| Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A |
| CHÚA GIÊSU NGUỒN NƯỚC HẰNG SỐNG |
| Fr. Jude Siciliano, OP. |
Thưa quý vị, Các Chúa nhật 3 và 4 mùa Chay đặt trước mắt tín hữu 3 biểu tượng lớn về đức tin. Đó là nước, ánh sáng và sự sống. Các biểu tượng này được thánh Gioan ưa thích sử dụng để miêu tả đời sống thiêng liêng trước ơn thánh của Thiên Chúa trong linh hồn chúng ta. Chúa nhật hôm nay là về nước, trong một dụ ngôn hết sức sống động : Câu chuyện Chúa xin nước uống nơi người phụ nữ Samaria ở giếng ông Gia-cóp. Có lẽ đó là câu truyện của một bài giáo lý dự tòng thời Giáo hội sơ khai. Hội thánh sửa soạn họ để chịu phép rửa tội trong đêm vọng Phục sinh. Tuy câu truyện đơn giản nhưng ý nghĩa hết sức thâm thúy, nói về cuộc sống mới của người tín hữu, nhất là đời sống nội tâm của các tu sĩ, linh mục, hàng giáo phẩm. Càng suy ngẫm chúng ta càng thấm thía. Trước hết, chúng ta có thể đồng hóa với Chúa Giê-su trong cơn khát của Ngài, khi Ngài tiến gần giếng ông Gia-cóp. Rõ ràng Ngài cũng ở trong điều kiện hoàn toàn nhân loại như chúng ta : Chịu đói khát, nhọc nhằn vì hành trình xa xôi. Đường đi của Ngài là từ miền nam (xứ Giudea), ngang qua xứ Samaria (miền trung) về miền bắc (xứ Galilea), quê hương của Ngài, sau dịp lễ Vượt qua thứ nhất. Thánh Gioan viết : “Biết thế, Đức Giê-su bỏ miền Giudea mà trở lại miền Galilea. Do đó, Người phải băng qua Samaria (4,3)”. Người Do thái đạo đức thường tránh con đường này vì coi là đất lạc đạo. Họ đi đò vượt qua sông Giođan sang bờ phía đông, rồi lại đi đò lần nữa trên miền bắc để vào xứ Galilea. Con đường xa hơn nhiều so với đường tắt Samaria, nhưng tránh được đi vào đất thù địch. Chúa Giê-su chọn con đường tắt này và gặp chị phụ nữ Samaria ở giếng Gia-cóp vào buổi trưa, lúc vắng người. Đích thực là Chúa Giê-su đói và khát. Thánh Gioan kể tiếp : “Các môn đệ trở về … thưa với Người rằng Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa.” (4, 31) Câu truyện thật hấp dẫn, nhiều độc giả ưa thích nó, lấy làm mẫu mực cho văn chương nhân loại. Chúng ta cũng không tránh khỏi sự thu hút của nó, và có cảm tưởng như được đặc ân tham gia vào tính cách riêng tư của hai nhân vật đàm thoại, coi như chuyện của linh hồn mình (mà thực đúng là như thế). Đối với những ai có đức tin thì đây không phải cuộc trò chuyện giữa Chúa Giê-su với người phụ nữ Samaria mà thôi. Nhưng là của bất cứ linh hồn đói khát đời sống tâm linh nào. Chúng ta được chứng kiến một phụ nữ không tin đã thay đổi nếp sống một cách ngoạn mục để trở nên một tông đồ nhiệt thành rao giảng về Chúa Ki-tô. Điều xảy ra cho chị khi xưa cũng là điều chúng ta được hưởng bây giờ, nếu chúng ta thành tâm phục thiện như chị. Tai hại thay, thực tế không được như vậy, bởi những bức tường tâm lý kiên cố mà chúng ta dựng nên chung quanh mình. Nhưng xin suy nghĩ lại, giữa sức nóng khủng khiếp trưa hè của cuộc sống, chúng ta cần đến “nước giải khát” để có thể sống đức tin trung thành. Chúng ta cần đến Chúa Giê-su. Nhiều khi phải vật lộn với hoàn cảnh để giữ vững lý tưởng, giống như các lữ khách sa mạc trên con đường khô khan nóng cháy. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta chẳng mấy được nâng đỡ về lòng đạo đức. Ngược lại bị “thập diện mai phục” bởi các cám dỗ xa lìa Thiên Chúa. Vậy thì tìm đâu được nước canh tân đức tin ? Chúng ta sẽ chạy đến với ai ? Các bài đọc hôm nay cho câu trả lời. Trước hết, bài đọc Cựu ước trình thuật về cơn khát của dân tôc Israel. Họ khát và Thiên Chúa đã cho nước uống. Nếu câu chuyện đơn giản như thế thì chẳng có chi đáng nói. Đằng này, họ gây sự với Môsê và đe dọa ném đá ông : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai cập để làm gì ? Có phải để chúng tôi, con cái chúng tôi và súc vật của chúng tôi bị chết khát không ? ông Môsê kêu lên cùng Đức Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con.” Trong cơn khát, dân Do thái nổi loạn và trâng tráo đặt câu hỏi : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?” trả lời bằng cách cho họ uống nước thỏa thuê từ một tảng đá giữa sa mạc. Tảng đá này chính là Đức Ki-tô của giao ước mới. Tuy nhiên, những người nổi loạn bị Thiên Chúa giáng phạt chết hết cả đám trong 40 năm lang thang ở hoang địa (Tv 95, 11). Phần các tín hữu, thánh Phaolô nói cho hay Thiên Chúa giải khát chúng ta bằng cách thức khác, qua Bí tích Thánh tẩy. Ngài tuyên bố với giáo đoàn Rôma rằng họ được công chính hóa nhờ Đức tin. Nghĩa là được Thiên Chúa cho no thỏa cơn khát thiêng liêng do Đức tin Ngài ban cho. Chúng ta cần nước rửa tội để tẩy sạch lỗi lầm khỏi linh hồn mình, khỏi lạc xa Thiên Chúa và chia lìa tha nhân. Trên “hoang địa” của cuộc đời mình, chúng ta chẳng thể nào tự cung cấp thứ nước ấy. Phải tuyệt đối cậy nhờ vào bàn tay Thiên Chúa. Thực tế, Ngài đã ban cho mỗi người khi lãnh nhận phép Thanh tẩy. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô công bố rõ như vậy khi nói về tình yêu Thiên Chúa dành cho các tội nhân : “Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” Cho nên, ơn Đức tin hoàn toàn là nhưng không do Đức Ki-tô mang lại cho mỗi tín hữu. Trong “sa mạc” cuộc đời, nhiều lúc chúng ta cũng tự hỏi : “Có Thiên Chúa không?” Thánh Phaolô trả lời “Có” bằng những chứng cớ rất cụ thể : “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Cái công thức ông dùng : “Công chính hóa nhờ Đức tin” nói lên một điểm hết sức cơ bản : Ngay từ khởi đầu cuộc sống tâm linh, khi chịu phép Thánh tẩy, ơn Đức tin là một quà tặng miễn phí Thiên Chúa ban cho mỗi người. Không ai có quyền đòi hỏi hay mua sắm được bởi công nghiệp riêng. Chúa Giê-su cũng nói rõ trong Tin mừng : “Nếu chị nhận ra ơn huệ Thiên Chúa ban.” Cho nên, chúng ta không thể nào sản xuất được nước giải khát trong “sa mạc” đời mình, cũng chẳng thể làm cho ân huệ Chúa xuất hiện trên mình. Vì tất cả đều đến từ Thiên Chúa. Chúng ta cần ơn Ngài để sống sót về tâm linh và mỗi ngày tiến dần đến tự do đích thực. Như vậy, cố gắng sống đạo đức thánh thiện trong mùa chay này để được Thiên Chúa xót thương là điều cần thiết. Hằng ngày, chúng ta có nhiều cuộc trò chuyện. Có những câu chuyện không quan trọng. Chẳng hạn, nói chuyện để giết thời gian khi chờ đợi tàu xe, chuyện tầm phào trong quán xá, tửu lầu. Có những cuộc trò chuyện cần thiết