Chúa Nhật Lễ Lá - Năm A
XIN CHA THA CHO HỌ....
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
"Xin Cha Tha cho họ vì họ lầm không biết việc họ làm"

Tại sao dân chúng vừa nghênh đón Chúa Giêsu sau đó lại trở mặt truất phế Người?

Nếu Mùa Chay, bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro, kéo dài 40 ngày, thì ngày thứ 40, tức ngày cuối cùng của Mùa Chay hôm nay đây là Chúa Nhật Lễ Lá. Tuy nhiên, ngày cuối cùng của Mùa Chay này cũng lại là ngày mở đầu của một Tuần Thánh, được gọi là Ngày Chúa Nhật Thương Khó. Bởi thế, theo Phụng Vụ, Mùa Chay được kết thúc vào một ngày vừa vui lại vừa buồn: vui ở việc cử hành biến cố Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành thánh Giêrusalem, buồn ở việc cử hành biến cố Chúa Giêsu khổ nạn và tử giá. Thật ra, theo thứ tự thời gian, biến cố khổ nạn và tử giá của Chúa Giêsu chỉ xẩy ra giữa hai biến cố, biến cố Người vinh quang tiến vào thành thánh trước mấy ngày và biến cố Người sống lại từ trong cõi chết sau mấy ngày. Nghĩa là biến cố khổ nạn và tử giá của Chúa Giêsu chỉ chính thức xẩy ra vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, một ngày trong Tam Nhật Thánh, thời gian tột đỉnh của cả một Phụng Niên, vì là thời gian Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, một mầu nhiệm được kết thúc ở Đêm Phục Sinh. Chính vì Chúa Nhật Lễ Lá là Chúa Nhật Thương Khó mà từ Chúa Nhật này đến Đêm Phục Sinh cũng được gọi là Tuần Thánh.

Vẫn biết Giáo Hội sẽ chính thức cử hành Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Kitô vào Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng vì Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Giêsu không thể tách rời khỏi Biến Cố Phục Sinh, cả hai chỉ là một biến cố, Biến Cố Vượt Qua, mà Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Giêsu cần phải được long trọng cử hành vào Ngày Chúa Nhật, Ngày Phục Sinh hằng tuần của Kitô Giáo, chứ không phải vào một ngày thường, dù ngày thường ấy có là chính ngày kỷ niệm của Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá này của Chúa Giêsu đi nữa. Đó là lý do chúng ta thấy Phụng Vụ Chúa Nhật kết thúc Mùa Chay và mở đầu Tuần Thánh hôm nay có hai phần, phần đầu là phần Lễ Lá, cũng có bài Phúc Âm, và phần sau là phần Thánh Lễ, phần được mở màn bằng lời nguyện đầu lễ và sang ngay phần Phụng Vụ Lời Chúa, vì phần Lễ Lá đã thay cho phần đầu lễ thường lệ rồi. Thế nhưng, qua Phụng Vụ Lời Chúa của bài Phúc Âm cho Lễ Lá, cũng như của bài Phúc Âm cho Thánh Lễ Chúa Nhật Thương Khó hôm nay, chúng ta thấy một sự kiện hết sức mâu thuẫn, cần phải tìm hiểu, đó là việc dân Do Thái vừa hân hoan nghênh đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như một vị anh hùng cứu tinh dân tộc, thì liền sau đó họ đã quay ra phản chống Người, truất phế Người, không công nhận Người là vua của họ nữa, và cuối cùng đã hô hoán vang trời đòi phải đóng đanh Người cho bằng được…

Vấn đề ở đây là, qua biến cố nghênh đón Chúa Giêsu vào thành thánh, dân Do Thái chứng tỏ là họ đã công nhận Người là Đấng Thiên Sai, "Đấng nhân danh Chúa mà đến". Và sở dĩ, như bài Phúc Âm Lễ Lá cho thấy, dân chúng có thể công nhận một nhân vật vô danh tiểu tốt như Giêsu Nazarét ở Gialilêa, một miền đất không hề xuất hiện một vị tiên tri nào (xem Jn 7:52), "là tiên tri Giêsu xuất thân từ Nazarét xứ Galilêa". Họ đã thần tượng và tôn vinh vị tiên tri Thiên Sai này hơn tất cả mọi vị tiên tri trong Cựu Ước, kể cả Gioan Tẩy Giả. Ở chỗ, như bài Phúc Âm của phần Lễ Lá hôm nay cho biết, đến nỗi, "một đám rất đông trải áo mình trên đường, một số khác cắt cành cây lót đường cho Người đi. Có những nhóm đi trước Người và sau Người reo hò rằng "… Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến…"". Lý do họ tỏ ra những hành động bat thường này, những hành động làm cho thành phần lãnh đạo tinh thần của họ hoảng sợ kinh hồn, đến nỗi đã phải thốt lên: "Coi kìa, quí vị đành phải chịu bó tay thôi! Cả thiên hạ đã xô nhau chạy theo hắn mất rồi" (Jn 12:19), là vì việc Người làm cho Lazarô cải tử hoàn sinh: "Đám dân chúng có mặt khi Người lên tiếng gọi Lazarô bước ra khỏi mồ và hồi sinh anh ta từ trong cõi chết cứ mang sự kiện này ra kể lại. Dân chúng đi nghênh đón Người vì họ đã nghe thấy Người thực hiện dấu lạ này" (Jn 12:17-18).

