| Chúa Nhật XXV thường niên - Năm C |
3. Khôn khéoSuy Niệm Cuộc đời này tươi hơn nhờ có người say mê nó. Các vận động viên chịu khổ luyện để phá một kỷ lục. Các nhà khoa học tận tụy để tìm ra một phát minh. Các văn nghệ sĩ nhọc nhằn cưu mang một tác phẩm. Các nhà kinh doanh bù đầu với chuyện nắm bắt thị trường. Phía sau một tấm huy chương, một bằng khen, một giải thưởng, có bao là mồ hôi nước mắt. Say mê cuộc đời này chẳng có gì đáng trách. Người Kitô hữu cũng sống hết lòng với cuộc đời này, nhưng họ không say mê như thể chỉ có nó. Đúng ra họ say mê đời này vì họ say mê đời sau. Đời này chỉ là con đường dẫn đến mục đích tối hậu. Sau khi kể xong dụ ngôn về người quản gia khôn khéo, Đức Giêsu phàn nàn vì chúng ta, những con cái ánh sáng, lại không khôn bằng những người chỉ biết có đời này. Người quản gia khôn vì ông dám đối diện với thực tế, đó là chuyện ông bị chủ cho thôi việc. Ông khôn vì ông biết giới hạn của mình: Không đủ sức cuốc đất, không đủ mặt dầy mặt dạn để đi ăn xin. Ông khôn vì ông biết xoay sở, tìm ra phương án tốt nhất, biết tận dụng quyền hành còn lại của mình để đem đến cho tương lai bấp bênh một bảo đảm. Đức Giêsu không dạy ta bất lương như người quản gia. Ngài dạy ta biết khôn khéo như ông khi gầy dựng cho đời mình tương lai vĩnh cửu. Có vẻ đời sau thì xa xôi, không có sức thu hút, không làm chúng ta say mê và dám đánh đổi tất cả. Chúng ta thừa sôi nổi để xây dựng tương lai đời này, nhưng lại thiếu táo bạo để xây đắp tương lai đời sau. Chúng ta biết xoay sở để việc làm ăn khỏi thua lỗ, nhưng chúng ta lại thiếu cương nghị và dứt khoát để đầu tư mọi sự mình có cho Nước Trời. Cái giằng co của đời sống Kitô hữu nằm ở chỗ vừa say mê cuộc đời này, vừa say mê vĩnh cửu. Họ say mê cuộc đời này không thua bất kỳ ai, bởi vì giữa cái mau qua, họ gặp được vĩnh cửu. Kitô hữu làm việc, vui chơi như mọi người, nhưng vẫn có cái gì rất khác nơi họ. Không phải vì họ dành cho Chúa một thời gian ít ỏi để đọc kinh, cầu nguyện, dự lễ... nhưng vì họ đã để Chúa đi vào toàn bộ đời mình. Chúng ta cần giữ một sự thăng bằng trong cuộc sống. Sự thăng bằng này lại nằm ở chỗ chúng ta nghiêng về phía Chúa và để Ngài làm chủ đời mình. Tiền bạc, của cải không phải là điểm tựa, dù ta rất cần tiền và phải kiếm tiền để sống. Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của, không thể phụng sự hai chủ như nhau, trong cùng một lúc. Tôi tự hỏi những chủ nào đang thống lĩnh đời tôi. Ước gì tôi được tự do nhờ biết làm tôi cho Thiên Chúa. Gợi Ý Chia Sẻ Đồng tiền là tiên, là phật, và cũng có thể là vị chúa đầy hấp dẫn quyền uy. Bạn có kinh nghiệm gì về sức mạnh của đồng tiền? Bạn có thấy ai đánh mất mình vì nô lệ cho tiền bạc không? Người Kitô hữu cũng dễ mất hút giữa những bon chen của đời thường. Theo ý bạn, nếu sống chân thật lương thiện, người Kitô hữu có hy vọng thành công không? Cầu Nguyện Lạy Chúa Giêsu, ai trong chúng con cũng thích tự do, nhưng mặt khác chúng con thấy mình dễ bị nô lệ. Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra. Xin giúp chúng con được tự do thực sự: tự do trước những đòi hỏi của thân xác, tự do trước những đam mê của trái tim, tự do trước những thành kiến của trí tuệ. Xin giải phóng chúng con khỏi cái tôi ích kỷ, để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa, để nhạy cảm trước nhu cầu bé nhỏ của anh em. Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được tự do như Chúa. Chúa tự do trước những ràng buộc hẹp hòi, khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi và chữa bệnh ngày Sabát. Chúa tự do trước những thế lực đang ngăm đe, khi Chúa không ngần ngại nói sự thật. Chúa tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết, vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến cùng. Xin cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng, để chúng con được tự do bay cao. 4. Không thể thờ hai chủ - Achille DegeestDụ ngôn viên quản lý bất lương đòi hỏi người đọc đừng nghĩ lan man khi tìm cách giải thích các chi tiết. Chủ ý dụ ngôn cho thấy, trước hết người ta phải quan tâm đến tương lai vĩnh cửu của mình, phải sử dụng hết tâm cơ tài trí ít nhất cũng như trong việc lo toan của cải vật chất. Một lần nữa Đức Giêsu lưu ý các môn đệ về vấn đề thiết yếu vượt trên mọi vấn đề, ai ai cũng phải dốc tất cả nghị lực, sức lực vào vấn đề cơ bản đó. Những vấn đề còn lại là phụ, sẽ giải quyết sau. Vấn đề cơ bản ấy là bổn phận phục vụ Thiên Chúa, nó trùng hợp với hạnh phúc con người. Từ ngữ ‘của bất lương’ phải hiểu theo nghĩa nào? 1) Căn bản sự sở hữu những của cải thế gian luôn luôn chứa đựng một nguy cơ bất công. Tuỳ theo mức giàu có vật chất, một câu hỏi ít hay nhiều nghiêm trọng được đặt ra: Khởi từ lúc nào việc sở hữu kéo theo một sự tước đoạt quyền lợi kẻ khác? Ai cũng biết, bình đẳng tuyệt đối về của cải là một ảo tưởng, và bất bình đẳng mau chóng biến thành bất công. Dưới mắt Đức Giêsu, giàu về vật chất là một hiểm hoạ. Rất nhiều lần Chúa trở lại vấn đề này, lúc thì bài xích, lúc thì thương hại cảnh giác. Qua từ ngữ ‘của bất lương’ chúng ta phải phát giác nguy cơ bất công đàng sau sự sở hữu vật chất. 2) Của bất lương là thứ của cải thế gian nào khiến cho tâm hồn quay ra phía khác chứ không hướng về Thiên Chúa. Tội bất công nặng nhất là tội không thờ kính Thiên Chúa hết lòng như bổn phận phải làm đối với Đấng Thượng Đế. Dồn hết tâm trí vào việc làm giàu mà quên Thiên Chúa là phạm tội biển thủ bởi lẽ để cho của cải thế gian chiếm đoạt tâm hồn đã được tạo dựng cho Thiên Chúa. 3) Người ta băn khoăn: vậy có lối xử trí nào để con người có thể tha thiết với của cải đời này mà không xa lìa Thiên Chúa? Đức Giêsu đáp: không thể cùng một lúc phục vụ hai chủ. Thật vậy, khi lao mình vào phục vụ tiền bạc thì chung quy con người phục vụ ông chủ nào? Trong trường hợp ấy, ông chủ chính là bản thân con người để lộ ra cái chất gì xấu nhất, nó là tư lợi, là lòng ích kỷ. Dung hoà hai sự thờ phụng –tôn thờ bản thân và tôn thờ Thiên Chúa- là việc không thể làm được. 4) Nếu vậy, phải khinh chê tiền bạc ư? Đồng tiền kiếm bằng mồ hôi nước mắt, cần để sinh sống, có thể san sẻ giúp đỡ tha nhân vì lòng thương, đồng tiền ấy không bị Đức Kitô bài xích. Đồng tiền nào nuôi dưỡng lòng ích kỷ, gây thiệt hại cho đức công bằng, khiến cho con người quên mất Thiên Chúa, đồng tiền ấy bị kết án trầm luân. 5. Hãy bắt đầu hơn là thế gian(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller) Vào thời điểm này, những đội bóng rổ chuyên nghiệp đang dự định vào vòng cuối của giải thế giới. Đặc biệt là những đội đang bị chia rẽ thì họ đang mong chờ một cuộc trao đổi, chuyển nhượng các cầu thủ, các đội nghĩ rằng vào mùa chuyển đổi cầu thủ này, họ có những gì họ cần và họ có thể đạt được điều đó. Họ sẵn lòng trải qua những cuộc trả giá tiền lương và chuyển nhượng để có được cầu thủ đó. Họ đã có một cùng loại khởi đầu mà Chúa Giêsu đã nhắc nhở trong ngày hôm nay về người quản lý bất lương. Phúc Âm có vẻ như muốn nói Chúa Giêsu đã minh chứng và trình bày về vẻ bất lương của người quản lý. Một số nhà chú thích cắt nghĩa rằng, người quản lý đã thật sự giao lại công việc của mình và không lừa đảo chủ của mình ngay cả khi anh ta đã làm một việc có vẻ như thiệt hại cho công việc của chủ. Người chủ đã không tỏ một dấu hiệu nào cho thấy là ông ta bị lường gạt. Thật ra, ông đã dự định công việc của mình một cách táo bạo và làm một sự khởi đầu. Quan điểm của Chúa Giêsu về việc này là: người đàn ông ở đây đã muốn bảo đảm cho tương lai của ông sau khi ông mất việc. Ông ta không ngồi đó than khóc về số phận của mình, ông ta đã làm một điều gì đó để tranh thủ cảm tình với những con nợ của chủ. Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm này thì không có ý nói về sự khởi đầu một việc kinh doanh hay là Ngài có ý nói đến sự chuẩn bị cho chiến thắng của những đội bóng rổ chuyên nghiệp, nhưng Ngài hy vọng rằng chúng ta sẽ để ý tới sự cứu rỗi đời đời của chúng ta. Hơn nữa, Ngài trông đợi chúng ta hãy làm việc khó nhọc cho những giá trị thiêng liêng như một số người đã làm và coi việc đó như là mục đích cuối cùng. Thánh Kinh ngày hôm nay đề nghị hai điều, mà trong đó chúng ta sẽ tăng trưởng đời sống thiêng liêng. Họ sẽ cầu nguyện cho những người có nhu cầu và đòi sự công bằng cho người nghèo. Điều thứ hai là một sự nối kết thân mật, bài đọc thứ hai ngày hôm nay là một trong những nguồn mạch lời nguyện của chúng ta phải phản ảnh một bản tính rộng lớn của lời cầu nguyện được nhắc nhở trong thư của thánh tông đồ gởi cho Timôthê. Chúng ta cần bao gồm tất cả mọi người trong lời cầu nguyện của chúng ta, và chúng ta cần nhấn mạnh đặc biệt đến những người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ và khinh khi. Lời cầu nguyện phải dẫn đến hành động. Đặc biệt là loại hành động cầu bầu như tiên tri Amos, vị tiên tri của công bằng xã hội. Ngài đã kết án những kẻ đã dẫm đạp lên những nhu cầu và hủy diệt người nghèo nơi quê hương. Ngài đã khuyên nhủ những người này hãy nghĩ đến mục đích tối hậu của đời mình. Tiên tri Amos không thích quan điểm của Canvil Coolidge, ông đã nói: Công việc của người Mỹ là công việc”“. Chúng ta thì không như vậy được. Công việc của chúng ta sẽ là chia sẻ với những người khác, những người đang có nhu cầu, những người đang cần lời cầu bầu hơn những phê bình, những người đang sống trong hoạn nạn và nhận biết rằng Thiên Chúa kêu gọi chúng ta chia sẻ những khả năng và ân phúc của chúng ta cho những người khác. Người Công Giáo phải luôn được nhận biết như là những người sát cánh với người nghèo và những người quảng đại trong việc giúp đỡ họ. Chúng ta được kêu gọi để trở nên một người: “Làm bạn với những người nghèo qua việc chúng ta dùng những hàng hóa, đặc sản của thế giới này”. Chúng ta có quyền trông đợi trở nên những người mà Thiên Chúa có thể tin tưởng để trao phó tài sản, vì chúng ta biết chia sẻ nó cho những người khác. Trên hết, những người Công Giáo sẽ trình bày sự khởi đầu và táo bạo không chỉ trong lời cầu nguyện cho người có nhu cầu, nhưng cũng vươn đến giúp đỡ họ cách tốt nhất như chúng ta có thể. Đó là điều sẽ bảo đảm rằng chúng ta chỉ có một vị Thầy lớn lao tốt lành, một người cha quảng đại, là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. 