| Chúa Nhật Lễ Lá - Năm A | Lm. Jude Siciliano, OP |
RỘNG LÒNG ĐÓN NHẬN LỜI CHÚA | |
Thưa quý vị. Xin trích dẫn ra đây mấy câu Kinh Thánh thuộc bài đọc 1 thánh lễ để chúng ta suy niệm : “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế tôi không hổ thẹn, vì thế tôi trơ mặt ra như đá, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” (Is 50, 7) Quý vị đã bao giờ tưởng tượng “trơ mặt ra như đá” là như thế nào chưa ? Tiên tri Isaia dùng hình ảnh này để mô tả người tôi trung của Thiên Chúa trong bài ca thứ 3. Người tôi tớ trung thành sẽ là dụng cụ Thiên Chúa dùng để cứu thoát dân tộc Do thái khỏi ách nô lệ Babylon. Hiện thời dân Do Thái đang sống lưu đày khắp đế quốc Assyria, làm những công việc khổ sai cho ông chủ Ba Tư. Họ không còn là một dân tộc có chủ quyền, nhưng là dân bại trận, bị phát lưu để trừ hiểm hoạ nổi loạn. Số phận của họ lúc này thê thảm và bế tắc, không tương lai, bị áp bức cùng cực. Nhưng Thiên Chúa cho họ một tia hy vọng qua lời sấm của ngôn sứ Isaia : “Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng, vì có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi.” Trong cuộc sống tôi đã từng được chứng kiến những khuôn mặt “trơ như đá” nơi các lực sĩ, quyết tâm chiến thắng trong những cuộc thi đấu. Thí dụ các lực sĩ Marathon với con đường dài hàng chục cây số, nóng bức khát nước. Lance Armstrong cương quyết với căn bệnh ung thư mới khỏi, vượt xa các đối thủ khác trong cuộc đua xe đạp leo núi vừa vất vả vừa nguy hiểm, để chiếm vô địch thế giới. Một cô bé 14 tuổi đã đanh mặt chai như đá khi nhìn độ cao chiếc ván bật mà cô sắp leo lên để nhảy xuống hồ bơi đoạt huy chương vàng thế vận hội mùa hè ở Sydney (Úc). Tiên tri Isaia đã dùng hình ảnh này hằng ngàn năm trước để mô tả gương mặt người môn đệ Thiên Chúa trước sứ vụ khó khăn. Chúng ta hãy đọc ngược trở lên vài câu để thấy rõ dung mạo của ông : “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng người đánh thức, người đánh thức tôi để tôi lắng nghe như một người môn đệ.” Như vậy, nhiệm vụ của người môn đệ là giáo huấn dân tộc Do Thái đang trong kiếp nô lệ, mòn mỏi vì những lời hứa hão huyền của các ngôn sứ giả, đến nỗi họ nghi ngờ luôn các tiên tri đích thực, mặc dầu đã “rã rời” trong kiếp sống lầm than. Đây cũng là điều các nhà giảng thuyết tân thời nên lưu tâm. Chúng ta đa phần chỉ hùng hồn trong những sáo ngữ, không có thực chất để bảo đảm. Sống nhung lụa với đầy đủ tiện nghi mà rao giảng nghèo khó thiếu thốn thì quả là nghịch lý, chẳng ai tin. Ăn uống no đủ béo tốt, phương phi mà rao giảng ăn chay hãm mình thì chỉ là lừa dối, phỉnh gạt. Cứ xem hoàn cảnh của người tôi tớ hôm nay thì quá rõ. Ông rao giảng sứ điệp của mình trong đau thương nhịn nhục : “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” Vậy mà vẫn bị thiên hạ từ chối, bêu diếu và tẩy chay. Tuy nhiên, người môn đệ không nhụt chí trong nhiệm vụ Thiên Chúa trao. Ông đặt trông cậy vào Ngài và tin tưởng Ngài sẽ báo oán cho những khổ nhục phải chịu. Mặc dù bị loại trừ một cách dã man, ông vẫn dựa vào Thiên Chúa để có sức mạnh lướt qua thử thách hằng ngày. Bài thơ đầy lời lẽ nhiệm mầu. Ai đã hành hạ người tôi tớ, kẻ thù của ông hay bạn hữu ? Tại sao người ta lại hành xích ông ? Đưa lưng cho người ta đánh đòn thời xưa có nghĩa các học trò chịu phạt để sửa chữa lồi lầm. Giơ má cho người ta giật râu ám chỉ kẻ vô lại bị đám đông làm nhục. Các nhà chú giải dầy công tìm câu trả lời, nhưng chưa thành