Vậy thì tại sao sau khi đã công nhận vị "tiên tri Giêsu xuất thân từ Nazarét xứ Galilêa" một cách chính thức công khai và hết sức long trọng chưa bao giờ có như thế, dân chúng lại quay ra truất phế Người một cách trắng trợn và phũ phàng hơn ai hết như vậy? Ở chỗ, như Phúc Âm Thánh Mathêu hôm nay thuật lại, họ chẳng những đã coi Người không bằng tên tội đồ nổi tiếng Baraba, mà còn đòi đóng đanh Người vào thập giá nữa. Như thế, phải chăng dân Do Thái nói chung đã cố tình giết chết Đấng Thiên Sai mà họ đã nhận biết? Nếu vậy thì tại sao, theo Phúc Âm Thánh Luca, câu nói đầu tiên trên thập giá, Chúa Giêsu lại thưa cùng Cha của Người: "Xin Cha tha cho họ vì họ lầm không biết việc mình làm" (Lk 23:34). "Họ" ở đây là ai? Phải chăng là thành phần lãnh đạo dân Do Thái bấy giờ mà thôi, vì theo Phúc Âm Thánh Mathêu hôm nay, chính họ là những kẻ xui bẩy và giật giây dân chúng (xem Mt 27:20)?? Hay là chính dân Do Thái lúc ấy nói chung, vì dù có được xui bẩy, họ vẫn có quyền chống trả như cự tuyệt chước cám dỗ, vì nó nghịch lại với niềm tin của họ??? Hoặc bao gồm cả thành phần Dân Ngoại Rôma, thành phần trực tiếp nhúng tay vào việc lên án và đóng đanh Người vào thập giá???? Hay thậm chí bao gồm cả loài người, vì nếu họ không sa ngã phạm tội thì Người đâu phải "hiến thân làm giá chuộc cho nhiều người" (Mt 20:28) như vậy?????

Tại sao dân Do Thái muốn sát hại Chúa Giêsu?

Căn cứ vào sự kiện lịch sử: "Những đau khổ của Chúa Giêsu mặc một hình thức lịch sử cụ thể là Người đã "bị các vị kỳ lão và trưởng tế cùng luật sĩ" nộp "cho Dân Ngoại nhạo báng, hành hình và đóng đanh" (Mk 8:31; Mt 20:19)" (số 572), Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo chủ trương rằng: "Đức tin nhờ đó mới cố gắng cứu xét những hoàn cảnh về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu được các Phúc Âm trung thực truyền lại (x Hiến Chế Mạc Khải Thần Linh, đoạn 19), cũng như được các nguồn sử liệu khác soi chiếu, để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của Việc Cứu Chuộc" (số 573). Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo đã trưng dẫn lý do chính (gồm ba phần) tại sao dân Do Thái đã muốn giết và cần giết Chúa Giêsu Kitô như sau.
"Trước con mắt của nhiều người dân Yến Duyên thì Chúa Giêsu đã tỏ ra tác hành phản lại với các cơ cấu làm nên Dân Chúa Chọn, đó là việc phục tùng toàn thể lề luật được viết thành văn, và còn được giải thích theo truyền khẩu nữa như chủ trương của những người Pharisiêu; Đền Thờ ở Gialiêm chiếm địa vị chủ yếu như là một nơi thánh, nơi Thiên Chúa đặc biệt hiện diện; niềm tin tưởng một Thiên Chúa duy nhất là Đấng không ai có thể chia sẻ vinh quang của Ngài được". (số 576).
Về "việc phục tùng toàn thể lề luật được viết thành văn, và còn được giải thích theo truyền khẩu nữa theo chủ trương của những người Pharisiêu", Chúa Giêsu đã có vẻ tác hành phản lại đến nỗi đã khiến dân Do Thái muốn giết và cần giết Người như sau:
"Việc hoàn toàn làm trọn Lề Luật chỉ có thể là việc của nhà ban bố luật thần linh mà thôi, vị được sinh ra theo Lề Luật qua bản thân của Người Con (x. Gal 4:4). Nơi Chúa Giêsu, Lề Luật không còn như thể được ghi khắc trên các bia đá nữa mà là "trên cõi lòng" của Người Tôi Tớ, vị trở nên "giao ước của dân", vì Người sẽ "hoàn toàn mang lại đức chính trực" (Jer 31:33; Is 42:3,6). Chúa Giêsu làm trọn Lề Luật đến độ đã phải lãnh đủ "cái bất hạnh của Lề Luật" dành cho những ai không "suy giữ những gì được viết ra trong Lề Luật", vì Người chết để cứu họ "khỏi những vấp phạm nơi giao ước thứ nhất" (Gal 3:13, 3:10; Heb 9:15)". (số 580)