6. Những đồng bạc lẻ(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’) Một người Đức giàu có nọ đến nghỉ mát tại một ngôi làng nhỏ bên cạnh bờ biển, dân chúng đa số là các ngư dân nghèo nàn chất phác. Chiều đến người khách lạ đi vào các hàng quán để đổi tiền hầu mua thức ăn và chi trả các thứ cần thiết. Ông vào một quán nhỏ và nhờ người chủ quán đổi cho một tờ giấy bạc 1.000 Đức mã. Đây là lần đầu tiên người chủ quán nhìn thấy một tờ giấy bạc to như thế. Ông lắc đầu và nói với người khách lạ: “Với tờ giấy bạc nầy ông sẽ không mua được bất cứ cái gì ở đây. Ở đây chúng tôi chỉ trao đổi với nhau bằng những đồng bạc nhỏ mà thôi”. Nhiều người dân làng bu lại để nhìn tờ giấy bạc 1.000 Đức mã. Họ cười nói với nhau: “Làm gì có giấy bạc 1.000 Đức mã”. Những người đánh cá cũng đứng lại biểu đồng tình. Họ nói rằng đồng bạc lớn nhất mà họ chỉ thấy năm ba lần trong đời là tờ 100 Đức mã. Thế là dân làng bắt đầu nghi ngờ về thành tích bất hảo của người khách lạ. Đêm hôm đó, từ cửa sổ của nhà trọ ông nghe có tiếng bàn tán như sau: “Hắn ta phải là một tên bịp bợm. Trước hết là phải tìm cách tống hắn đi khỏi làng của chúng ta”. Sáng hôm sau, trước khi mặt trời lên, người đàn ông giàu có đã vội vã ra khỏi phòng trọ. Ông đi đến một đô thị nhỏ cách đó gần một ngày đàng và đổi giấy bạc 1.000 Đức mã ra những đồng bạc nhỏ. Với hai bao tiền đầy cộm, ông thuê xe trở lại ngôi làng. Lần nầy dân chúng tin rằng ông thực sự có tiền và họ đã tiếp đón ông rất tử tế. Người khách lạ giàu có đã xoay xở khôn khéo và kịp thời để thoát khỏi sự nghi ngờ niềm nở tiếp đón khi ông đổi tờ giấy bạc 1.000 Đức mã thành những đồng bạc nhỏ. Tờ giấy bạc 1.000 Đức mã của ông nhà giàu chẳng có giá trị gì đối với dân nghèo mà còn trở nên nguy cơ cho chính bản thân ông nhà giàu. Cũng thế, thái độ của chúng ta đối với tiền của chỉ đáng tin cậy khi được thể hiện bằng những việc làm cụ thể của bác ái, chia sẻ cho những người nghèo khổ và như thế chúng ta sẽ mua được nhiều bạn hữu. Hôm nay, khi kể câu chuyện người quản lý biết dùng tiền của để mua chuộc bạn bè, Chúa Giêsu cũng muốn kêu gọi chúng ta hãy dùng tiền bạc mà mua lấy bạn bè, để bảo đảm cho tương lai hạnh phúc. Đây là chuyện khéo léo xoay xở của một người quản lý bất lương. Anh đã lợi dụng cơ hội biển thủ tiền của hoa lợi của ông chủ. Ông chủ cho đòi người quản lý tới tính sổ và sau đó sẽ cho anh ta thôi việc. Thât là một tin bất ngờ như sét đánh. Mất việc làm, anh sẽ đi đâu? Sinh sống như thế nào? Cuốc mướn thì không nổi, ăn xin thì xấu hổ. Vậy chỉ còn một cách là tìm được người để nhờ vả. Anh vội vàng gọi các con nợ của chủ đến. Anh làm ơn cho họ để sau nầy họ sẽ giúp đỡ anh. Anh biến họ nên những kẻ đồng lõa. Và thấy lợi trước mắt, họ đã làm theo anh. Cứ xử như vậy, đối với chủ bất lương. Nhưng đó là khôn ngoan theo kiểu thế gian. Chúa Giêsu khen sự khôn ngoan đó vì Ngài thấy con cái đời nầy khôn khéo hơn con cái sự sáng. Chúa không khen các việc làm của người quản lý kia, vì anh ta lả kẻ bất lương. Nhưng Ngài phải nhận rằng anh ta không khéo và mau lẹ tháo vát, xoay xở. Và Ngài tỏ ra đau lòng khi nghĩ đến phương diện Nước Trời, ở đây người ta không mau lẹ và khôn khéo như vậy: Chúa Giêsu đã đem ơn cứu độ đến qua lời giảng dạy và gương sáng của Ngài, nhưng sao người ta hững hờ và chậm chạp đến như vậy! Người ta không lanh lẹ mau trí xoay xở đối với Nước Trời như người quản lý bất lương kia mau trí lanh lẹ xoay xở đối với việc ở đời nầy. Đó là điều đau lòng và đáng trách! Nhưng nếu muốn lanh trí, khôn khéo xoay xở đối với Nước Trời thì phải làm gì? Và đây là điểm chủ yếu của Tin Mừng hôm nay. Phải bắt chước anh quản lý trong việc khôn khéo tìm cách bảo đảm cho tương lai của mình. Anh quản lý tìm bảo đảm tương lai ở đời nầy, còn con cái sự sáng phải tìm bảo đảm tương lai ở đời sau. Vậy phải làm gì? Tiền của đời nầy có giúp ích được gì không? – Có chứ! Hãy dùng tiền của mà mua sắm kho tàng cho mình ở trên trời mai ngày, nơi không có mối mọt đục khoét và không trộm cướp nào lấy mất được (x. Mt 6,19-21). Ngược lại, nếu chỉ dùng tiền mà tích trữ cho riêng mình ở đời nầy, thì như có lần Chúa đã nói: “Khốn cho kẻ ngu ngốc như vậy, vì khi chết y có thể mang theo được ghì không?” (Lc 12.16-21). Nhưng thế nào là dùng tiền của để mua sắm kho tàng cho mình ở trên trời? Theo giáo huấn của Chúa và như các kitô hữu tiên khởi đã thi hành, thì của cải vật chất được ký gởi cho chúng ta không phải để chúng ta giữ làm của riêng và coi nó như thần tượng để tôn thờ, nhưng là để chúng ta san sẻ với anh em, làm cho không ai còn thiếu thốn. Tất cả vất đề nằm trong quan điểm nầy. Người ta phải lựa chọn: hoặc là coi tiền của hoặc là coi nó như của ký gởi để san sẻ giúp đỡ nhau. Nói cách khác, hoặc coi tiền của như thần tượng để tôn thờ, hoặc coi tiền cả như phương tiện để xây dựng hạnh phúc chung cho mọi người. Cũng như ngôn sứ Amos (Bđ.1), Chúa không chấp nhận được thái độ tham lam tiền của, chỉ biết làm giàu cho mình và không sợ bóc lột người khác. Và tham lam như vậy là chứng tỏ đã coi tiền của là thần tượng, là một thứ tôn giáo. Đúng như lời Chúa dạy: “Không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được”. Tiền của, vàng bạc là những thứ đem lại giàu sang, sung sướng, nhưng cũng là nguyên do của những phản bội, tráo trở, thất nhân thất nghĩa, bôi đen lòng người. Vì thế, người Kitô hữu xác tín có một đời sau, có một kho tàng thực đang chờ đón chúng ta, chúng ta không thể chấp nhận và sống theo tôn giáo thờ Thần Mammon-ngày nay là Thần Đô-la - tôn đồng tiền làm thần tượng, coi đồng tiền là tất cả, là vạn năng. Chúng ta hãy đặt tiền bạc trở về đúng vị trí của nó là một tên nô lệ chứ không phải là một chủ nhân ông thì mới hy vọng có một thái độ, một cách cứ xử đúng mức đối với tiền của trong tương quan với tha nhân. Với lời khuyên nhủ của Chúa Giêsu qua dụ ngôn hôm nay, chúng ta hãy kiểm điểm lại thái độ của mình, đồng thời thành khẩn xin Chúa ban cho chúng ta một nghị lực dứt khoát và can đảm để luôn chế ngự được hấp lực của đồng tiền, biết cách sử dụng tiền bạc, của cải trần gian cho tình thương yêu, bác ái và chia sẻ. Như thế là chúng ta gởi vào kho tàng bất diệt trên trời. Hãy đầu tư tất cả cho cuộc sống mai sau. Hãy hướng tất cả mọi sự vào cùng đích của cuộc sống. Hãy coi trọng con người hơn tiền bạc của cải và trong tình bạn hơn sự giàu sang phú quý. Bởi vì cái gì sẽ tồn tại mãi mãi? Không phải là tiền bạc hay giàu sang mà là tình bạn của con người. Hãy cư xử thế nào để ngày sau luôn có đông đảo bạn hữu chân thành đón rước chúng ta và Cửa Trời hạnh phúc. 7. Bản năng - McCarthyNhiều loài chim có một bản năng quay về nhà rất mạnh mẽ. Những con chim hải âu ở xứ Manx là một ví dụ hay. Người ta bắt một con ở xứ Wales và đeo vòng cho nó, rồi đem nó đến Boston, cách đó ba ngàn dặm và thả nó ra. Hai tuần lễ sau, nó bay trở về xứ Wales tại chính nơi mà nó bị bắt. Bản năng quay về nhà (hướng về quê hương) cũng có nơi con người – không chỉ theo ý nghĩa thể chất. Con người đã biết quay về nhà sau những kinh nghiệm đau thương, không chỉ về ngôi nhà cũ của mình, mà về bản thân khi xưa của mình. Họ quay về để thu nhặt những mảnh vụn của cuộc đời họ trước đây. Bản thân bẩm sinh của họ hầu như bị thương tổn. Dĩ nhiên, có những người trở về khi đã trở nên giàu có. Nhà văn Ý Primo Levi đã sống qua một năm ở Auschwitz. Ông là một trong ba người trên chuyến tàu trở về so với con số 123 người ra đi. Sau này ông nói: “Nếu tôi không vào một nơi như thế, có lẽ tôi sẽ sung sướng hơn và thanh thản hơn, nhưng tôi không phong phú như thế này”. Dĩ nhiên ông không nói về tiền bạc. Nói chung bản năng quay về nhà mình là một yếu tố tích cực. Tuy nhiên, nó cũng có thể tiêu cực. Sự thôi thúc quay về nhà mình cắt đứt những cơ hội tốt và khả năng tốt và làm cho việc canh tân đời sống trở nên khó khăn và vất vả. Người ta buộc phải quay về khi muốn giũ bỏ đời sống nông cạn và tầm thường hoặc cả đời sống lỗi lầm và tội ác. Chúng ta thấy một ví dụ nơi người quản gia trong câu chuyện của Đức Giêsu. Khi anh ta bị cho nghỉ việc, lẽ ra đó phải là thời điểm nhục nhã và đau đớn cho anh ta. Nhưng đó cũng là một thời điểm cứu chuộc. Bởi vì nó chỉ cho anh ta thấy thực tại bất lương của cuộc đời anh ta và có thể trở thành một khúc quanh trong cuộc đời anh ta. Nhưng điều gì đã xảy ra? Anh ta vẫn tiếp tục đi theo con đường bất lương trước đây của mình, không hề có một thay đổi nhỏ nào trong tính cách của anh ta. Hoặc bản năng quay về nhà mình là một sự hỗ trợ hoặc là một trở lực thì nó còn tùy thuộc vào cái nhà chân thực của mình nằm ở đâu. Những người quen sống trong ánh sáng sẽ quay về ánh sáng. Nhưng những người quen sống trong bóng tối thì hầu như quay về với bóng tối. Một cây có bộ rễ vững chắc và mọc thẳng sẽ trở lại bản chất cũ đứng thẳng của nó sau khi cơn bão đã đi qua, còn một cây có thân vặn vẹo trở lại bản chất vặn vẹo của nó. Khi chúng ta làm tổn thương đến sự chính trực của mình, chúng ta không làm mất nhân tính của mình, nhưng chúng ta đánh mất ý thức về sự nguyên vẹn, ý thức về mình lúc nào cũng là một con người như thế. Đức Giêsu không lấy người quản gia xấu xa làm một gương mẫu. Người nói rằng con cái của ánh sáng có thể học đôi điều từ con cái của bóng tối. Những người xấu thì khéo léo, theo đuổi một mục đích, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành những mục tiêu xấu xa của họ. Những người tốt lành, trái lại thường chỉ ngồi đó không làm gì. Và kẻ xấu sở dĩ thắng thế chỉ vì người tốt không chịu làm gì. 8. Tiền bạc - McCarthyLòng tham tiền bạc đã đưa nhiều người đến chỗ suy sụp. Hầu như ngày nào trên báo chí chúng ta đều đọc thấy một vài viên chức cấp cao, hoặc một vài nhà điều hành cấp cao bị buộc tội tham nhũng. Một trong những trường hợp nghiêm trọng gần đây là Nicholas Leeson, người đã làm sụp đổ một đế quốc ngân hàng – Ngân hàng Barings ở Luân Đôn. Là con trai của một người thợ hồ ở vùng Watford ngoại ô Luân Đôn, Leeson chưa từng học đại học. Ông ta làm việc ở ngân hàng Barings như một nhân viên bình thường nhưng nhanh chóng lên chức và được giao phụ trách việc kinh doanh tại Ngân hàng Singapore. Ông ta làm việc vất vả và có rất nhiều tham vọng. Tiền lương hàng năm của ông ta là 350.000 quan cùng với những món tiền thưởng khổng lồ. Nhưng ông ta vẫn không thỏa mãn. Ông bắt đầu mua bán các nguồn tài chính. Lúc đầu ông ta đem lại cho ngân hàng những khoản lời lớn. Càng ngày ông ta càng trở nên tham lam. Ông lén lút thực hiện những giao dịch tài chính không cho các ông chủ biết. Sau cùng ông đã thực hiện những vụ đầu cơ lớn không có tiền trả nổi và làm cho toàn bộ ngân hàng bị phá sản. Trong những hoàn cảnh như thế, người ta trả giá cho việc làm sai lầm trong tiền bạc những cái còn quí giá hơn tiền bạc. Họ trả giá bằng sự đánh mất lòng tự trọng, nhân phẩm và niềm hy vọng. Dĩ nhiên, lúc nào cũng có một cơ may được trả tiền bởi việc bán một câu chuyện của mình cho một bài báo. Nhưng ở đây cũng thế, có cái giá phải trả. Bất cứ nhân phẩm nhỏ nhoi nào mà người ta trước đây, sau này người ta cũng sẽ mất hết. Leeson làm chúng ta nhớ đến đôi điều về dụ ngôn của người quản gia. Xem ra người quản gia giống với Leeson đã bị tiền bạc làm cho hư hỏng. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà tiền bạc được coi là quan trọng nên nó cũng dễ dàng trở thành thần linh của chúng ta. Chúng ta có thể đặt nó đứng trước tính lương thiện, công bằng và trước cả đời sống gia đình. Người ta đã bị tiêm nhiễm bởi não trạng càng có nhiều tiền càng tốt. Một con người bình thường trở nên mù mờ đến nỗi không còn nhìn thấy điều gì thật sự quan trọng nữa. Ngôn sứ A-mốt đã lên án những người phục vụ Chúa bằng môi miệng trong ngày sa-bát nhưng bóc lột người nghèo những ngày khác trong tuần. Đức Giêsu nói chúng ta không thể phục vụ Thiên Chúa lẫn tiền bạc. Bạn cũng không thể phục vụ những người khác lẫn tiền bạc. Một lần kia có một người giàu có nhưng keo kiệt đến gặp vị giáo trưởng của ông và xin giáo trưởng ban phép lành cho ông. Vị giáo trưởng đón tiếp ông nhà giàu một cách thân thiện và đưa vào phòng khách. Rồi giáo trưởng dẫn ông đến cửa sổ nhìn xuống đường phố và nói: “Ông hãy nhìn ra kia và nói cho tôi biết ông thấy gì”. “Tôi thấy người ta đi qua, đi lại”, ông nhà giàu đáp. Rồi giáo trưởng đem ông ta ra khỏi cửa sổ, dẫn ông ta đến trước một tấm gương to và nói: “Ông hãy nhìn vào tấm gương này và ông thấy gì”. “Tôi thấy chính tôi”, ông nhà giàu đáp. “Thế đấy, ông bạn, hãy để tôi giải thích ý nghĩa điều ấy cho ông. Cửa sổ làm bằng kính cũng giống như tấm gương này. Tuy nhiên, kính của tấm gương có tráng lên một lớp bạc. Khi ông nhìn qua kính thường, ông thấy người khác. Nhưng khi ông tráng bạc, ông không còn thấy người khác nữa mà chỉ thấy chính ông. Khi ông chỉ quan tâm đến tiền bạc, ông không còn thấy người khác nữa mà chỉ thấy chính ông”. Chúng ta không tìm thấy sự thỏa mãn và ý nghĩa cuộc sống trong của cải. Nhưng khi chúng ta sốt sắng phục vụ người khác, điều này đem lại cho chúng ta mục đích và ý nghĩa cuộc đời. Cho người khác là điều làm cho chúng ta cảm thấy mình sống mãi. “Tiền bạc có thể mua vỏ ngoài của các sự vật nhưng không thể mua mua cái cốt lõi của chúng. Nó đem đến cho bạn thức ăn nhưng không đem đến sự ngon miệng; thuốc men nhưng không phải sức khỏe, sự quen biết nhưng không phải bạn bè, tôi tớ nhưng không phải lòng trung tín, những ngày đầy lạc thú nhưng không phải sự bình an và hạnh phúc”. (Henrik Ibsen) 9. Chú giải của William BarclayGƯƠNG TỐT CỦA NGƯỜI XẤU Đây là một dụ ngôn rất khó cắt nghĩa. Câu chuyện bao gồm những tên lưu manh mà người ta có thể gặp ở bất cứ nơi đâu. Tên quản gia này là một tên lưu manh. Hắn vốn là một nô lệ, tuy vậy hắn được giao trách nhiệm điều hành gia sản của chủ. Tại Palestine có nhiều địa chủ hay đi vắng, nên tất cả công việc của ông ta được trao trong tay người quản gia của ông. Tên quản gia trong câu chuyện này đã ăn cắp khéo léo. Các con nợ cũng là những tên lưu manh. Chắc chắn món nợ của họ là tiền thuế đất. Thuế đất ở Palestine thường được trả cho chủ đất không bằng tiền mà là hiện vật, thường là một phần hoa lợi của đám đất cho thuê. Quản gia này biết rằng hắn sẽ mất chức quản gia, vì thế nảy ra một sáng kiến. Hắn ghi sổ một cách gian lận để các con nợ được trả ít hơn cho chủ. Điều này có hai công hiệu. Thứ nhất, các con nợ sẽ phải mang ơn hắn. Thứ hai, còn có hiệu lực hơn, là hắn làm cho con nợ cũng liên luỵ về hành động gian dối của hắn, và nếu lâm vào tình trạng bế tắc thì hắn ở vào một thế mạnh để thực hiện những vụ tống tiền. Chính chủ hắn cũng là một thứ lưu manh nữa, bởi vì, thay vì khó chịu về hành động này, ông ta lại khen nó thông minh. Điều khó giải thích dụ ngôn này là bởi Luca đã gồm vào đó bốn bài học khác nhau. 1. Câu 8 là bài học con cái ở đời này tỏ ra khôn khéo với đời hơn con cái sự sáng. Điều đó có nghĩa là nếu các Kitô hữu cũng hăng hái khéo léo trên đường hành đạo như người đời khéo tìm của cải tiền bạc thì tốt biết bao. Nếu người ta chú tâm đến linh hồn cũng như việc buôn bán làm ăn thì họ đã tốt hơn nhiều. Nhưng thực ra người ta luôn luôn đổ nhiều thì giờ, tiền bạc, công sức vào những lạc thú, vui chơi đời này gấp 20 lần hơn vào các công việc Hội Thánh của mình. Đạo của chúng ta chỉ trở thành thực tại và hữu hiệu khi nào chúng ta đầu tư vào đó nhiều thì giờ, sức lực như vào các việc thế tục. 2. Câu 9 là bài học của cải vật chất nên dùng để giữ tình bạn. Điều này có thể làm trong hai cách: a. Làm việc đó cho đời sau. Các rapbi Do Thái có câu “kẻ giầu giúp kẻ nghèo ở đời này, nhưng kẻ nghèo giúp kẻ giầu trong đời sau”. Khi chú giải chuyện người giầu ngu dại xây kho lẫm lớn hơn để tích của. Ambrose có nói: “Lòng của người nghèo, nhà của bà goá, miệng của trẻ nhỏ là những kho vựa còn mãi đời đời”. Người Do Thái tin rằng của bố thì cho người nghèo được ghi vào trương mục đời sau của kẻ cho. Sự giầu có thật của con người không tuỳ những gì mình nắm giữ, nhưng ở những gì mình cho đi. b. Làm việc đó cho đời này. Người ta có thể dùng của cải một cách ích kỷ, hoặc có thể dùng để giúp cho đời sống dễ chịu hơn, không những cho chính mình, mà còn cho bạn bè và những người chung quanh mình nữa. Biết bao nhà học giả đời đời mang ơn một người nào đó đã dùng tiền bạc mình để giúp học bổng cho mình theo đuổi việc học. Biết bao người đã mang ơn một người bạn giàu có đã tài trợ cho họ trong cơn túng cực một cách thực tế. Tự bản chất, của cải không phải là tội lỗi nhưng đòi trách nhiệm thực hiện chức năng của nó và người nào dùng của cải để giúp đỡ tha nhân túng cực, kẻ ấy đã làm trong trách nhiệm của mình. 3. Câu 10,11 là bài học về cách thi hành việc nhỏ, qua đó, sẽ chứng tỏ người đó có xứng đáng hay không xứng đáng để trao phó những việc lớn. Điều này đúng trong các việc đời này, không ai được cất nhắc lên vị trí cao hơn nếu lúc ở địa vị thấp, người đó đã không chứng tỏ được khả năng và lòng ngay thẳng. Nhưng Chúa Giêsu đã áp dụng nguyên tắc đó vào đời sau. Ngài phán “ở thế gian các ngươi chịu trách nhiệm về những của cải không thực sự thuộc về mình. Các ngươi không thể mang theho mình những của cải đó khi chết. Những của cải đó chỉ cho các ngươi vay mượn. Các ngươi là người quản lý của đó, vì theo bản chất, những của đó không là của các ngươi vĩnh viễn. Nhưng trái lại, ở trên trời, các ngươi sẽ được những của cải thuộc về các ngươi một cách thiết thực, vĩnh viễn và bất di dịch. Những của mà các ngươi sẽ được trên trời lại tuỳ theo cách các ngươi dùng của cải dưới đất. Của cải mà các ngươi sẽ được làm tài sản riêng tuỳ ở cách các ngươi sử dụng những của cải mà các ngươi chỉ làm quản lý”. 4. Câu 13 đặt ra luật: không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ. Chủ chiếm hữu nô lệ cách tuyệt đối. Ngày nay thì đầy tớ hay công nhân có thể làm hai công việc một cách dễ dàng, và có thể làm việc cho hai chủ. Anh ta có thể đảm nhận một công tác trong giờ bình thường và một công tác khác trong giờ rảnh rỗi. Tỉ dụ có người làm thư ký ban ngày và làm ca sĩ vào ban tối. Nhiều người làm thêm để kiếm tiền hay làm theo sở thích trong những giờ tự do. Thế nhưng một nô lệ không có giờ tự do, mọi giây phút trong ngày, tất cả sức lực của anh ta thuộc về chủ. Anh ta không có thì giờ riêng nào. Cũng vậy, phục vụ Chúa không thể nào là một công việc bán thời gian hay công việc của giờ rảnh rỗi. Ai đã chọn phục vụ Chúa thì tất cả thì giờ, tất cả sức lực của người ấy đều thuộc về Chúa trọn vẹn. Chúa là chủ tuyệt đối trên mọi người chủ, chúng ta hoặc thuộc trọn vẹn về Chúa hay không thuộc về Ngài chút nào. 10. Chú giải mục vụ của Hugues CousinDỤ NGÔN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN KHÉO SUY TƯ VỀ TIỀN BẠC Ở đây cử toạ khác với cử toạ thù nghịch ở chương trên: Chúa Giêsu nói với các môn đệ, điều mà Ngài đã không làm từ 12,22-53. Lập tức Ngài kể một câu chuyện (16,1-8) và Ngài bổ túc phần giải thích bằng đôi lời ()cc.9-13. Dụ ngôn này có lẽ được gợi lên bởi một vài sự kiện khác nhau, thuộc vào số những dụ ngôn mà người ta hiểu rất sai; lấy làm gai hướng, người ta tự hỏi làm sao Chúa Giêsu có thể tán đồng những hành xử gian dối khi khen tên lừa đảo giả mạo giấy tờ. Chúng ta sẽ thấy đó không phải là cao điểm của câu chuyện, trong đó Chúa Giêsu xác định rõ ràng là tên quản lý bất lương (c.8). Nhưng để tránh mọi sự hiểu lầm như thế mà câu chuyện được tiếp tục bằng một giáo huấn về tiền bạc. Một nhà phú hộ có một đồn điền rộng lớn nghe được báo cáo bất lợi về người quản gia; ông gọi người này lại, bảo ngưng việc và trình sổ sách. Người quản gia lâm vào tình trạng bế tắc vì ông phải thất nghiệp, mà cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Nhưng ông biết xoay sở để bảo đảm tương lai; ông ta sẽ hành động cách khôn khéo để sẽ có người đón rước mình về nhà họ. Phần đầu này (cc. 1-4) làm ta phải nín thở chờ đợi xem người quản lý sẽ biết làm gì. Và đây, ông ta gọi các con nợ của chủ đến và đề nghị họ bớt những khoản nợ quan trọng. Khi người ta nợ 3.700 lít dầu mà được giảm 50% thì quá ngon rồi… Vài nhà Kinh Thánh nghĩ rằng: người quản gia chỉ bớt tiền lời, những món tiền hoa hồng, vốn thuộc về anh ta một cách khá hợp pháp; một cách giải thích như thế sẽ đi đến chỗ bào chữa cho cách hành xử của anh ta và luân lý hoá dụ ngôn rồi. Nhưng Luca không nghĩ như vậy: nếu người quản lý bất lương, gian dối (c.8) là vì anh ta tỏ ra hào phóng mà gây thiệt hại cho người thuê mướn anh ta! Và ông chủ khen anh ta, đó có lẽ là Chúa Giêsu chứ không phải người điền chủ đâu: Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Chúa Giêsu chấp nhận việc giả mạo chứng từ; phần cuối của câu 8 nói rõ rằng việc khen ngợi hướng về tính cách khôn khéo trong việc xử trí chứ không khen tính chất bất lương của hành động. Còn về tính cách khôn khéo trong những quan hệ hỗ tương, thì những con cái ánh sáng –các Kitô hữu thích gọi nhau như thế, sau khi đã trở nên rạng sáng nhờ nghe Lời Chúa (?Tx 5,5; x. Lc 11,34tt)- có thể rút kinh nghiệm từ con cái đời này, những kẻ không hề lo nghĩ đến chiều kích siêu việt của cuộc sống con người. Ngay cả khi những kẻ này hành