công. Có lẽ vị tiên tri nghĩ đến số phận Giêrêmia bởi đồng bào mình. Sau này người ta áp dụng vào trường hợp Chúa Giê-su. Nhưng đó là điều ứng nghiệm khi thời gian viên mãn, còn lúc này thì chưa biết vị tiên tri muốn ám chỉ về nhân vật nào ? Hay đó chỉ là chương trình của Thiên Chúa, ý muốn của Ngài ? Người công chính chịu đau khổ để đền tội cho toàn dân. Đau khổ của ông có giá trị hy sinh tẩy trừ tội lỗi mà con người xúc phạm đến Đấng Tối Cao. Chúng ta chưa thể xác định dứt khoát. Người tôi tớ đã đứng vững trong các cơn thử thách, Thiên Chúa đưa ông vào, bằng một ơn kêu gọi đặc biệt, bằng ánh sáng soi dẫn ông hằng ngày. Để ông rộng lòng chấp nhận chương trình của Ngài. Để ông không chạy trốn gian nguy. Để ông chai mặt ra như đá khi chịu đánh đòn, giật râu. Trong thời buổi chúng ta, chính tôi cũng đã từng chứng kiến những “tôi trung” của Chúa như vậy. Tôi đã xem thấy giám mục Oscar Romeo chai mặt ra như đá khi tố cáo bất công xã hội và tiếp tục rao giảng ngay cả khi nhận được cả trăm lời đe doạ ám sát. Giám mục đã hy sinh mạng sống mình cho dân tộc, ngõ hầu tháo gỡ ách nô lệ thảm thương người ta áp đặt lên đầu lên cổ nông dân, công nhân ở chính quê hương mình. Xin nhớ gương mặt của Nelson Mandela đanh thép khi ông bước ra khỏi nhà tù, sau nhiều năm bị giam giữ khổ sai, vì chống lại kỳ thị màu da, ngôn ngữ, văn hoá. Lúc ấy trông ông khắc khổ vì chịu đựng áp bức lâu ngày nhưng vẫn cứng rắn vui tươi. Ông vui không phải vì sẽ trả thù những kẻ hành hạ mình, nhưng vì công lý được làm sáng tỏ, bất công bị đẩy lui và sai trái được sửa chữa. Quí vị đã trông thấy những tấm ảnh chụp Dorothy Day khi bà ngồi trên chiếc ghế nhỏ, phản đối tình trạng nghèo đói ở xóm ổ chuột nào đó ? Một người đàn bà mảnh khảnh giữa hai viên cảnh sát phì nộm, coi rất đỗi tương phản. Bà ngồi đó mặc cho kẻ qua người lại chế diễu, cười nhạo, quai hàm bạnh ra cương quyết và kiên định : “Tôi chai mặt trơ như đá, biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” Chưa hết, biết bao người cha, người mẹ, anh chị kiên nhẫn ngồi bên giường bệnh nhân đang hấp hối hay các thân nhân chịu bệnh lâu ngày. Họ không tiếc công sức cầu nguyện, nâng đỡ những thân hình ốm yếu mà không lời thở than. Họ can đảm chịu đựng chung số phận của thân nhân, nêu gương sáng đức tin cho những người xung quanh. Họ cũng chai mặt trơ như đá với tình thế khó khăn. Nhưng “chai mặt trơ như đá” không có nghĩa nghiến răng nghiến lợi chịu đựng cho qua những buổi nhọc nhằn, không có nghĩa thụ động mặc cho hoàn cảnh qua đi, cũng chẳng có nghĩa lên gân cốt chống lại tình huống quái đản. Chúng ta sẽ được mục kích gương mặt chai như đá của Chúa Giê-su trong tuần này, khi Ngài đối diện với quyền bính đền thờ và cái chết thê thảm trên thánh giá. Qua bài đọc thương khó, chúng ta sẽ suy gẫm cái giá mà Ngài phải trả cho những hành động và ngôn từ chống lại sự dữ. Giống như người môn đệ của Isaia, Chúa Giê-su cũng chai mặt trơ như đá để biểu lộ ý chí đanh thép của mình. Từ hôm nay trở đi, Chúa luôn giữ thái độ này trước nguy hiểm đe doạ tính mạng. Thí dụ thánh Mát-thêu viết : “Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ được biết : Ngài phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra.”