"... Chúa Giêsu đã không hủy bỏ Lề Luật mà là làm trọn lề luật bằng việc giải thích Lề Luật đúng ý nghĩa nhất theo đường lối thần linh (Mt 5:33-34)... Người cũng bác bỏ một số tục lệ nhân tạo của những người Pharisiêu đã làm "vô hiệu lời của Thiên Chúa" (Mt 7:13; x 3:8)" (số 581). "... Trong việc lấy quyền bính thần linh để trình bày việc giải thích ý nghĩa tối hậu của Lề Luật, Chúa Giêsu đã phải đối đầu với một số thày dạy Lề Luật, thành phần không chấp nhận việc Người giải thích Lề Luật bằng những dấu hiệu thần linh bảo đảm kèm theo (x Jn 5:36, 10:25,37-38, 12:37). Đặc biệt là trường hợp đối với các luật về ngày hưu lễ (x Num 28:9; Mt 12:5; Mk 2:25-27; Lk 13:15-16, 14:3-4; Jn 7:22-24)...". (số 582)
Về "Đền Thờ ở Gialiêm chiếm địa vị chủ yếu như là một nơi thánh, nơi Thiên Chúa đặc biệt hiện diện", Chúa Giêsu đã có vẻ tác hành phản lại đến nỗi đã khiến dân Do Thái muốn giết và cần giết Người như sau:
"Như các tiên tri trước Người, Chúa Giêsu đã tỏ ra cho thấy việc Người hết lòng tôn kính Đền Thờ ở Gialiêm... Chính sứ vụ công khai của Người cũng được dựa theo hành trình lên Gialiêm vào những dịp lễ lớn của dân Do Thái (x Jn 2:13-14, 5:1,14, 7:1,10,14, 8:2, 10:22-23)" (số 583). "Chúa Giêsu lên Đền Thờ như là một nơi đặc biệt để gặp gỡ Thiên Chúa. Đối với Người, Đền Thờ là nơi ngự của Cha Người, là nhà để cầu nguyện, và Người đã nổi giận khi thấy phần ngoại vi của Đền Thờ trở thành nơi buôn bán (x Mt 21:13)..." (số 584). "Chẳng những không thù oán Đền Thờ, nơi Người đã ban bố phần giáo huấn chính yếu của mình, Chúa Giêsu còn sẵn lòng nộp thuế đền thờ nữa... Thậm chí Người còn đồng hóa mình với Đền Thờ khi tự cho mình là nơi Thiên Chúa thực sự ở với loài người (x Jn 2:21; Mt 12:6)...". (số 586)


"Trước thời điểm Khổ Nạn của mình, Chúa Giêsu đã loan báo việc các lâu đài tráng lệ này sẽ bị hủy hoại đến không còn "hòn đá nào chồng trên hòn đá nào" (x Mt 24:1-2). Nói điều ấy là Người đã loan báo dấu hiệu của những ngày cuối cùng được bắt đầu từ Cuộc Vượt Qua của Người (x Mt 24:3; Lk 13:25). Thế nhưng, lời tiên tri này đã bị các nhân chứng dối trá bóp méo ý nghĩa của nó trong cuộc đối chất của Người ở nhà vị thượng tế, với kết quả là Người đã bị sỉ nhục vì lời nói của mình khi bị đóng đanh trên cây thập giá (x Mk 14:57-58; Mt 27:39-40)". (số 585)
Về "niềm tin tưởng một Thiên Chúa duy nhất là Đấng không ai có thể chia sẻ vinh quang của Ngài được", Chúa Giêsu đã có vẻ tác hành phản lại đến nỗi đã khiến dân Do Thái muốn giết và cần giết Người như sau:
"Nếu Lề Luật và Đền Thờ Gialiêm đã trở thành những dịp cho các vị giáo quyền dân Yến Duyên chống đối Chúa Giêsu, thì vai trò của Người trong việc chuộc tội, một việc thần linh hơn hết, thực sự mới là cớ vấp ngã cho họ (x Lk 2:34, 20:17-18; Ps 118:22)". (số 587).


