Chúa Nhật IV MC - Năm A

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật

ÐẤNG SOI SÁNG CHO KẺ MU

Dấu chỉ của sự mâu thuẫn
Trình thuật Tin Mừng hôm nay diễn tiến như một biên bản với những câu hỏi, các nhân chứng, người tố cáo và người bị tố cáo. Ðến cuối trình thuật, những người đứng ra tố cáo lại trở thành bị cáo.

Cuộc tranh luận diễn ra giữa Ðức Giê-su, Ðấng tự xưng là Ánh Sáng và nhóm Biệt phái, những người tượng trưng cho Bóng Tối. Qua các câu hỏi và chứng từ, người ta có thể dần dần nhận ra Ðức Giê-su : Khởi đầu từ <I>"một con người có tên là Giê-su"đến" người của Thiên Chúa"và Con Người".

"Tôi là ánh sáng cho thế gian".
Chủ đề này được lập đi lập lại trong suốt bài Tin Mừng, như một khẳng định rất chính xác và quyết liệt. Khẳng định này đi kèm theo việc chữa lành người mù không chỉ nhằm quả quyết về phép lạ bên ngoài, nhưng còn muốn diễn tả điều sâu xa hơn : Ðức Giê-su đem lại cho thế giới này cái nhìn nguyên vẹn, trong sáng của Thiên Chúa, một cái nhìn không bị lu mờ bởi những thành kiến, những lối cắt nghĩa xuyên tạc, đầy ác ý và nghi ngờ.

Việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh thực là một phép lạ. Nhưng đó mới chỉ là thứ ánh sáng tự nhiên, thứ ánh sáng làm cho người ta được hội nhập vào cuộc sống. Ðức Giê-su còn muốn đem lại thứ ánh sáng của đức tin : ánh sáng này có sức xua tan mọi u tối, phá vỡ mọi nghi ngờ, sợ hãi, loại bỏ những xét đoán nghiệm ngặt và bất công. Ðức Giê-su không chỉ chữa lành mắt theo thể lý, nhưng còn chữa lành con mắt tâm hổn nữa. Sau khi đã cho người mù được nhìn xem thế giới và nhận biết sự thật, Ðức Giê-su đã cho anh biết về chính Người, và anh đã tin.
Chứng kiến việc người mù được chữa lành, nhóm Biệt phái vẫn không nhận ra con người đích thực của Ðức Giê-su. Tất cả chứng lý của họ đều dựa trên một điều : "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát."(9,16).

Lý luận này vẫn thường được đưa ra trong các cuộc tranh luận giữa nhóm Biệt phái và Ðức Giê-su. Ðây cũng là điều dễ hiểu. Họ là những người lãnh đạo và muốn bảo vệ quyền của mình. Họ không có tấm lòng với người khác, tất cả đều được xét đoán theo luật pháp.

Chính vì muốn bảo vệ quyền lợi, viện cớ là dựa theo luật pháp, họ trở thành những người lãnh đạo mù, mù tự ý. Họ coi trọng quy luật hơn là việc cứu chữa con người. Càng ngày họ càng lún sâu vào tình trạng bất hạnh, nhưng họ vẫn không nhận ra, ngay cả khi Ðức Giê-su đã nói cho họ biết.

Như vậy, Ðức Giê-su, ánh sáng cho thế gian, là dấu chỉ của sự mâu thuẫn. Những kẻ tưởng rằng mình nhìn thấy rõ lại càng chìm ngập trong bòng tối ; những người khiêm tốn nhận rằng mình mù tối lại tìm được ánh sáng.

Từ người bị loại trừ trở thành người được tuyển chọn
Việc Ðức Giê-su chữa lành người mù đã làm cuộc đời anh thay đỗi hoàn toàn. Trước đây, anh là người ngổi ăn xin bên vệ đường, chẳng ai thèm đoái hoài. Anh không biết gì và cũng chẳng nhìn thấy gì. Giờ đây, khi được chữa lành, anh trở thành đề tài cho mọi câu chuyện. Người ta tìm đến hỏi han và anh trở thành người làm chứng. Từ thân phận của kẻ bị khai trừ, của người ăn xin, anh trở thành người được Thiên Chúa tuyển chọn, được mặc khải những điều lớn lao, được nhận ra Ðức Giê-su. Anh chìm ngập trong ánh sáng : anh đã gặp Ðấng Cứu Tinh và anh tin vào Người.