(Mt 16, 21) Phúc âm hôm nay cũng trong dòng tư tưởng đó : Chúa vào thành thánh Giêrusalem và nhất quyết thi hành ý muốn của Chúa Cha. Nếu người tôi tớ trung thành giơ mặt trơ như đá để nói với dân tộc lưu đày, thì Chúa Giê-su cũng có thái độ tương tự với đồng bào Ngài đang trong cuộc làm tôi lầm lạc tội lỗi. Ngài dạy dỗ họ bằng ngôn ngữ “lựa lời nâng đỡ những ai rã rời kiệt sức”. Nhưng họ chẳng hề lắng tai nghe, trừ một nhóm rất nhỏ. Họ ưa thích bị giam cầm trong tư tưởng của mình về Thiên Chúa, về sự công chính vụ lề luật, về tội phúc truyền thống. Họ bị mắc bẫy satan trong sự công chính chủ quan, nói theo kiểu khác, mù tự ý về những chân lý siêu nhiên. Đây là sự mù loà mà các nhà thần học gọi là không khắc phục được (invincible), vĩnh viễn như vậy nếu không có ơn đặc biệt từ Thiên Chúa. Trường hợp của thánh Phaolô chẳng hạn. Chuyện này xảy ra nhiều lắm trong thời đại chúng ta. Nó gây nên rất nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo, đàn áp tín ngưỡng, bất công đối xử. Phe nào cũng tự nhận sự thật về mình, rằng mình có lý. Nhiên hậu loại trừ, tẩy chay thiên hạ. Phần Chúa Giê-su, mặc dù gặp nhiều chống đối và hận thù, Ngài vẫn kiên định trong đường lối của mình, bởi nó là chân lý. Nhiệm vụ của Ngài là nói lời Thiên Chúa cho những kẻ rã rời kiệt sức vì u mê lầm lạc. Khi chúng ta chứng kiến những biến cố trong cuộc đời Chúa Giê-su tuần này, chúng ta sẽ mang ra ánh sáng sự yếu hèn của mình, tức các bộ mặt không cương quyết, không dám dấn thân cho lẽ phải, ưa thích thoả hiệp để được quyền cao chức trọng, được cảm tình của những người xung quanh. Chúng ta không dám hành động chống lại sự dữ, giữ vững Đức tin trong những hoàn cảnh khó khăn, nguội lạnh khi nghe theo tiếng gọi của Phúc Âm, chỉ lựa chọn những lời Chúa am hợp với lợi ích của mình, loại bỏ các lời khác, thậm chí chế diễu và coi như không tưởng những đòi hỏi của Chúa Giê-su. Chúng ta đâu dám thực sự vác thánh giá mình nhân danh Chúa, nói gì đến thánh giá kẻ khác, cố tình tránh né việc từ thiện bác ái, làm ngơ trước những đau khổ của tha nhân. Tóm lại, chúng ta theo Chúa ở dáng điệu bên ngoài, còn thực chất thì cố gắng tìm thoả mãn các dục vọng của mình. Nhưng cuộc thương khó của Chúa trong tuần này dạy chúng ta nội dung trái ngược hẳn. Chúng ta cảm thấy được nhẹ nhõm vì Chúa Giê-su đã chai mặt trơ như đá thực hiện những điều cần thiết để cứu chuộc nhân loại. Đây là cơ hội để chúng ta suy nghĩ lại, nhận ra sự thật của ơn gọi Ki-tô hữu, những đòi hỏi của nó và cương quyết thi hành. Chúng ta chai mặt trơ như đá trước những cám dỗ của thế gian, xác thịt và satan. Như vậy mới xứng đáng được nghe Tin mừng Chúa sống lại, Tin Mừng tràn ngập lòng người với hy vọng và hỷ hoan. Trong đêm vọng phục sinh, xin hãy thành thực nhắc lại lời thề hứa của bí tích Thánh tẩy, từ bỏ tội lỗi, tuyên xưng Đức tin vào Chúa Ki-tô. Điều gì đã nâng đỡ và luôn đổi mới người tôi trung của tiên tri Isaia ? Xin thưa, đó là sự mở rộng lòng đón nhận lời Thiên Chúa và kinh nghiệm rằng “mỗi sáng Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi”. Sự dấn thân mạnh mẽ của ông với công việc Chúa trao, đến từ cảm tính bên trong mà hằng ngày lời Chúa thúc giục : “Sáng sáng người đánh thức tôi, để tôi lắng nghe như một người môn đệ.” Ông khám phá ra cho mình và công bố cho kẻ khác rằng Thiên Chúa luôn sẵn sàng thông truyền ý muốn của Ngài cho nhân loại, đồng thời tha thứ những lỗi lầm của họ. Đúng thật Ngài là Thiên Chúa yêu thương, muốn cứu vớt hơn là trừng phạt. Thiên Chúa ấy chúng ta gặp nơi Đức Giê-su trong sứ vụ của Ngài. Chúng ta được khích lệ sống vẹn toàn bổn phận phục vụ tha nhân, ngay cả khi lòng nhiệt thành thuở ban đầu đã