động một cách bất lương, người tín hữu đích thực cũng biết rút ra một vài giá trị có thể hữu ích cho cuộc sống của mình. Bài học của dụ ngôn ở câu 8 lại được Chúa Giêsu giải thích qua lời kết luận thứ hai ở câu 9. Đó là một lời khuyên cho các môn đệ biết cách sử dùng tiền của một cách khôn khéo trong viễn tuợng Nước Trời. Nếu người quản lý bất công đã biết sử dụng của cải đời này để có bạn hữu và chuẩn bị cho tương lai của mình ở đời này, thì các Kitô hữu càng phải chuẩn bị tương lai vĩnh cửu của họ bằng cách chia sẻ với người nghèo bằng việc bố thí; như thế, các kẻ này sẽ tiếp nhận họ (x.14,14) vào thành đô của Chúa –tại đây những kẻ nghèo như đang ở trong nhà họ, phù hợp với các mối phúc 6,20tt. Như vậy, tỏ ra khôn khéo là xem Tiền bạc như một phương tiện chứ không như mục đích. Tiền bạc là bất công, lường gạt –người quản lý cũng được đánh gía như thế ở câu 8, bởi vì nó có thể trở nên thần tượng và bởi vì, so sánh với của cải Vương Quốc là của đích thực và bất diệt (x.12,33), nó có một giá trị bấp bênh và tạm thời: tất yếu nó sẽ vắng mặt vào ngày mà mỗi người chúng ta phải chết. Vương Quốc của Tiền bạc sẽ chấm dứt. Là kết luận thứ hai của câu chuyện người quản lý bất lương, câu 9 đưa ra hai áp dụng mới mà liên hệ với dụ ngôn có phần lỏng lẻo hơn. Áp dụng thứ nhất dùng để loại trừ mọi hiểu lầm và một cách dứt khoát ngăn cản người ta coi câu chuyện như một lời mời gọi thực hành thói xảo quyệt (cc.10-12). Trái với sự bất chính của người quản lý và Tiền bạc, áp dụng này đòi hỏi phải có sự trung tín được thực hiện từng ngày để quản lý của cải thiêng liêng cũng như vật chất. Nhờ ba điều tương phản, lời khuyên này có lẽ ưu tiên nói với những người có trách nhiệm trong các cộng đoàn Kitô hữu: sự trung thành phải có nơi những kẻ quản lý của cải vất chất lại càng cần thiết hơn đối với những kẻ có trách nhiệm về tài sản thiêng liêng của anh em mình. Được viết từ một dụ ngôn nhỏ và phần áp dụng (c.13) một giáo huấn cuối cùng còn nói đến những liên hệ với tiền bạc. Ai thờ nó và làm nô lệ nó không thể là con cái ánh sáng được. Từ khi Thiên Chúa đột nhập vào trần gian, con người được đặt trước một chọn lựa triệt để; qua việc sử dụng của cải người Kitô hữu phải tỏ ra mình chỉ thuộc về Thiên Chúa mà thôi. 11. Chú giải của R. GutzwillerDỤ NGÔN NGƯỜI QUẢN LÝ Trong các diễn từ tiếp theo, Chúa Giêsu nói đến việc sở hữu của cải. 1. Người quản lý tinh khôn Dụ ngôn này thường gây nhiều vấp phạm và người ta đang cố đề phòng gương mù trong khi lại trình bày thái độ của người quản lý tinh khôn như là được phép. Theo luật lệ thời đó, một chủ trại có thể làm gì tuỳ ý. Con cái sự sáng, trong vấn đề này, phải xử sự khéo léo như con cái trần gian: đây là điểm chính đích thực của dụ ngôn. Người quản lý không làm theo ý của chủ hay phục vụ quyền lợi của chủ, mà làm hại cho chủ. Xét về ích kỷ, thì đường lối người quản lý thật là tinh khôn. Y xử sự một cách quỷ quyệt, dầu hết sức giận dữ vì bị thiệt, người chủ vẫn phải khen hắn. Người quản lý sắp mất chức, không muốn làm việc tay chân vất vả, cũng không muốn đi hành khất. Cho nên y đành phải dùng mưu: lừa bịp ông chủ và gây thiện cảm với các con nợ. Những người này phải giúp lại hắn, ít là tạm thời, cho đến khi hắn kiếm được một địa vị tương tự. Sự khéo léo có tính toán đó có tính cách quan trọng. Con người được Thiên Chúa trao của cải vật chất để quản lý chúng. Họ phải sử dụng làm sao để khi gặp khó khăn, sa sút, sẽ có bạn bè trợ giúp. Hoàn cảnh đó chính là lúc chết. Khi đó, con người phải bỏ lại tất cả những gì lúc đó là sống còn đối với họ. Họ sẽ có những bạn hữu, nếu trước đó họ đã dùng của cải vật chất để giúp đỡ, biện hộ cho họ trước mặt Thiên Chúa, để họ được ‘đón tiếp vào chốn an nghỉ đời đời’. Đường lối sử dụng của cải khéo léo (dám nói được là xảo quyệt) không phải ở chỗ tăng thêm của cải bất cứ cách nào, hay ham lợi lộc, nhưng là thích cho đi hơn là nhận vào, giúp đỡ hơn là cậy nhờ người khác giúp đỡ. Càng sử dụng tốt của cải, người ta càng dùng nó để mưu cầu đời sau. ‘Bố thí’, một từ ngữ mà ngày nay chúng ta không thích và một cách nào đó lại diễn tả đúng sự kiện. Người thợ đòi hỏi công bằng chứ không xin bác ái. Tâm thức xã hội bừng tỉnh thì ý thức xã hội càng tinh tế… Người ta đòi phải có thù lao tương xứng với công việc chứ không xin bố thí với mục đích trợ giúp hay do lòng thương xót. Tuy nhiên, người sở hữu phải dùng của cải để làm việc thiện ngay cả khi họ không bị bắt buộc làm và chẳng mang lại lợi ích cho mình. Theo nghĩa này, thì bố thí cũng có giá trị của nó. Đức Kitô còn đưa ra một áp dụng khác. Ngài cho biết ai từng trung tín trong việc nhỏ, cũng sẽ trung tín trong việc lớn. 2. Quản lý thanh liêm. Người ta có thể sai lầm khi kết luận con người có quyền quản lý tài sản không theo ý chủ muốn. Một cách rõ ràng, Đức Kitô khẳng định ngược lại. Sự gì đã nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa thì phải sử dụng theo ý Chúa. Cả trong trường hợp nhận ít, lòng tín trung của chúng ta cũng được tưởng thưởng và Ngài sẽ ban thêm cho ta. Tài sản nhỏ nhoi dành cho con người quản lý là những sự vật ngoại tại và phàm trần: phương tiện sử dụng, sức mạnh thân thể và sức khoẻ, năng lực trí tuệ và các ơn thiêng liêng. Không nên đặt vấn đề: cái gì tôi ưa thích? Ước vọng của tôi thế nào? Tính khí và sở thích sẽ lôi cuốn tôi về đâu? Thiên hạ mong muốn gì, họ làm gì? Mối quan tâm duy nhất của tôi là: ‘điều nào hợp vơí ý Chúa, Đấng đã ban cho tôi những ơn đó để quản lý?’ Nếu biết hành động như vậy, người ta sẽ nhận được những điều cao trọng, siêu nhiên, đạo đức, những kho tàng ân sủng và ơn huệ Thánh Thần. Tuy nhiên, có ít người biết hướng đời sống và dùng các ơn siêu nhiên cũng như các năng lực để tìm Thánh ý Thiên Chúa! Rất ít người ý thức mình là người quản lý. Họ tưởng mình là chủ nhân, cho nên xử sự theo ý mình. Họ làm theo sở thích. Hành động của họ độc đoán. Trái lại, thái độ đạo đức phải có là lời chúng ta vốn cầu xin trong kinh Lậy Cha: ‘Ý Cha thể hiện’, đó là quy tắc xử thế của con người. Chỉ có như vậy, cuộc sống mới đổi thay được để nhằm mục tiêu phục vụ Thiên Chúa. Tiền bạc là một trong những cám dỗ lớn lao đối với con người, nó càng nguy hiểm hơn khi có sự trợ lực của ý muốn tự quyền và tình dục. Đó là lý do Đức Giêsu đòi hỏi một yêu sách bất khả nhượng và không thể châm chước. 12. Chú giải của Noel QuessonĐức Giêsu còn nói với các môn đệ rằng Dụ ngôn về “người quản gia bất lương” là một trong các câu chuyện gây tai tiếng mà người ta tìm thấy trong Tin Mừng, và các tín hữu chờ đợi với một nụ cười khẩy để biết nhà thuyết giáo làm thế nào để xoay xở với bài học về sự lừa bịp đó. Nhưng đó là một dụ ngôn, một “mâchâl”, một “câu đố “. Chứ không phải là một câu chuyện xây dựng trong mọi chi tiết của nó. Chúng ta, nhưng người chịu ảnh hưởng của tinh thần duy lý Tây Phương, chúng thích những chứng minh họp luận lý và đơn giản. Đức Giêsu lại hoàn toàn thoải mái sử dụng văn phong điển hình của những người kể chuyện phương Đông. Họ nháy mắt ra hiệu cho cử tọa, để yêu cầu người nghe đừng bỏ mất óc phê bình: “Nào, các bạn sáng suốt nhé! Hãy hiểu sự tinh tế ẩn giấu dưới nghĩa đen! Tôi làm bạn khó chịu, hẳn là thế, nhưng đó là cố ý: Các bạn đã bị nhiễm độc và mê man về đề tài quan trọng mà tôi đề cập đến thế sao...! Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông Một quản gia phung phí! Tất cả dụ ngôn sẽ diễn tiến trên ý tưởng “quản lý” này. Trong Luật Rôm, cũng như trong tâm thức thông thường, quyền “sở hữu” là “quyền sử dụng và lợi dụng cái gì thuộc về mình”: “Bởi vì cái đó thuộc về tôi, nên tôi làm gì tùy thích”. Trong quan niệm Kitô giáo, quyền tư hữu tư nhân thì khác hẳn: Chúng ta không thật sự là chủ sở hữu, nhưng chỉ là những “người quản lý” của cải vốn vẫn thuộc về tất cả mọi người? Học thuyết truyền thống này trực tiếp đến từ Đức Giêsu (chứ không phải từ chủ nghĩa cộng sản) và vừa qua đã được Công đồng Vatican II nhắc lại: “Thiên Chúa đã trao trái đất và mọi vật chứa trong đó cho con người sử dụng (Gaudium ét Spes, số 69). Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: ‘Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!' Tất cả những gì tôi phải “quản lý”: tài sản, đức tính, sự phong phú tâm linh, trì thục, đạo đức, những khả năng tình cảm của tôi. Người sẽ yêu cầu tôi phúc trình về chúng. Tôi không có quyền “phung phí” những ơn mà Thiên Chúa đã giao cho tôi và chúng vẫn luôn là các công việc “của Người”. Thiên Chúa không thích “sự phung phí”, đó là một sự xúc phạm những người đang thiếu thốn. Người quản gia liền nghĩ bụng: ‘Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!' Cuộc độc thoại nội tâm này bộc lộ rõ ràng sự bối rối của người quản gia. Anh ta phải có quyết định mau lẹ: Ngày mai sẽ quá muộn? Có lẽ trong một hoặc hai giờ nữa, anh ta sẽ bị “sa thải”. Phải hành động thật mau lẹ. Chúng ta đoán được đàng sau sự vội vàng ấy là sự khẩn cấp của thời mạt thế mà Đức Giêsu không ngừng nhắc nhở, quấy rầy những người đồng thời với Người. Chúng ta hãy hiểu cơ may của mình khi còn thời gian, nếu không chúng ta sẽ không có thới gian để “lật lại” như người ta vẫn nói, để thú thật bằng công thức lạ lùng là Người ta tiến tới trước nhưng đi ngược lại mục đích thật sự của chúng ta! Chúng ta phải khẩn cấp hoán cải, và quay về. Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: ‘Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?' Người ấy đáp: ‘Một trăm thùng dầu ô-liu.' Anh ta bảo: ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.' Rồi anh ta hỏi người khác: ‘Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?' Người ấy đáp: ‘Một ngàn giạ lúa.' Anh ta bảo: ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.' Sự gian lận này khéo léo đến ba lần: Không mất gì cả không để lại dấu vết, nó là bảo đảm chống lại mọi khám phá đột xuất bởi có thể có những lời đe dọa tố giác. Con người đã chẳng thay đổi kể từ Đức Giêsu. Về phần hai món nợ: bằng dầu và bằng lúa mì cũng rất điển hình ở Palestine. “Một trăm thùng dầu”, là thu hoạch trung bình của 150 cây ô-liu, tương đương với 365 lít dầu? “Một trăm bao lúa” là thu hoạch của 42 hecta ruộng sa, tương đương với 364 hecto lít lúa mì! Theo các chuyên gia, sự giảm nợ trong cả hai trướng hợp tương đương 500 ngày công trung bình. Ngày nay mỗi người có thể tính ra bằng tiền tổng số tiền gian lận. Về điểm này của câu chuyện, người nghe hẳn phải chờ đợi một sự kết án một cách mạnh mẽ và thích đáng từ phía Đức Giêsu. Chúng ta hãy nghe tiếp... Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại Chúng ta ngạc nhiên. Đức Giêsu ngợi khen người quản gia xảo trá ấy. Chốc nữa, chúng ta sẽ thấy lý do tại sao trong lời giải thích mà Người sẽ đưa ra. Tuy nhiên, chúng ta ghi nhận rang Đức Giêsu không tán thưởng sự lừa bịp của “người quản gia lừa gạt” hoặc người quản gia bất công” như bản văn Hy Lạp đã nói. Thật vậy, theo Đức Giêsu, anh ta thuộc về thế giới “bóng tối” mà thủ lãnh là Xatan (Ga 12,31) phải phân biệt với các con cái của “ánh sáng” (1 Thêxalônica 5,4-5). Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu Tạo lấy bạn bè! phát triển tình bạn! Đấy là lý lo của lời khen ngợi. Trong công thức này ở trọng tâm của bài dụ ngôn, Đức Giêsu đem lại cho chúng ta một bài học chủ yếu: Cách sử dụng tốt sự giàu có là dùng nó để tạo lấy bạn bè, đặt tình yêu thương vào các mối quan hệ. Đó còn là một quan niệm thật sự cách mạng về tiền bạc.Dùng tiền bạc như một phương tiện để chia sẻ và sống tình bằng hữu. Tiền bạc tự nó không xấu. Nó có thể tạo ra mềm vui cho những người khác, và do đó là niềm vui cho người nào đã góp phần vào niềm vui ấy khi “ban tặng”! Luca trong Tin Mừng của Ngài đã nhấn mạnh đến Đấng Mêsia của những người nghèo, nhiều hơn các thánh sử khác. Nước Thiên Chúa hầu như thuộc về họ đến nỗi những người giàu có chỉ vào được đó nhờ sự bảo trợ và giới thiệu của những người nghèo mà những người giàu có sẽ làm bạn. Bạn làm gì với tiền bạc của bạn? Câu hỏi đáng ngại. Tại sao không! Nhưng tốt hơn là “Tin Mừng” cho những người giàu có giờ đây biết mình có thể được cứu và bước vào “nơi ở vĩnh cửu” như thế nào, khi mà ở nơi đó tiền bạc của họ không còn nữa”. Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn, ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn Để kết luận cho câu chuyện cụ thể này, đây là những châm ngôn về tiền bạc mang tính mạc khải cao cả của tư tưởng Đức Giêsu. Và trước tiên, đối với Đức Giêsu tiền bạc là một “việc nhỏ” khi so sánh với “việc lớn” là Nước Thiên Chúa vĩnh cửu. Chúng ta có chấp nhận quan điểm đó không? Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? Trong khẳng định thứ hai này Đức Giêsu nói với chúng ta rằng tiền bạc thì “bất lương”. Đó là một cái bẫy chỉ đem lại sự an toàn giả tạo. Không nên tin vào tiền bạc (I Timôthê 6,17). Tính từ “bất lương” trở đi trở lại năm lần trong trang này. Đức Giêsu đã chới chữ. Người nói về “người quản gia bất lương” rồi giờ đây, Người nói về “tiền bạc' bất lương”. Từ này cũng thường được dịch là “người quản gia bất chính, bất hảo, bất công”... và “tiền bạc bất chính, bất hảo, bất công.. Trong linh hồn và trong ý thức, mỗi người được mời gọi để trả lời về tiền bạc của mình: Có bất hảo, bất công, bất chính không? Tiền bạc rất ích lợi, có thể được sử dụng một cách có lợi để tạo thành bạn bè cho mình, nhưng nó cũng có thể là một quyền lực của sự ác. Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em? Khẳng định thứ ba này có một cung cách hiện đại rất đáng kinh ngạc. Trước cả Các Mác, Đức Giêsu đã lên án “tha hóa” của con Người: Tiền bạc không phải là điều tốt lành thật sự cho chúng ta. Sự giàu sang không làm cho một người nên tốt lành, thông minh, hạnh phúc. Giá trị thật sự ở chỗ khác. Tiền bạc làm “tha hóa” chúng ta, nếu chúng ta để nó “chiếm đoạt” chúng ta. Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được Chữ ‘Tiền Của’ viết với một chữ hoa ở đây để dịch từ ‘Mam-mon’, một từ đáng khinh bỉ để chỉ một thần tượng vì nó mà người ta trở thành nô lệ. Bạn có là tù nhân bị tiền bạc xiềng xích, chiếm đoạt, đánh đòn với những lo âu về công việc. Đối với Đức Giêsu, không thể có bất kỳ thỏa hiệp nào: Hoặc là Thiên Chúa, hoặc là tiền bạc. Chúng ta hãy thú nhận chúng ta thường bị cám dỗ phục vụ luân phiên cả hai ông chủ: Thiên Chúa ngày Chúa nhật, cho phần rỗi của chúng ta và Thiên Chúa của các thương vụ, của hầu bao, lợi lộc sáu ngày còn lại trong tuần. Trong câu tiếp theo sau, Luca đã viết “Người Pharisêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giêsu Còn tôi? Có phải tôi cũng mặt sang mày sỉa? 13. Chú giải của Fiches DominicalesKHÔN KHÉO THẬT CỦA “CON CÁI ÁNH SÁNG” VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI: 1. Sự khôn khéo của người quản gia bất lương Chúng ta đang ở trong bối cảnh chung của cuộc hành trình đi lên Giêrusalem của Đức Giêsu. Ở đó, Người sẽ hiến mạng sống vì tình yêu đối với Chúa Cha và anh em mình. Đáp lại lời chỉ trích của nhóm Pharisêu và các kinh sư về thái độ của Người đối với những kẻ tội lỗi, Đức Giêsu vừa kể cho họ nghe 3 dụ ngôn về lòng thương xót. Ba dụ ngôn này là một trong những viên ngọc quý của Tin Mừng Luca. Trở lại với cử toạ là các môn đệ. của Người, giờ đây Đức Giêsu trao đổi với các ông về một số chủ đề gom lại với nhau bằng những “từ móc nối”: “tiền của bất chính”, “khôn khéo”, “tín nhiệm”. Bắt đầu là dụ ngôn người quản gia khôn khéo. Dụ ngôn này có thể được gợi lên từ một sự kiện nào đó trong đời thường. Thoạt đầu, dụ ngôn khiến chúng ta bỡ ngỡ vì nó mô tả một người quản gia, do cách quản lý lãng phí - “đã phung phá của cải nhà chủ “ - nên bị ông chủ cho nghỉ việc. Lao động chân tay thì không nổi, ngửa tay ăn xin thì xấu hổ, anh ta đã khéo xoay xở, để tới đâu chăng nữa, vẫn bảo đảm được tương lai: “Mình biết phải làm gì rồi “, anh tự nhủ. Thế là không một chút chần chừ, nhân vật của chúng ta cho gọi “từng con nợ” của chủ lại, và trước mặt mình, anh ta cho phép họ sửa lại số nợ. Đúng là dịp may ngàn năm một thuở, bởi vì thủ đoạn này cho phép giảm món nợ từ 100 phuy dầu xuống chỉ còn 50 (bớt khoảng 2000 lít), và từ 100 giạ lúa xuống chỉ còn 80 (bớt khoảng 6000 ký). Từ nay, mọi người đều đồng lõa với nhau giữ kín bí mật: đám con nợ dĩ nhiên sẵn lòng giữ thinh lặng để được hưởng mục vụ làm ăn quá lời; còn người quản gia thì an tâm “sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ”. 2. Một bài học cho “con cái ánh sáng” Chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo chắc chắn không phải vì cái trò gian lận kia. Nhưng vì tính khôn léo và nhanh nhạy đáng noi gương bắt chước của anh ta trước một tính thế khó khăn để bảo đảm tương lai cho mình. Mong sao “con cái ánh sáng”, tức là những môn đệ của Đức Giêsu, hãy học đòi nơi “con cái đời này”, để có được sự khôn khéo và nhanh nhạy tương tự trong việc ưu tiên chọn lựa Nước Trời, và phục vụ Thiên Chúa và anh em hơn tất cả mọi sự! J. Dupont giải thích: “Lên tiếng với đám đông hiếu kỳ và hoang mang, bất đinh, Đức Giêsu tìm cách làm cho họ hiểu rằng sứ mạng Người lệnh nhận từ nơi Thiên Chúa đang đem lại cho con người một thời cơ trọng đại, phải khẩn trương có thái độ chọn lưạ phù hợp với lời kêu gọi của Người. Người ta phải quyết định ngay đừng để quá muộn: hạnh phúc đời dời của mỗi người tuỳ thuộc ở đây” (“Assemblées du Seigneur”, số 56, trg 70-71). - Như vậy, bài học dụ ngôn muốn dạy đã rõ ràng sáng sủa. Đức Giêsu nói tiếp: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Nói cách khác, hãy xử sự khôn khéo làm sao để tiền của vật chất mà chúng ta chỉ là kẻ quản lý - không trở thành một sức mạnh thống trị và làm nô lệ con người, nhưng trở thành phương tiện phục vụ tình nghĩa anh em, củng cố tình liên đới và sự chia sẻ, xây dựng mối hiệp thông giữa con người với nhau. Tóm lại, theo nhận xét của H. Cousin, đây là một lời nhắn nhủ: các môn đệ phải biết cách sử dụng đồng tiền cho khôn khéo, theo viễn tượng của Nước Trời. Nếu người quản gia bất lương kia đã biết lợi dụng của cải trần thế để mua lấy bạn bè và phòng xa cho tương lai của mình trong cuộc đời này, thì người Kitô hữu càng phải biết chuẩn bị như thế nào cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau bằng cách chia sẻ mới người nghèo qua việc rộng tay làm phước, để sau này chính những người nghèo đó sẽ đón tiếp họ vào cõi phúc của Thiên Chúa... Xử sự khôn khéo chính là biết xem tiền bạc như phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Tiền là bạc, là gian dối... bơi vì nó dễ trở thành ngẫu tượng là so mới của cải chân thật là bất diệt trên Nước Trời, nó chỉ mang giá trị mong manh tạm bợ, đến ngày mỗi người chúng ta phải từ giã cuộc đời, xuôi tay bỏ lại tất cả khi ấy mới thấy rõ tiền của chẳng là gì cả Triều đại của đồng tiền rồi cũng phải chấm dứt” (L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 217). Rồi, Đức Giêsu kết luận bằng một câu châm ngôn theo kiểu triết lý khôn ngoan: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được!”. Giữa Thiên Chúa và tiền của không thể có chuyện bắt cá hai tay được! H. Cousin tiếp tục nhận xét: “Từ khi Thiên Chúa xuất hiện trên thế giới này người bị đặt trước một sự chọn lựa triệt để, qua cung cách sử dụng tiền của, người Kitô hữu phải chứng tỏ mình chỉ lệ thuộc vào một mình Thiên Chúa” (sđd, trg 218). BÀI ĐỌC THÊM: 1. Một trong những đoạn Tin Mừng bị hiểu sai nhiều nhất (“Missel Emmaus des dimanches”, trg 1113): Dụ ngôn người quản gia bất lương là một trong những đoạn Tin Mừng từng bị hiểu sai nhiều nhất: bao nhiêu người đã xem đây như bằng chứng Đức Giêsu cho phép làm điều bất lương! Trong khi lời tuyên bố sau cùng của Người rất rõ: “Người ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”. Người xót xa cho nhân loại bị đảo điên vì “tiền bạc gian dối “. Giá như con người biết khao khát tìm kiếm những phước lộc thiêng liêng giống như khi họ mê mải làm giàu? Hoặc ít ra họ biết sử dụng tiền của để xây dựng một chút tình liên đới! Chẳng lẽ tất cả khí khôn loài người chỉ để phục vụ cho lòng tham của cải vật chất thôi sao?”. 