như hỏi thăm đường xá, đi khám bệnh, mua bán, hàn huyên gia đình, đưa đón con cái học hành. Có những cuộc trò chuyện tối cần thiết như giáo huấn, bán tính làm ăn, sữa chữa lỗi lầm. Hôm nay, chúng ta có cuộc trò chuyện tối cần thiết giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ xứ Samaria, liên quan đến phần rỗi của chị. Bởi vì, vai trò của chị và tầm quan trọng của Chúa Giê-su nên câu chuyện trở nên căn bản cần thiết. Nó là vấn đề sinh tử : Con người là gì ? Tôi đang làm chi ? Rồi sẽ đi về đâu ? Tôi cần phải thay đổi như thế nào để cuộc đời có ý nghĩa ? Ngoại cảnh có làm cho tôi hạnh phúc không ? Đại loại như vậy và là những vấn đề thiết yếu. Tuy không phải lúc nào chúng ta cũng đưa ra bàn luận. Nhưng thỉnh thoảng người ta vẫn đề cập đến. Bởi chúng gây nên nhiều lo âu. Nên ngừng lại những bận rộn thường ngày, ngồi bên những giếng mát, như chị phụ nữ hôm nay, để tư lự về ý nghĩa cuộc đời. Thánh Gioan có thói quen ghi rõ ngày tháng và nơi chốn các biến cố và cho nó một ý nghĩa biểu trưng. Giờ thứ 6 tức phỏng 12 giờ trưa, lúc mà thiên hạ ít đến giếng kín nước. Vì tự cảm thấy nếp sống không tốt đẹp của mình, người phụ nữ lợi dụng lúc vắng vẻ để ra giếng, tránh những con mắt khinh bỉ của hàng xóm láng giềng. Người Do thái coi giờ này như giờ hoàng đạo của âm lịch, tức giờ xấu. Quý vị hiểu ra ý nghĩa thánh Gioan muốn chuyển tải ! Ngược lại, giếng Gia-cóp danh tiếng về lịch sử, chiều sâu và sự ngọt ngào mát mẻ của nước, ý nói đến nội dung tôn giáo của sấm truyền cũ. Chúa Giê-su đến thay thế cho giếng nước và chuyện vãn với một linh hồn tội lỗi để ban cho chị mạch nước vọt lên sự sống đời đời. Tuy nhiên, tôi không muốn quá đi sâu vào chiều kích tâm linh, rời xa hoàn cảnh cụ thể hằng ngày. Gần đây tôi phải chịu đựng một trong những chuyến bay gồ ghề nhất, đến mức phải tự hỏi tại sao lại dại dột đến vậy. Số là vì nhỡ chuyến bay đi thành phố Dallas, tôi phải thu xếp chuyến bay khác và gọi điện thoại nhắn tin người đón tôi ở phi trường. Tôi tìm mua một bữa ăn Trung hoa đông lạnh. Nhưng có lẽ, người Tàu chính hiệu cũng không thể nhận ra nó. Tôi ngồi nhấm nhí bữa ăn trong khi chờ đợi chuyến bay tiếp. Rồi mở lá thư cũ ra đọc. Ông bạn viết thư cho tôi cũng là một thương gia bận rộn. Ông đi làm ăn khắp đó đây. Lá thư là một bài báo cắt từ tuần san sức khỏe, nhan đề : “Làm thế nào điều khiển được căng thẳng trí óc ?” Đúng là chuyện hợp thời. Tôi thích thú đọc lại. Tác giả khuyên : Hãy tìm những chuyện làm cho tinh thần bạn bay bổng. Và đề nghị : âm nhạc, đọc sách, giã ngoại sinh thái, suy ngẫm và cầu nguyện. Tuy không phải là tờ báo tôn giáo, nhưng tác giả thêm : “Hãy thường xuyên dành thời gian cho các hoạt động tinh thần.” Dưới ánh sáng Tin mừng hôm nay, tôi xin phép mở rộng : Và tìm thời gian cho các cuộc chuyện trò ý nghĩa nữa. Câu chuyện Phúc âm là về một tâm hồn đang bị căng thẳng. Cô ra giếng một mình vào giờ vắng vẻ có thể cô cảm thấy tủi phận vì sống ngoải lề. Cô cần được cứu giúp và Đức Ki-tô đã nhận ra nỗi thống khổ của cô. Cô khao khát thứ nước làm cho linh hồn mình yên ổn. Cái giếng cô kín nước không có khả năng ấy. Cho nên cô