"Chúa Giêsu đã khiến cho những người Pharisiêu vấp phạm khi nhập bọn ăn uống thân tình với các người thu thuế và tội nhân (x Lk 5:30, 7:36, 11:37, 14:1)... Thậm chí Người còn tuyên bố trước mặt các người Pharisiêu rằng, những ai cho rằng mình không cần ơn cứu độ cho khỏi tội lỗi phổ quát là con người mù quáng (x Jn 8:33-36, 9:40-41)". (số 588)


"Chúa Giêsu đã gây nên dịp vấp phạm nhất là khi Người cho rằng thái độ nhân từ của mình đối với các tội nhân cũng là thái độ của Thiên Chúa đối với họ (x Mt 9:13; Hos 6:6). Thậm chí Người còn ngầm cho thấy rằng việc Người đồng bàn với các tội nhân là việc Người công nhận họ vào bàn tiệc thiên sai (x Lk 15:1-2,22-32). Thế nhưng, đặc biệt nhất là ở chỗ việc Chúa thứ tha tội lỗi đã khiến cho các vị giáo quyền dân Yến Duyên bị bối rối khó xử (Mk 2:7)... Khi thứ tha tội lỗi thì có thể Chúa Giêsu đã phạm thượng, vì Người là con người mà lại cho mình ngang hàng với Thiên Chúa...". (số 589)


"Chúa Giêsu xin các vị giáo quyền ở Gialiêm hãy tin vào Người vì các việc Người hoàn tất như Cha đã trao phó cho Người (Jn 10:36-38). Thế nhưng, muốn thực hiện một tác động đức tin như vậy con người cần phải chết đi cho chính mình một cách thiêng liêng để được tái "sinh từ trên cao" dưới tác động của ân sủng thần linh (x Jn 3:7, 6:44). Một đòi hỏi hoán cải như vậy để hướng về việc hoàn tất các lời hứa (x Is 53:1) hết sức lạ lùng như thế khiến người ta có thể thông cảm về những hiểu lầm thê thảm của Hội Đồng Do Thái đối với Chúa Giêsu, ở chỗ, họ đã cho rằng Người đáng bị án tử hình như là một kẻ lộng ngôn phạm thượng (x Mk 3:6; Mt 26:64-66)...". (số 591)
Ai Là Thủ Phạm Chính Trong Việc Sát Hại Thiên Chúa Làm Người?

Về vấn đề hết sức tế nhị này, Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo đã công minh nhận định và dạy rằng thủ phạm chính trong việc sát hại Con Thiên Chúa làm người không phải là dân Do Thái nói chung, mà là chính tất cả mọi tội nhân.

