Chúa Nhật Phục Sinh - Năm A

Lm. Như Hạ

NIỀM VUI PHỤC SINH.

Ðức Giêsu đã tìm thấy ý nghĩa khổ đau khi đối diện với cái chết. Nhưng nếu không dẫn đến Phục sinh, chắc chắn cái chết đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Bởi vậy, Phục sinh phải đem ý nghĩa cho cuộc đời. Tự bản chất, đau khổ thật là phi lý. Chính vì thế, Phục sinh trở thành một biến cố vĩ đại nhất, vì trả lại cho đời tất cả những nét tươi mát và trong sáng nhất.

Có ánh sáng Phục sinh, tất cả đêm đen sẽ tan biến. Làm chứng cho ánh sáng Phục sinh có cả đội ngũ ngôn sứ và tông đồ. Quả thực, "tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội." (Cv 10:43). Sứ mệnh cứu độ đó chỉ được hoàn thành trong biến cố Phục sinh. Chính các tông đồ là chứng nhân Phục sinh đã xác quyết : "Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại." (Cv 10:40-41)

Người vẫn hiện diện âm thầm như thế trong đời thường. Những kinh nghiệm cụ thể đó đã bù đắp vào những thiếu sót trong hiện tượng mồ trống, một kinh nghiệm vừa ẩn vừa hiện. Hiện trường mồ trống hoàn toàn vắng bóng nhân vật chính. Ðức Giêsu chỉ hiện diện một cách vô hình nơi nấm mồ trống với những băng vải và khăn che đầu, cũng như nơi các môn đệ với những trao đổi qua lại. Nhưng Người hiện diện mãnh liệt nhất qua niềm tin của môn đệ : "Ông đã thấy và đã tin" (Ga 20:8) Ðức Giêsu Phục sinh. Mãnh liệt đến nỗi hầu như ông thấy toàn bộ Kinh thánh đều hướng về biến cố Phục sinh và củng cố niềm tin ấy. Thực vậy, "theo Kinh Thánh, Ðức Giêsu phải trỗi dậy tự cõi chết." (Ga 20:9). Quả thực, làm sao ơn cứu độ có thể mở ra với cái chết như một bế tắc của định mệnh khắc nghiệt ? Nếu Ðức Giêsu kết thúc sứ mệnh nơi cái chết, làm sao có thể thấy được bằng chứng Chúa Cha đã nhận lời Chúa Con ? Nếu Ðức Giêsu không Phục sinh, bao lời Người hứa chỉ là hão huyền và niềm tin thành hư không. Nếu không sống lại, chắc chắn Ðức Giêsu đã không thể làm cho cuộc đời thành một Tin Mừng lớn lao đến thế.

Quả thực, sau khi Phục sinh, Ðức Giêsu đã làm vang lên khắp vũ trụ lời ca Halleluia. Chính nhờ Ðức Giêsu Phục sinh, thánh Phaolô mới có lý do để hô hào : "Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa ! Tôi nhắc lại : vui lên anh em !" (Pl 4:4) Bất cứ ai khi đã gặp Ðức Giêsu Phục sinh đều không che dấu nổi niềm vui bùng vỡ. Quả thế, khi ra khỏi mộ, các phụ nữ "rất đỗi vui mừng." (Mt 28:8). Khi xem thấy chân tay Ðức Giêsu, các tông đồ "mừng quá" (Lc 24:41) vì vượt quá sức tưởng tượng. Niềm vui bùng bỡ vì Ðức Giêsu đã sống lại để hoàn thành tất cả công trình cứu độ vĩ đại như Người đã hứa.

Niềm vui từ đầu tỏa xuống toàn thân. Ngày nay nhiệm thể Ðức Giêsu vẫn giữ được trọn vẹn niềm vui đó. Bằng chứng Giáo Hội vẫn có khả năng rao truyền Tin Mừng Phục sinh cho toàn thể nhân loại. Sở dĩ Giáo Hội có khả năng đó vì "Thần Khí của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí làm cho thân xác của anh em được sự sống mới." (Rm 8:11) Ðó là lý do tại sao thánh Phaolô dám quả quyết : "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Ðức Kitô nơi Thiên Chúa." (Cl 3:3). Sự sống mới tràn ngập "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Ðó là những sức mạnh nâng cao vũ trụ. Ðó là những giá trị thuộc thương giới, nơi Ðức Kitô "đang ngự bên hữu Thiên Chúa." (Cl 3:1) Muốn canh tân bộ mặt trái đất và xây dựng một cuộc sống thực sự hạnh phúc, "anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới," (Cl 3:2) tức là những bất công, ích kỷ, hận thù, tham lam, v.v. Tuy thế, "nếu Ðức Kitô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính." (Rm 8:10) Vì chính Thần Khí sẽ làm cho mọi người sám hối như bước đầu niềm hi vọng, bắt nguồn từ niềm tin vào Ðức Giêsu Phục sinh.


Last Updated: 09/12/2012