dừng lại suy nghĩ, đợi chờ một sự giải thoát khác, một cuộc trò chuyện đầy ý nghĩa như tuần san sức khỏe trên đề nghị. Ngõ hầu tinh thần cô bay bổng khỏi tình trạng nặng nề hiện tại. Chúng ta được phép tham dự vào câu chuyện riêng của cô đúng theo bản chất của nó. Và ngay cả trước khi cô chạy về thành phố loan báo cho dân chúng biết câu chuyện của mình, thì chúng ta đã khám phá ra Đức Ki-tô là ai. Kỳ thực chính cô đã giúp đỡ chúng ta tìm hiểu về Ngài. Liệu chúng ta có đủ cam đảm thú nhận cơn khát của mình giống như của cô ? Liệu chúng ta dám dấn thân vào câu chuyện “ý nghĩa” với Chúa Giê-su ? Liệu chúng ta dám bộc bạch tâm tư với Ngài, để được lột xác như cô ? Vần đề đòi hỏi câu trả lời thành thực. Người phụ nữ Samaria nêu gương cho các tín hữu phải đối diện với Thiên Chúa ra sao ? Cô chỉ dẫn chúng ta lắng nghe Chúa dạy bảo, nhất là trong những dịp hội họp như Thánh lễ hôm nay. Cũng như cô, chúng ta phải sẵn sàng thay đổi. Cố chấp chẳng được lợi ích chi và đi tham dự Thánh lễ như vậy chỉ tốn thời gian vô ích. Người phụ nữ bên giếng nước sẵn lòng đổi thay nếp sống của mình bằng cách đặt câu hỏi, lắng nghe và trả lời Chúa Giê-su ngay thật, để có cơ hội điều chỉnh lại hạnh kiểm của mình. Trong xóm làng, cô bị mang tiếng xấu vì có tới năm đời chồng. Có thể do lỗi của cô, nhưng cũng có thể cô gặp toàn bất hạnh vì các người đàn ông không trung thành, kiểu ăn bánh trả tiền, nhanh chóng phụ bạc cô. Chúng ta không có quyền xét đoán. Tuy nhiên, sự kiện không làm cho Chúa Giê-su từ chối trao đổi với cô. Đúng là do lòng thương xót của Chúa. Ngài sẵn sàng hiện diện trước mặt cô để ban ơn thay đổi. Chúng ta có thể mường tượng người phụ nữ này là lời an ủi khích lệ cho toàn nhân loại. Bởi tất cả đều là tội nhân, đều rụt rè trước tôn nhan oai nghiêm Thiên Chúa để thú nhận tội lỗi mình. Chúng ta không dám mở lòng mình ra và chuyện vãn với Chúa Ki-tô về tình trạng linh hồn. Gương can đảm của người phụ nữ thúc đẩy chúng ta mạnh dạn tiến đến cùng Chúa. Cô kích thích Đức tin của chúng ta đến hành động. Cho nên, Mùa chay này câu chuyện của cô sửa soạn chúng ta thành thực tuyên hứa lại lời thề Bí tích rửa tội trong đêm vọng Phục sinh tới. Chúng ta thâm tín rằng nước thanh tẩy sẽ rửa chúng ta khỏi mọi tội khiên, ban ơn tha thứ và giải phóng tín hữu khỏi các hình thức nô lệ. Chúng ta sẽ cùng nhau tụ họp bên giếng nước trong lành lắng nghe và trả lời những điều Thiên Chúa muốn dạy bảo mình. Riêng trong buổi phụng vụ này, Thánh thể chính là giếng nước chúng ta cần phải uống. Giếng nước ban sự sống đời đời. Chúng ta có cơ hội tốt để lặp lại câu chuyện người phụ nữ Samaria. Chúng ta hồi tâm đàm đạo với Chúa Giê-su về câu chuyện ý nghĩa đời mình. Chúng ta đang ở giai đoạn nào của cuộc sống ? Dự tính đi về đâu ? Chúa Thánh thể sẽ ban hành lý thế nào để tiếp tục tiến bước ? Chúng ta cần mạch nước trong lành nào hiện giờ ? Gợi lại bài báo tôi đọc ở phi trường, chúng ta cùng với cộng đoàn giáo xứ lắng nghe rõ Lời Chúa trong các bài đọc, lãnh nhận sốt sắng đời sống của Ngài trong Bí tích Thánh thể. Đó là cơ hội tốt nhất để làm cho tinh thần mình “bay bổng”. Amen.
|