2. Sống chia sẻ, một chứng tá của đức tin hơn là một lối sống. (Mgr. L. Daloz, trong “Dieu a visité son Peuple”, Desclée de Brouwer, trg 123). “Đức Giêsu dạy cho chúng ta một lối sống mới. Người chỉ cho chúng ta một cách sử dụng đồng tiền độc đáo: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” và Người cắt nghĩa tại sao: “phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Vấn đề không chỉ đơn giản là một lời khuyên sống đạo đức. Vấn đề ở đây là phải biết cách sử dụng của cải trong tương quan vời cuộc sống vĩnh cửu. Gương người quản lý bất lương lén sửa lại các món nợ để tranh thủ thêm bạn hữu không nhằm khuyến khích một thái độ vụ lợi: chia sớt chút đỉnh tiền của để được vào thiên đàng. Qua chính điều Người nói, Đức Giêsu muốn chúng ta hiểu rằng “con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại”. Sự khôn khéo mà Người muốn dạy chúng ta không phải là một thứ tính toán bần tiện, nhưng là lời mời gọi phải sáng suốt phải thực sự là con cái ánh sáng. Đức Giêsu đề cập đến một thứ của cải đích thực “dành cho chúng ta”, đó là phụng sự Thiên Chúa: “không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ”. Sự giàu có thật vượt xa khỏi con người, nó ở nơi Thiên Chúa. Nếu chúng ta hiểu điều đó, chúng ta mới là con cái ánh sáng. Chúng ta phải tỏ ra thật khôn khéo, tỉnh táo để nhận ra những giá trị đích thực và sử dụng tiền của sao cho phù hợp với những giá trị đó. Sống chia sẻ không chỉ là một cách ăn ở tốt, nó còn là chứng tá của đức tin. Đức Giêsu muốn đổi mới cách chúng ta quan niệm và sử dụng mọi sự đời này. 3. Phải cảnh giác trước tiền của Người ta nói răng cho đến hôm nay, vị thánh được xem là gần gũi với gương mẫu Đức Giêsu nhất chính là Phanxicô Assisi, người đã kết duyên với Bà Chúa Nghèo. Và có thể nói tất cả sứ điệp của Đức Giêsu đều liên quan đến nhân đức Tin Mừng này. Nó nói nhiều về con người, tuy nhiên, có lẽ, nó cũng mạc khải cho biết về tấm lòng của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại ý tương của cha Varinon: Khó nghèo, Khiêm hạ của Thiên Chúa. Tôi chỉ xin lưu ý đến sự tương phản, hay đúng hơn là giằng co, khó dung hoà được trên cuộc đời này, giữa hai khía cạnh của ‘khó nghèo’. - Dĩ nhiên, Luca là người có lý hơn cả khi viết trong Tám Mối Phúc: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” không thêm gì sau đó, và cái vế sau đáng sợ “khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có”. Đúng là có một cái gì đó để làm cho con người ra hư hỏng nơi lòng ham muốn có của, thích vơ vét, gom góp. Nước Trời không thể mở ra cho những ai không cưỡng nổi lòng ham muốn. Nhưng Mátthêu đã bổ túc thêm bằng công thức rất quen thuộc: phúc thay ai, không phải có tinh thần, nhưng có tâm hồn nghèo khó. Nói cách khác: sửa đổi của Mátthêu có ý xác định hai điều. Trước hết, không bao giờ được phép biện minh cho sự nghèo nàn khốn cùng. Đó là điều xỉ nhục cho con người cũng như cho Thiên Chúa. Tiếp đến, phải coi chừng cách người ta tự nguyện khước từ của cải: động cơ thúc đẩy có thể là một thứ kiêu ngạo thầm kín. Madeleine Delbrêl đã thấy rõ điều đó khi tố giác một quan niệm lý tưởng hoá cái nghèo. Bà viết: “Nghèo không hẳn là điều hay”. Không muốn đi sâu vào những vấn đề kinh tế, với vô số chuyện phức tạp, tôi chỉ xin nói đơn giản thế này: phải luôn luôn cảnh giác trước tiền của, ngay cả khi tiền của đó không nhiều, để tránh tình trạng bị nó sai khiến. Tuy nhiên con người vẫn phải có vừa đủ để còn giữ được khả năng không bị tiền của sai khiến. Vẫn phải có một chút nào đó để có thể đi từ chỗ mình có đến chỗ mình là. “Còn Đức Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã không dành địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho chúng ta trở nên giàu có”. 14. Tên quản lý khôn khéoNghe xong dụ ngôn này chúng ta không khỏi thắc mắc tại sao Chúa Giêsu lại khen ngợi một kẻ xấu xa và bảo chúng ta nên bắt chước cách xử sự của hắn. Và nếu để ý chúng ta sẽ nhận thấy không phải chỉ lần này mà còn trong nhiều lần khác, Chúa Giêsu đã đề cập tới cách thức cư xử của người xấu kẻ ác: Chẳng hạn như khi so sánh việc phân xử của Thiên Chúa với một ông quan tòa bất chính, hoặc bảo chúng ta phải khôn ngoan như con rắn. Dĩ nhiên Chúa không bảo chúng ta noi theo lối sống bất công, hung dữ, xảo trá và lừa đảo, nhưng Chúa chỉ nói tới sự khéo léo của tên quản lý này mà thôi. Điều chính yếu là bài học mà Ngài nhằm tới: Hãy khéo léo phục vụ nước trời như con cái thế gian phục vụ các công việc của họ. Từ đó Chúa đưa chúng ta sang việc xử dụng tiền của cho phải phép. Tên quản lý được nói tới ở đây là một người quan trọng, giữ chức vụ lớn trong một nông trại, hắn được chủ trao phó cho việc xử dụng gia tài, nhưng hắn phải làm theo ý chủ. Việc phung phá tiền bạc là điều trái với ý chủ và phải được điều chỉnh lại. Ở đây, chủ không còn tín nhiệm hắn nữa vì hắn bị tố là kẻ bất lương, gian trá, lừa đảo và không đán tin cậy nữa. Trước sự kiện xảy ra, hắn đã suy nghĩ về tương lai và đã đưa ra những tính toán khéo léo. Hắn tỏ ra mình là một kẻ khéo làm, khéo xoay sở cả về phương diện tốt lẫn phương diện xấu. Chính sự khéo léo này lại làm cho hắn thêm bất lương hơn. Hắn giảm số nợ của những người vay mắc ông chủ: một trăm thùng dầu thì chỉ còn phải trả năm mươi thôi. Một trăm giạ lúa thì chỉ còn phải trả tám mươi thôi. Từ lề lối hành động của tên quản lý bất trung, Chúa nhận xét về thái thế nhân tình: - Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn ngoan hơn con cái sự sáng. Con cái đời này là những kẻ chỉ biết đến cuộc sống hiện tại và hoạt động nhằm đến những của cải vật chất mà thôi. Trái lại, con cái sự sáng là những người đón nhận tinh thần của Chúa, con cái đời này đã xử dụng mọi cách thức để đạt tới mục tiêu, vậy con cái sự sáng cũng phải biết xử dụng sự vật đời này một cách khôn khéo để chiếm lấy niềm hạnh phúc nước trời. Một sự vật đời này gần gũi và căn bản nhất, đó là tiền của. Tiền của, nếu không biết xử dụng, nó sẽ trở nên một ông chủ hà khắc, bóp chết những tình cảm kính mến đối với Thiên Chúa và yêu thương đối với tha nhân. Trái lại, nếu biết xử dụng đúng mực, nó sẽ đem lại nhiều lợi ích, chẳng hạn dùng tiền của để làm phúc bố thí cho kẻ nghèo, để tạo lấy những người bạn chân thành, một mai sẽ bênh vực cho chúng ta trước ngai tòa của Chúa. Đằng khác, tiền của còn là một vật trắc nghiệm lòng trung tín của các môn đệ đối với Chúa. Căn cứ theo cách thức xử dụng để biết các ông là những người trung tín hay phản bội, chân thành hay gian dối, vì ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn, ai gian dối trong việc nhỏ thì cũng gian dối trong việc lớn. Vậy nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ trao phó của chân thật cho các con… Nên nhớ rằng, chúng ta chỉ là những người quản lý, còn Chúa mới là chủ. Vậy chúng ta phải biết xử dụng tiền bạc và những phương tiện vật chất cho phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Để kết luận, tôi xin nhắc lại nơi đây một câu danh ngôn Tây phương, như một lời khuyên trong vấn đề xử dụng tiền bạc: - Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng cũng là một ông chủ hà khắc. 15. Tiền bạc của chúng ta làm Chúa quan tâmĐây có lẽ là một sự kiện nhỏ nhặt thú vị và Chúa Giêsu nắm lấy theo cách luôn luôn làm ngạc nhiên của Ngài. Chúng ta chờ đợi một bài học hay về sự bất lương, bởi vì Chúa Giêsu xem người quản lý là bất lương. Câu chuyện hoặc dụ ngôn kết thúc với hành vi lừa bịp cuối cùng: “Cầm lấy văn tự viết 80 thôi”. Nhưng hãy nhớ rõ rằng ở câu 8 bắt đầu lời phê bình của chính Chúa Giêsu, được chỉ rõ là “Chủ”, và đây là sự hốt hoảng: “Chủ khen ngài quản lý gian xảo”. Tố cáo sự bất lương thì rất dễ và tầm thường. Chúa Giêsu sắp dẫn chúng ta đến một lãnh vực độc đáo hơn: việc sử dụng tiền bạc một cách khéo léo. Bài học mở rộng đầu tiên: hãy là những người khéo xoay sở và lanh lợi. Hãy nhìn con người này trong tình thế tuyệt vọng, tai họa sắp rơi xuống đầu anh ta, anh ta chỉ còn vài tiếng đồng hồ để hành động, và anh ta sẽ hành động trong vòng một khắc đồng hồ. Hỡi các bạn là con cái sự sáng, hãy rút kinh nghiệm, đứng trước một vận rủi các bạn đừng ngồi đó mà than thở và do dự, hãy xông xáo như người quản lý khôn ranh này. Gian xảo ư? Phải, nhưng người ta yêu cầu chúng ta khá tế nhị, như ở đây chỉ để rút ra điều tốt trong thí dụ này và loại bỏ điều xấu mà thôi. Bài học thứ hai chính xác và quan trọng hơn, được đưa vào do công thức long trọng này: “Quả thật, ta bảo các ngươi”. Chúa dạy chúng ta cách đầu tư tiền bạc. Với thứ tiền quỷ quái này, chỉ có hai giải pháp: ném nó đi như Phanxicô Assisi, hoặc sử dụng nó một cách thông minh đến nỗi điều đó làm cho Chúa quan tâm. Kiểu nói rất trong sáng: “Hãy dùng tiền phi nghĩa mua lấy bạn bè, ngõ hầu khi hết của, họ sẽ chứa chấp các ngươi trong chốn đời đời”. Đây là lời khuyên những người giàu sụ chăng? Chắc chắn rồi, nhưng cũng là lời khuyên những người có tiền không sạch lắm ký gởi trong ngân hàng. Dầu sao đi nữa, thậm chí là tiền sạch, vào lúc lâm chung, tiền đó cũng bay biến đâu mất, người ta lên trời với hai bàn tay trắng. Trên trái đất, tiền bạc mở ra những cánh cửa và tạo thuận lợi cho các quan hệ. Lên trời rồi, không còn gì nữa cả! Nếu có loại tiền bạc nào làm Chúa quan tâm, thì đó là tiền bạc mà người ta chia sẻ trong tình yêu thương, và thậm chí được cho một cách khá điên rồ. Những người mà chúng ta đã giúp đỡ sẽ có mặt ở đó để nói lại với Đấng Tối Cao. Chúng ta không trắng tay nhưng được mặc lấy sự độ lượng một cách tuyệt diệu; không phải chúng ta không có những mối quan hệ, có những người tiếp đón chúng ta một cách vui vẻ; chúng ta không phải là những kẻ xa lạ với Chúa tình yêu, chúng ta chính là tình yêu. Biến tiền bạc thành tình yêu: thật là một sự đầu tư tuyệt vời! Nhưng thậm chí được câu truyện này tô điểm, bài học này vẫn còn tỏ ra rất khó khăn. Đây là lời kêu gọi chia sẻ, và chúng ta nhanh chóng tìm ra những lý do để chối từ lời kêu gọi đó. Có lẽ, sau việc Chúa Giêsu nhấn mạnh đến vấn đề tiền bạc ‘đánh lừa’, chúng ta sẽ cảm thấy rõ hơn cái nhìn của Thiên Chúa trên tiền bạc của chúng ta. Thiên Chúa không khinh chê điều gì trong cuộc sống chúng ta cả, mà là Ngài có sự tò mò đáng yêu: đứa con chín chắn của Ta sẽ đầu tư tiền bạc như thế nào? Chính việc chúng ta chọn lựa ngân hàng nào làm Ngài quan tâm. Ngân hàng ích kỷ hay ngân hàng tình yêu? 16. Nhận lãnh để trao banCó một nhà kia tính mời vài đạo sĩ tới lập đàn giải trừ tai nạn. Một đạo sĩ nọ tham lam, muốn một mình hưởng trọn số tiền chủ nhà trả ông, liền nhận bao thầu hết việc lập đàn cúng bái. Ông ta chẳng kể ngày đêm. Làm việc luôn tay luôn chân, không hề ngơi nghỉ. Cứ như thế đến ngày thứ ba thì kiệt sức, ngã vật ra đất. Chủ nhà sợ ông ta chết, mang họa, liền thuê người khiêng ông về miếu. Đạo sĩ nghe vậy, cố ngước đầu lên thì thào: Ông hãy đưa tiền thuê người cho tôi, tôi tự mình lần về miếu cũng được. Những người coi đồng tiền to lớn hơn mạng sống của mình, rốt cuộc cũng chẳng được gì. Thấu hiểu lòng ham mê tiền bạc của con người. Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người quản gia khôn khéo. Người khen ông quản gia khôn khéo không phải vì hành động bất lương của ông, nhưng vì ông biết lo xa cho tương lai của mình. Ông khôn khéo vì ông biết dùng tiền của tạm bợ để mua lấy bạn hữu. Nếu “con cái đời này” biết phải làm gì và làm cách nào đối với tiền của để lo liệu cho ngày mai, thì tại sao “con cái sự sáng” lại không biết sử dụng ơn Chúa ban trong hiện tại để lo cho phần rỗi của mình ở tương lai? Nếu người quản gia bất lương biết dùng tiền của bất chính để mua lấy bạn hữu, sao người tín hữu lại không biết sử dụng của cải phù du, chia sẻ cho người nghèo khó để mua lấy bạn hữu Nước Trời. Nếu người ta căn cứ vào cách dùng tiền của để biết được lòng người có trung tín hay không, thì tại sao chúng ta lại không “trung tín trong việc nhỏ” là sử dụng tiền của để bảo đảm cho ta của cải chân thật đời sau? Thật vậy, chúng ta không trở nên giàu có với những điều mình đã nhận lãnh, mà là với những điều mình đã trao ban. Tác giả Augier còn viết: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo”. Vì thế, chỉ khi nào biết quảng đại trao ban cho những kẻ thiếu thốn, chúng ta mới thực là những quản gia biết làm theo ý chủ, những quản gia trung tín và khôn ngoan. Chỉ khi nào biết coi tiền của là phương tiện phục vụ cho cùng đích là Nước Trời chúng ta mới thực sự “làm tôi Thiên Chúa”. Lạy Chúa, trong khi chúng con đang bôn ba tìm kiếm những của cải tạm bợ đời này, xin cho chúng con cũng biết khôn ngoan tích trữ cho mình gia tài vĩnh cửu là hạnh phúc Nước Trời. Amen. 17. Sử dụng của cảiĐây là một dụ ngôn khó giải nghĩa, nhưng tựu trung cuộc đời là một trường học mà ta có thể học được gương tốt nơi những người xấu. Câu chuyện bao gồm những tên lưu manh mà người ta có thể gặp bất cứ ở đâu. Tên quản gia này là một tên lưu manh. Hắn vốn là một nô lệ, tuy vậy hắn được giao trách nhiệm điều hành gia sản của chủ. Tại Pa-lét-tin có nhiều địa chủ vắng mặt ở lãnh địa của mình nên tất cả công việc của ông được trao vào tay người quản gia của ông. Tên quản gia trong câu chuyện này đã ăn cắp khéo léo. Các con nợ cũng là những tên lưu manh. Chắc chắn món nợ của họ là tiền thuê đất. Thuê đất ở Pa-lét-tin thường được trả cho chủ đất không phải bằng tiền mặt mà mà bằng hiện vật, thường là một phần hoa lợi của đám đất cho thuê. Quản gia này biết rằng hắn đã mất chức quản gia, vì thế nảy ra một sáng kiến. Hắn ghi sổ một cách gian lận để các con nợ được trả ít hơn cho chủ. Điều này có hai công hiệu. Thứ nhất, các con nợ phải mang ơn hắn. Thứ hai, còn có hiệu lực hơn, là hắn làm cho cùng liên luỵ về hành động gian manh của hắn, và nếu lâm vào tình trạng bế tắc thì hắn ở vào một thế mạnh để thực hiện những vụ tống tiền: kiểu bút sa gà chết. Chính chủ hắn cũng là một thứ lưu manh nữa, bởi vì, thay vì khó chịu về hành động này, ông ta lại khen nó thông minh. Điều khó giải thích trong dụ ngôn này là Luca đã gồm vào đó bốn bài học khác nhau: 1) Con cái đời này tỏ ra không khéo với đời hơn con cái sự sáng. Điều đó có nghĩa là nếu các ki-tô hữu chúng ta cũng hăng hái không khéo trên đường hành đạo như người đời khéo tìm của cải tiền bạc thì tốt biết bao. Nếu người ta chú tâm đến linh hồn cũng như việc buôn bán làm ăn thì họ đã tốt hơn nhiều. Nhưng thật ra người ta luôn luôn để nhiều thời giờ, tiền bạc, công sức vào những lạc thú, vui chơi đời này gắp hai mươi lần hơn vào các công việc Hội Thánh của mình. Một vị linh mục được mời giảng cho một nhà tù, ngài đề cập đến giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan đến việc báo thù: “Khi có ai vả má bên phải ngươi, hãy chìa luôn má bên kia cho hắn.” Để minh hoạ bài học ngài kể câu chuyện về Jackie Robinson, lực sĩ da đen đầu tiên thi đấu trong đội tuyển chính. Khi ông bầu Branch Rickey ký hợp đồng với Jackie, ông bảo: “Anh phải xơi mọi thứ họ dọn cho anh và đừng bao giờ phản kháng lại nhé!” Ông bầu thật có lý. Trong sân các cầu thủ giao banh cho anh cách thô lỗ, còn đám cổ động viên và đội bóng đối nghịch thì chế nhạo anh. Ra khỏi sân banh, anh bị khai trừ khỏi các khách sạn và nhà hàng, đang khi các cầu thủ khác được ở lại và ăn uống tại đó. Dầu vậy, Jackie vẫn luôn giữ được bình tĩnh, anh vẫn “chìa cả mà kia ra”, và cả ông bầu Branch cũng làm như thế khi bị công chúng chỉ trích, vì cho một tên da đen gia nhập đội bóng. Kể xong câu chuyện, vị linh mục đặt câu hỏi: “Các bạn thử nghĩ coi, các lực sĩ da đen ngày nay sẽ ra thế nào nếu Jackie và Branch không chìa má kia cho người ta tát?” Ngay sau cuộc nói chuyện, một tù nhân tiến lại nói: “Câu chuyện cha kể khá thú vị, nhưng sao cha không đề cập đến toàn thể câu chuyện, không nêu lên lý do tại sao ông bầu và gã cầu thủ da đen lại chấp nhận chìa má bên kia ra? Đâu có phải họ yêu mến Chúa mà vì ham tiền mà thôi. Branch chìa luôn má bên kia vì ông ta sẽ ký hợp đồng được với tất cả các lực sĩ da đen giỏi nhất trong nước và ông sẽ giàu to; Còn Jackie thì chịu chìa má kia vì chẳng qua anh ta cũng kiếm được khối bạc nếu anh thành công!”. Vị linh mục ngẫm nghĩ: “Nếu gã tù nhân này có lý thì câu chuyện của mình hỏng mất.” Nhưng tức khắc ngài nghĩ lại, câu chuyện vừa nói lên hai điều quan trọng hơn nữa: “Con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng trong việc làm ăn của chúng.” Thì ra, người thế gian biết chịu khổ chịu cực để được những phần thưởng trần thế, là những thứ chỉ tồn tại trong ít năm, trong khi các Kitô hữu chúng ta không dám gian khổ để đạt được phần thưởng vĩnh viễn trên trời. Đạo của chúng ta chỉ trở thành hiện thực và hữu hiệu khi nào chúng ta đầu tư vào đó nhiều thì giờ, sức lực như vào các việc thế tục. 2) Của cải vật chất nên dùng để giữ gìn tình bạn. Điều này có thể làm trong hai cách. a/ Làm việc đó cho đời sau, các rabbi Do thái có câu: “Kẻ giàu giúp kẻ nghèo ở đời này, nhưng kẻ nghèo giúp kẻ giàu trong đời sau.” Khi chú giải truyện người giàu ngu dại xây kho vựa lớn hơn để tích trữ của cải, thánh Ambrosiô có nói: “Bụng của người nghèo, nhà của bà goá, miệng của trẻ nhỏ là những kho vựa còn mãi đời đời.” Người Do thái tin rằng của bố thí cho kẻ nghèo được ghi vào trương mục đời sau của kẻ cho. Sự giàu có thật của con người không tuỳ những gì mình nắm giữ, nhưng ở những gì mình cho đi. “Thương xót kẻ khó nghèo là cho Đức Chúa vay mượn, Người sẽ đáp trả xứng đáng việc đã làm.” (Cn 19,17) b/ Làm việc đó cho đời này. Người ta có thể dùng của cải một cách ích kỷ, hoặc có thể dùng để giúp cho đời sống dễ chịu hơn, không những cho mình, mà còn cho bạn bè những người chung quanh mình nữa. Biết bao nhà học giả đời đời mang ơn một người hằng tâm hằng sản đã dùng tiền bạc mình để giúp học bổng cho kẻ khác có điều kiện theo đuổi việc học. Biết bao người đã mang ơn một người bạn giàu có đã tài trợ họ trong cơn túng cực một cách thực tế. Tự bản chất của cải không phải là tội lỗi, nhưng là một trách nhiệm lớn, và người nào dùng của cải để giúp đỡ bạn bè, kẻ ấy đã làm trọn trách nhiệm của mình. 3) Trung thành trong việc nhỏ dẫn đến trung thành trong việc lớn. Dựa vào cách thi hành việc nhỏ, qua đó, sẽ chứng tỏ người đó có xứng đáng hay không xứng đáng để trao phó những việc lớn. Điều này đúng trong các việc đời này, không ai được cất nhấc lên địa vị cao hơn, nếu lúc ở địa vị thấp, người đó đã không chứng tỏ được khả năng và lòng ngay thẳng. Nhưng Chúa Giêsu đã áp dụng nguyên tắc đó vào đời sau. Ý Ngài dạy: “Ở thế gian các ngươi chịu trách nhiệm về những của cải không thực sự thuộc về mình. Các ngươi không thể mang theo mình những của cải đó khi chết. Những của cải đó chỉ cho các ngươi vay mượn. Các ngươi là người quản lý các của đó, vì theo bản chất, những của cải đó không phải là của các ngươi vĩnh viễn. Nhưng trái lại ở trên trời các ngươi sẽ được những của cải thuộc về các ngươi một cách thiết thực, có tính vĩnh viễn và bất di dịch. Nhưng của cải mà các ngươi sẽ được ở trên trời lại tuỳ theo cách các ngươi dùng của cải dưới đất. Của cải mà các ngươi sẽ được làm tài sản riêng trên trời tuỳ theo cách các ngươi sử dụng những của cải mà các ngươi chỉ làm quản lý.” 4) Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ. Chủ chiếm hữu nô lệ cách tuyệt đối. Ngày nay thì đầy tớ hay lao công có thể làm công việc cách dễ dàng và có thể làm việc cho hai chủ. Anh ta có thể đảm nhận một công tác trong giờ bình thường và một công tác khác trong giờ rảnh rỗi. Tỷ dụ có người làm thư ký ban ngày và làm nhạc sĩ ban đêm. Nhiều người làm thêm để kiếm tiền hay làm theo sở thích trong những giờ tự do. Thế nhưng một nô lệ không có giờ tự do, mọi giây phút trong ngày, tất cả sức lực của anh ta thuộc về chủ. Anh ta không có thời giờ riêng nào. Cũng vậy, phục vụ Thiên Chúa không thể nào là một công việc làm bán thời gian hay công việc của giờ rảnh rỗi. Ai đã chọn sự phục vụ Chúa trọn vẹn. Thiên Chúa là chủ tuyệt đối trên mọi người chủ, chúng ta hoặc thuộc trọn về Chúa hay không thuộc về Ngài chút nào. 18. Người nghèoCó một điều làm tôi ngạc nhiên, đó là Kinh Thánh đề cập rất nhiều đến tiền bạc. Thời bấy giờ, nền kinh tế của dân Do Thái còn lạc hậu, người ta trao đổi với nhau bằng hàng hóa, và tiền bạc chưa chiếm được một địa vị quan trọng và cần thiết như ngày hôm nay, bởi vì ngày hôm nay có tiền mua tiên cũng được, trái chẳng có tiền thì mọi sự đều xôi hỏng bỏng không… Sở dĩ Kinh Thánh luôn đề cập đến tiền bạc là để lột mặt nạ cho chúng ta thấy rõ sự bất công của những kẻ tham lam, cũng như sự bóc lột của những kẻ quyền thế. Thực vậy, qua bài đọc thứ nhất, tiên tri Amos đã nghiêm khắc cảnh cáo họ: - Hãy nghe đây, hỡi những kẻ đàn áp người nghèo khó và muốn hủy diệt hết những người bần cùng trong cả nước. Các ngươi giảm đấu đong, tăng giá bán và làm nên những chiếc cân non. Các ngươi lấy tiền mua người nghèo khó, lấy đôi dép mà đổi lấy người túng thiếu. Các ngươi bán lúa mục nát. Thế nhưng, Thiên Chúa sẽ không quên lãng và những hình phạt khủng khiếp sẽ được giáng xuống trên các ngươi. Cùng một tiếng chuông cảnh tỉnh ấy đã được vang lên qua đoạn Tin mừng hôm nay. Đúng thế, Chúa Giêsu đã không khen ngợi những tính toán mờ ám của tên quản lý bất lương, nhưng Ngài chỉ khen ngợi sự khôn ngoan, bình tĩnh và tiên liệu của hắn. Từ đó, Ngài muốn nói với chúng ta rằng: - Các con hãy dùng tiền bạc gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ tiếp đón các con vào chốn an nghỉ đời đời. Chúa Giêsu muốn chúng ta có thái độ siêu thoát đối với tiền bạc và nhất là chỉ coi nó như phương tiện đem lại lợi ích cho chúng ta, chứ đừng coi nó như mục đích, để rồi quá dính bén, khiến nó chi phối đời mình. Ngài cũng quả quyết: - Các con không thể làm tôi hai chủ, vì nếu mến chủ này thì sẽ ghét chũa kia. Cũng vậy, các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của được. Đúng thế, nếu làm tôi Thiên Chúa, chúng ta sẽ trở nên những người con của Ngài. Còn nếu làm tôi tiền của, chắc chắn chúng ta sẽ bị hư mất. Đức Tổng giám mục Camara là một người phát ngôn bảo vệ quyền lợi của hằng triệu người nghèo túng ở Nam Mỹ. Họ bị giới chủ nhân bóc lột. Mà giới chủ nhân ở đây là những ai? Đó là những Kitô hữu, sống phè phỡn trên xương máu của những người bất hạnh. Những bài diễn thuyết của ngài thường gay gắt chỉ trích họ, khiến nhà cầm quyền Brasil toan bắt giam ngài, nhưng cũng chính lúc đó, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã đặt ngài lên chức vụ Hồng y, như để long trọng xác định lập trường đấu tranh của ngài là chính đáng và đúng đắn, cũng như để nói lên tinh thần liên đới và chia sẻ của mình. Trong một bức thư, đức Hồng y Villot đã viết như sau: “Chúng ta phải cố gắng chống lại mọi hình thức bất công, cũng như phải cố gắng phát triển con người toàn diện. Là Kitô hữu, chúng ta phải tự hỏi xem chúng ta có trung thành với những đòi hỏi của đức tin hay không?” Người nghèo đã chiếm một chỗ đứng quan trọng trong Kinh Thánh. Sự nghèo túng của họ không phải là kết quả của sự lười biếng, mà là kết quả của những bóc lột và tham vọng bất chính. Vì thế, một ngày nào đó, Chúa sẽ làm cho đảo lộn, như trong lời kinh “ngợi khen”, Mẹ Maria đã xác quyết: - Phận đói nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giàu có, đuổi về bàn tay trắng.