phai nhạt. Gương sáng của Chúa vẫn thúc đẩy mọi người tiếp tục làm việc bác ái. Chúng ta chẳng bao giờ có lý do tháo lui, kể cả các ngăn trở do cơ cấu Giáo hội gây nên. Chúng ta sẵn sàng đối đầu với thử thách trong các hoàn cảnh mới, mặc dù đã gặp chúng rất nhiều lần trong các tình huống khác. Tuần lễ này, sự thương khó của Đức Giê-su lại cho chúng ta miệng lưỡi mới để lựa lời nâng đỡ những ai rã rời kiệt sức vì những bất hoà gia đình, nghèo đói, vô gia cư, thất nghiệp, lương thấp, bạo lực, chiến tranh, sợ hãi, bệnh tật lâu ngày, … Ngài lại cho chúng ta nghị lực nói thay cho những tiếng nói không ai thèm nghe, những kẻ thấp cổ bé miệng, những người vô danh tiểu tốt bị bỏ quên bên lề xã hội. Chúa vào thành thánh tuần này. Người ta hồ hởi đón chào Ngài để được thấy vinh quang Ngài tỏ hiện. Chắc chắn họ sẽ thất vọng bởi vì Ngài xuất hiện trong đường lối họ không thể nhận ra : Khiêm nhu ngồi trên lưng lừa con, vâng lời thi hành thánh ý Đức Chúa Cha. Tuy nhiên, tín hữu sẽ được chiêm ngưỡng vinh quang Ngài rực sáng hơn mặt trời. Ngài đã chọn lựa con đường nhân loại, gánh lấy tội lỗi chúng ta, bước đi trong đau khổ như chúng ta. Nếu linh hồn mình cũng ăn vận sự trong sáng của ơn thánh thì chúng ta có lý do để vui mừng, trà trộn với đám đông tại cửa thành Giêrusalem tay cầm ngành lá, sắp thành đám rước reo hò vang dậy “hoan hô con vua David, chúc tụng Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến.” Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai cũng ca tụng Đức Giê-su ở cương vị đó : “Ngài đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.” Đối với thánh nhân, lòng khiêm nhường của Chúa không có tính nhất thời, thứ yếu. Nó là nhân đức căn bản khiến Ngài thi hành thánh ý Chúa Cha. Ngài thực sự nhận lấy số phận nhân loại, không từ chối hoàn cảnh nào, ngoại trừ tội lỗi. Ngài không hề đòi hỏi đặc ân chức vị Ngôi Hai, nhưng đã chịu đựng mọi thiếu thốn của kiếp sống con người, tủi nhục, đau khổ và cái chết. Ngài đã chu toàn sứ vụ người tôi tớ đau khổ của Giavê cho đến nghĩa đen, tức là tận cùng số kiếp nô lệ : Chịu đóng đinh nhục nhã trên thập tự. Chỉ có lòng khiêm nhường cực điểm như thế dẫn Ngài đến vâng lời cho đến chết. Chúng ta không có sự khiêm nhu chân thật thì làm sao vâng lời Thiên Chúa ? Chúng ta sống giả hình, là lẽ đương nhiên, bởi thiếu nền tảng. Cho nên việc noi gương Chúa như thánh Phaolô kêu gọi đặt căn bản trên sự bắt chước Chúa về lòng khiêm nhường. Nhờ đó, chúng ta có thể trút bỏ mọi sự như danh vọng, địa vị, của cải, chức quyền, lợi lộc và cả đến cả mạng sống mình. Ngõ hầu trước mặt Thiên Chúa chúng ta chỉ là những kẻ ăn mày, bởi lẽ, ơn cứu độ không thể đạt tới bằng chiếm đoạt hay công nghiệp. Nhưng bằng đức tin tinh tuyền vào Chúa Ki-tô. Ở buổi Phụng vụ hôm nay, chúng ta liên kết chặt chẽ với Ngài trong đau khổ, nhọc nhằn và hy sinh. Ngài tự nguyện đi vào khổ nạn để chết thay cho các tội nhân. Điều này có ý nghĩa, đau khổ của những kẻ vô tội, như những nạn nhân của sóng thần vừa qua tại Đông Nam Á, những trẻ con vô tội bị giết hại do phá thai, nạo thai, các cuộc chiến tranh không gây hấn, các nạn nhân của khủng bố đều là đất thánh. Chúng ta còn khám phá ra các thánh địa khác nữa khi dấn thân vào những đau đớn của tha nhân. Nhờ ánh sáng cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su chúng ta nhận ra rằng những thánh địa đó có sức chữa lành linh hồn mình, linh hồn các tín hữu và toàn thể nhân loại. Amen. | |