà lại thiếu nhạy bén cảm thông với những dằn vặt bức xúc của những nạn nhân của bọn bá quyền tư bản. Luân lý không đi đôi với công lý chỉ là một luân lý bề ngoài giả hiệu. Là một luân lý chết. Đòi hỏi công lý cho toàn thể mọi người là cùng đích của triều đại Giáo Hoàng Ngài. Với những thổ dân Uc châu, Ngài chân thành nhắn nhủ: “Giờ đã đến để các con cấy lên niềm hy vọng và can đảm. Các con đuợc kêu gọi để luôn luôn nhớ về quá khứ, trung thành với những phong tục tập quán và nhạy bén hoà nhập với môi trường và xã hội các con đang sống chung quanh.” Lời nhắn nhủ của vị Cha chung có phải chăng cũng là lời nhắn nhủ đến mỗi từng người Việt nam hải ngoại chúng ta? “Luôn nhớ về quá khứ” vì lòng dạ nào mà có thể đành đoạ quên nơi chôn nhau cắt rốn của mình? Không thể quên! Không thể nào quên vì 30 tháng 4 là ngày phải đuợc khắc ghi trong tâm can bằng máu. Nhưng 30 tháng 4 cũng có thể là một ngày rất dễ mờ phai trong ký ức nếu chúng ta không luôn ý thức rằng đặt một vòng hoa tưởng niệm cũng tựa như chít trên đầu mình một vành khăn sô trắng. Nếu không, những hoan hô biểu tình đả đảo kia chỉ là vụ hình thức bên ngoài, chỉ làm cho có, cho xong, cho đúng phép đạo đời!!! Và “trung thành với những phong tục tập quán và nhạy bén hoà nhập với môi trường và xã hội đang sống chung quanh” là luôn nhạy bén thích nghi và tuyệt đối tôn trọng những đòi buộc nơi phần đất chúng ta đang sinh sống. Không thể tranh đấu cho hoà bình và công lý khi chúng ta lại xao nhãng, thậm chí chà đạp hoà bình và công lý. Khi đuợc hỏi sao Ngài lại phong thánh cho rất nhiều nguời -nhiều hơn tất cả các giáo hoàng tiền nhiệm cộng lại, Đức Cố Gioan Phaolô đã trả lời: “Không có một con đuờng nào duy nhất để trở thành thánh!” Thật vậy, 483 ‘tân thánh’ và 1,345 ‘tân á thánh’ đuợc tuyển chọn từ mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi thành phần xã hội khác nhau. Họ là những người dân bình thường sống đời sống bình thường với những mộng ước bình thường. Có khác chăng là họ đã biết đáp trả -mạnh dạn và can đảm đáp trả- tiếng gọi của Giêsu. Và chính họ đã trở thành những mục tử rất trung kiên. Và cũng rất nhân lành. Như mục tử Giêsu… Và cũng như những mục tử rất trung kiên và rất nhân lành dưới đáy biển Đông, hay trong những trại tù tập trung, hay trên chốn sa trường. Họ đã chết cho chúng ta còn hơi thở sống. Và nếu tưởng niệm là phải sống điều tưởng niệm, hãy gắng can đảm sống để một mai kia không xa, chính chúng ta sẽ trở thành những mục tử rất trung kiên và cũng rất nhân lành. |