Người ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh người mù đã được chữa lành, hết quay sang phải rổi sang trái để trả lời những câu hỏi. Anh nói lên những gì đã xảy ra nơi mình : anh tin vào người chữa anh lành bệnh, anh nói ra điều đó, và từ nay đời anh sẽ sống theo đó. Anh tin như anh thấy đơn giản như anh hít thở không khí. Những người khác có vẻ như chế nhạo anh, mỉa mai anh. Kệ họ, anh vẫn tin và nói lên điều anh tin.

Quả vậy, anh đã được sinh ra trong cuộc đời. Cuộc đời trước kia của anh, coi như chẳng có giá trị. Có chăng, là một kinh nghiệm về bóng tối, về thân phận của kẻ mù loà. Kinh nghiệm ấy giúp anh càng thêm tin tưởng vào con người đã cho anh được nhìn thấy. Với anh, thực là lô độc đắc.

Thế nhưng, từ sự kiện được thấy ánh sáng, anh mù còn nhận ra người đã chữa lành anh là ai. Những lời thuật chuyện và lý luận của anh thật đơn sơ, chân thành, nhưng không kém phần quyết liệt. Anh vẫn đủ tỉnh táo và dí dỏm để đối lại những câu hỏi đầy ác ý của nhóm biệt phái. Ngay cả khi bị trục xuất, anh vẫn nhất mực bày tỏ lòng tin vào Ðức Giê-su.

Trước kia, anh là kẻ bị trục xuất vì anh mù, vì anh ngổi ăn xin bên vệ đường, còn bây giờ anh bị trục xuất vì tin vào Ðức Giê-su, tin vào Con Người. Anh bị xã hội trần gian khai trừ, nhưng lại được Thiên Chúa yêu thương. Và chừng đó là đủ cho anh. Nhờ tin, anh bước vào đời sống mới, trở thành người được tuyển chọn.

Chúng ta có tiếp nhận ánh sáng ?
Trình thuật về người mù được chữa lành thực là một tin mừng cho tất cả mọi Ki-tô hữu.
Mỗingười đều có thể gặp Ðức Giê-su một cách nào đó, và nhờ Người, họ có được cái nhìn sáng suốt về điều quan trọng nhất của đời sống : Ðức Giê-su là Ðấng Cứu Thế, là Ánh Sáng đích thực.

Cần lưu ý điều này, đây không phải là gặp được một người chuyên làm phép lạ, người sẽ đưa ra giải pháp kỳ diệu cho vấn đề, nhưng là cuộc gặp gỡ với "người được Thiên Chúa sai phái". Chính qua con người này, mỗi người sẽ định hướng cho mọi hành vi cũng như những phán đoán của mình. Và từ việc định hướng này sẽ nảy sinh những phép lạ đích thực, những phép lạ làm thay đỗi mối tương quan giữa con người với nhau, những phép lạ đem lại bình an của thần khí.

Ðã có lần nào chúng ta đặt vấn đề với chính mình : lời sống động của Thiên Chúa có hướng dẫn và đỗi mới cái nhìn, phán đoán của chúng ta về các biến cố, về con người và về sự vật không ?

Chúng ta có dám khẳng định như người mù, khi bị chất vấn, đã quả quyết rằng : Ðức Giê-su đã chữa tôi lành, Người là một vị Ngôn sứ ..., và trước đó, chúng ta có đủ can đảm để nhận rằng mình là kẻ mù loà, cần được ánh sáng của Thiên Chúa chiếu dọi ?

* * *
Ôi Chúa Ki-tô,
Ánh Sáng của Chúa đang vây bọc con,
làm cho con được sống.
Xin toả ánh sáng của Chúa trên con,
để giữa những bệnh tật,
giữa những phiền muộn ưu sầu
con vẫn nhận ra Chúa,
không một chút nghi ngờ.
Xin ánh sáng của Chúa,
xuyên thủng bóng tối của hổn con,
phá tan mọi mặc cảm, e dè
để con luôn bước đi
trong tin tưởng và vui mừng.


Last Updated: 09/12/2012