Thủ phạm chính trong việc sát hại Con Thiên Chúa làm người không phải là dân Do Thái nói chung.
"Các trình thuật Phúc Âm đã cho thấy tính cách lịch sử phức tạp nơi vụ án Chúa Giêsu. Tội lỗi riêng tư của những người dự phần (như Giuđa, Hội Đồng Do Thái và Philatô) chỉ có một mình Thiên Chúa biết. Vì thế, cho dù đám dân chúng bị xúi giục có lên tiếng kêu gào, cùng những lời trách móc chung nơi lời của các vị tông đồ khi kêu gọi họ hãy ăn năn hoán cải sau biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (x Mk 15:11; Acts 2:23,36, 3:13-14, 4:10, 5:30, 7:52, 10:39, 13:27-28; 1Thes 2:14-15), chúng ta cũng không thể ghép tội cho toàn thể khối người Do Thái ở Gialiêm về vụ án này. Chính Chúa Giêsu, khi tha tội cho họ trên thập giá, và thánh Phêrô theo chiều hướng đó, cả hai đều công nhận các người Do Thái ở Gialiêm và ngay cả các vị lãnh đạo của họ là "vô thức" (x Lk 23:34; Acts 3:17). Chúng ta lại càng không thể đổ trách nhiệm cho những người Do Thái ở những thời điểm khác và ở những nơi khác, chỉ vì tiếng kêu gào: "Máu của hắn sẽ đổ lên đầu lên cổ chúng tôi và con cháu chúng tôi!" (Mt 27:25; x Acts 5:28, 18:6), như là một câu nói chung để biện minh cho việc mình kết án họ. Giáo Hội đã tuyên bố ở Công Đồng Chung Vaticanô II rằng: "… Không thể hàm hồ ghép tội ác chung cho tất cả mọi người Do Thái bấy giờ hay những người Do Thái ngày nay đã nhúng tay vào cuộc Khổ Nạn của Người… Không được coi những người Do Thái bị phế bỏ hay bị nguyền rủa như là những gì bởi Thánh Kinh mà ra" (Tuyên Ngôn Nostra Aetate, đoạn 4)" (số 597)
Thủ phạm chính sát hại Con Thiên Chúa làm người chính là tất cả mọi tội nhân.
"Theo giáo huấn đức tin thuộc Huấn Quyền của mình, cũng như theo chứng từ của các thánh, Giáo Hội không bao giờ quên rằng "các tội nhân là tác giả và là tác nhân gây nên tất cả mọi đau khổ bắt Vị Cứu Chuộc thần linh phải chịu" (Sách Giáo Lý Rôma I, 5, 11; x. Heb 12:3). Chú trọng đến sự kiện là tội lỗi của chúng ta phạm đến chính Chúa Kitô (x Mt 25:45; Acts 9:4-5), Giáo Hội không ngần ngại qui cho Kitô hữu trách nhiệm nặng nhất đối với những hình khổ giáng xuống trên Chúa Giêsu, một trách nhiệm mà tất cả những người Kitô thường chất lên vai cho một mình những người Do Thái thôi: "Chúng ta phải coi những ai tiếp tục đầm đìa trong tội lỗi của mình là có lỗi. Vì tội lỗi của chúng ta mà Chúa Kitô phải chịu cực hình thập giá, thì những ai lặn ngụp trong những hư hỏng và tội ác chính là những kẻ đóng đanh Con Thiên Chúa một lần nữa nơi lòng mình (vì Người ở trong họ) cùng làm cho Người bị nhục nhã. Tội ác của chúng ta trong trường hợp này có thể được coi như lớn hơn cả của người Do Thái nữa. Theo chứng từ của Thánh Tông Đồ, đối với họ, "Không một nhà lãnh đạo nào của thời đại này hiểu được điều ấy; vì nếu họ hiểu được thì họ đã không đóng đanh Chúa hiển vinh". Còn chúng ta tuyên xưng là biết Người. Nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng việc làm của mình là chúng ta hành hung Người một cách nào đó (Sách Giáo Lý Rôma I, 5, 11; x Heb 6:6; 1Cor 2:8). "Cả đến ma quỉ cũng không phải là kẻ đóng đanh Người; chính các bạn là kẻ đã đóng đanh Người và vẫn còn đang đóng đanh Người, khi các bạn vui sướng với các tính mê nết xấu và tội lỗi của mình" (Thánh Phanxicô Assisi, Admonitio 5, 3)". (số 598)
Vấn đề thực hành sống đạo:

Thánh Viện Phụ Aelred, trong vấn đề Mẫu Gương Yêu Thương đã nhận định về lời nói đầu tiên của Chúa Giêsu trên cây thập giá như sau:
"Ai nghe lời cầu nguyện tuyệt vời, hết sức nồng nàn, hết sức yêu thương, hết sức trầm tĩnh - Lạy Cha, xin tha cho họ - mà còn ngần ngại không ôm lấy kẻ thù của mình bằng một tình yêu chan chứa hay chăng? Người xin: Lạy Cha, xin tha cho họ. Lời cầu xin này có thiếu dịu dàng, thiếu yêu thương hay chăng? Tuy nhiên, Người còn đưa vào trong lời cầu xin này một điều hơn thế nữa. Cầu xin cho họ mà thôi chưa đủ, Người còn muốn chữa tội cho họ nữa. Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết việc họ làm. Phải, họ là những đại tội nhân, thế nhưng họ kém phán đoán; bởi thế, Lạy Cha, xin tha cho họ. Họ đóng đanh Con vào thập giá, thế nhưng họ không biết Đấng họ đóng đanh vào thập giá là ai: nếu họ biết, họ đã không bao giờ dám đóng đanh vị Chúa của vinh quang, bởi thế, Lạy Cha, xin tha cho họ. Họ nghĩ rằng đó là một tên phạm luật, một kẻ tưởng mình là Thiên Chúa, một tay dụ dỗ dân chúng. Con đã giấu kín chân tướng của mình không cho họ biết, nên họ không nhìn ra vinh hiển của Con, do đó, Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết việc họ làm" (Lib. 3,5: PL 195, 582. Trích dịch từ The Office of Readings, St Paul Editions, 1983, trang 369).

                   trang suy niệm hằng tuần