19. Hai chủMột nhật báo bằng tiếng Pháp đã có một bài bình luận như sau về đời sống của những người Kitô: Phúc âm của các người là một vũ khí mạnh sức hơn triết lý Các-mác của chúng tôi. Tuy nhiên, nếu cứ theo tình trạng này về lâu về dài, chúng tôi sẽ chiến thắng trên các người. Vì làm sao người ta có thể tin vào Phúc âm được, nếu các người không thực sự sống Phúc âm đó. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu các người không chịu hy sinh thời giờ, tiền bạc cho chính nghĩa Phúc âm thì làm sao có người tin vào Phúc âm; nếu các người không chịu cực, các người không chịu xắn tay lên hành động cho Phúc âm. Những nhận xét trên không khỏi đánh động chúng ta và làm chúng ta xét lại chính nếp sống của mình. Dụ ngôn Chúa Giêsu kể về người quản lý bất trung được nhắc lại trong bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay mà chúng ta vừa đọc lại cũng tích chứa cùng một sứ điệp thức tỉnh chúng ta. Chúa Giêsu không khen người quản lý bất trung, không đề cao nếp sống của người quản lý bất trung cho chúng ta noi theo, nhưng Ngài cảnh tỉnh chúng ta phải tránh thói khôn ngoan tinh xảo của người đời. Nội dung chính của Lời Chúa dạy qua dụ ngôn trên hệ tại ở điểm so sánh. Người quản lý bất trung đã vận dụng những khả năng của anh như trí óc, khôn khéo, chịu khó nghiên cứu kế hoạch để mưu cầu điều lợi cho bản thân anh. Cuộc đời của anh chỉ hướng duy nhất về điều này mà thôi là “sống vì tiền của”. Chịu làm nô lệ cho tiền của, vận dụng mọi khả năng của mình để tôn thờ tiền của, đó là con cái đời này khôn ranh, siêng năng, chịu khó hơn con cái sự sáng. Chúa Giêsu không khen người quản lý khôn ranh, nhưng qua lối so sánh, Chúa Giêsu muốn chúng ta, những người đồ đệ của Ngài, những con cái sự sáng biết tích cực dấn thân phụng sự Chúa với sức hăng say, với sự hy sinh. Hy sinh thời giờ, tiền của với việc kiên trì làm điều tốt để thực thi Phúc âm Chúa. Chúng ta có Phúc âm, có sự thật được Chúa mạc khải, nhưng nếu chúng ta có thái độ ù lì, không tích cực xắn tay áo lên chịu cực, chịu hy sinh để thi hành Lời Chúa thì chúng ta đáng Chúa trách là thua xa người quản lý bất trung trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay. Một cách cụ thể hơn, hôm nay tôi muốn nhắc lại nơi đây một điểm trong nội dung của bức thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Bức thư trình bày đường hướng mục vụ trong bối cảnh mới là đối thoại. Yêu thương và phục vụ anh chị em. Một đường hướng rất hay, nhưng đòi hỏi nhiều can đảm dấn thân thi hành thực sự những gì cần được trình bày trong đó. Nói theo ngôn ngữ của tờ báo vừa được trích dẫn trên thì đây là thứ vũ khí mạnh hơn triết lý của Các-mác. Đây là tinh thần Phúc âm cần được mỗi người đồ đệ của Chúa tại Việt Nam trước tiên noi theo. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lưu ý rằng, để thực hiện chương trình đối thoại, yêu thương và phục vụ anh chị em thì mọi thành phần dân Chúa, mỗi người cần phải kiên trì, can đảm đổi mới. Các Giám Mục Việt Nam đã viết như sau: “Đổi mới bản thân là điều căn bản để có thể yêu thương và phục vụ”. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến đổi mới lòng đạo, nội lực của chúng ta là lòng tin, lòng mến được Thiên Chúa ban cho. Lòng đạo đức thật theo thánh Giacôbê là yêu thương phục vụ người nghèo khổ và giữ mình đừng vướng vào những thói xấu của thời đại. Thánh Phaolô cũng cho thấy ý Chúa là yêu thương, là phục vụ nhau. Lời Chúa, những bí tích và đời sống cầu nguyện là những phương thế hữu hiệu giúp đổi mới bản thân. Chuyên tâm đọc, suy niệm và thực hành Lời Chúa, chuyên cần lãnh nhận các bí tích một cách sốt sắng, cầu nguyện kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa sẽ thanh luyện ta khỏi thói ích kỷ, đem lại cho ta nguồn sức mạnh để quảng đại phục vụ quên mình theo gương Chúa Giêsu Kitô. Để thực hiện những điều này mà thôi theo lời dạy của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong bức thư chung này chúng ta cần phải cố gắng, cần phải vận dụng hết sức mình lên. Hôm nay, trong thánh lễ này chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta có được nội lực, có được sự khôn ngoan và tích cực dấn thân thực hành Lời Chúa. Xin Chúa giúp mọi người chúng ta trở thành những người quản lý tốt ân sủng mà Chúa ban cho chúng ta. Xin Chúa đồng hành với chúng ta trong giai đoạn mới của lịch sử tại Việt Nam, để chúng ta mỗi ngày một trưởng thành hơn trong đức tin, đức cậy và đức mến. Đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.
20. Hai chủBài đọc I của Chúa nhật hôm nay được trích từ sách tiên tri Amos và bài Tin Mừng trình bày cho chúng ta hai mẫu người, hai nếp sống trái ngược nhau. Mẫu sống của con cái thế gian, tức là con cái của sự tối tăm và mẫu người sống của những con cái Thiên Chúa, con cái sự sáng. Nếp sống của con cái thế gian, những kẻ làm nô lệ cho của cải vật chất, tôn thờ tiền tài được nhắc đến nơi bài đọc I. Họ muốn đề cao tiền tài và coi thường tha nhân, chỉ nghĩ đến việc buôn bán kiếm lợi. Trong ngày nghỉ, ngày dành cho Giavê Thiên Chúa thì họ không nghỉ ngơi mà âm mưu làm sao để khi ra bán hàng họ sẽ kiếm lợi thêm nữa, nên họ dùng thời gian nghỉ lễ, dùng ngày của Chúa để giảm lường đong, tăng giá, làm cân giả. Họ là những con người chỉ nghĩ đến tiền bạc lợi lộc. Mẫu sống của con cái thế gian còn được làm nổi bật hơn nữa trong bài Phúc âm kể về dụ ngôn người quản lý bất trung, mánh mung, phung phí tài sản của chủ để làm lợi cho bản thân. Trong cuộc đời, họ chỉ nhận điều gì làm lợi cho họ mà thôi, do đó Thiên Chúa không còn trong tư tưởng, trong tâm hồn, trong nếp sống của họ nữa. Kể lại dụ ngôn về người quản lý bất trung này, Chúa Giêsu không có ý đề cao nếp sống của người quản lý bất trung cho các môn đệ noi theo, nhưng là để cảnh tỉnh các môn đệ qua một lời trách khéo: “Con cái thế gian khôn lanh hơn con cái sự sáng”. Chúa có ý cảnh tỉnh các môn đệ của Ngài không được ù lì làm biếng và thụ động. Con cái thế gian tìm đủ mọi cách để có danh vọng, làm sao giây phút hiện tại có lợi cho tương lai sắp đến, và để đạt đến mục tiêu này họ không ngại dùng những thủ đoạn mánh mung để làm lợi cho mình. Phần Chúa Giêsu, Ngài nhắc khéo cho các môn đệ như sau: “Chúng con không được làm tôi hai chủ, tức là vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của”. Môn đệ Chúa cần dứt khoát chọn Chúa, sống theo giáo huấn của Ngài với hết sức dấn thân và nhiệt tâm. Cần phải chọn Thiên Chúa trước hết và mọi sự khác như của cải vật chất hoặc ngay cả mạng sống cũng cần phải sử dụng theo mục tiêu là để giúp chiếm đoạt được Chúa, đạt được cùng đích cuối cùng của đời sống con người: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì, người ta lấy gì mà đổi được linh hồn mình”. Hãy tìm nước Thiên Chúa trước và tìm với hết sức mình, hết sức nhiệt tâm, hết nghị lực và hết tinh thần, không được ù lì thụ động. Phải ước mong Chúa làm khát vọng duy nhất cho cuộc đời mình. Thiên Chúa muốn chúng ta làm người quản lý tốt của cải, dùng hết khả năng Chúa ban để làm sinh lợi những khả năng, những nén bạc Chúa trao cho, sao cho sáng danh Chúa và mưu ích cho anh chị em. Trong dụ ngôn được Chúa Giêsu kể và ghi lại nơi Phúc âm thánh Luca hôm nay chúng ta nhận thấy rằng, người quản lý xấu dùng tài trí của mình và tiền của của chủ để tạo ra bạn bè mới. Liên kết với của cải trong mục đích hưởng lấy những lợi lộc trần gian, đó là lối hành xử của con cái thế gian. Con cái sự sáng cần phải có lòng hăng say, sử dụng tốt những gì Chúa ban cho để làm cho đời sống con người được cứu rỗi, được nâng cao, xứng đáng với phẩm vị làm con cái Thiên Chúa. Nếu sống vì tiền bạc, danh vọng, tìm cách lạm dụng và khử trừ người nghèo, tránh xa người nghèo, làm như thế là họ không phải là con người, không phải là con cái Thiên Chúa nữa. Bởi vì, con cái sự sáng không bao giờ được làm như vậy. Ngược lại, họ cần phải sử dụng tài năng Chúa ban, kể cả của cải vật chất để làm sáng danh Chúa và mưu ích cho anh chị em, phục vụ kẻ nghèo chứ không loại trừ người nghèo. Người quản lý tốt không lợi dụng cũng không phung phá tài sản của chủ: “Ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn”. Trong tất cả mọi sự hãy tìm gặp Chúa trước hết. Chính trong viễn tượng này mà chúng ta nhớ lại lời cầu nguyện sau đây được trích lại trong sách giáo lý mới: “Lạy Chúa, xin ban cho con tất cả những gì giúp con đến gần Chúa. Xin hãy cất khỏi con tất cả những gì làm con xa Chúa. Xin hãy giải thoát con khỏi cái tôi ích kỷ, tham lam tiền của để con biết dâng toàn thân cho Chúa”. Chúng ta hãy cầu nguyện như vậy hằng ngày và xin Chúa giúp chúng ta sống được như vậy để luôn trung thành với đức tin vào Chúa.
21. Tiền củaDụ ngôn của bài Tin Mừng khá dí dỏm và linh động, kể chuyện một người quản lý đang đứng trước một tương lai đen tối: sắp bị đuổi việc, nên ông ta đã nghĩ ra một kế hoạch rất khôn khéo, có thể nói là láu cá, mánh mung hay gian xảo để thủ lợi khi thất nghiệp sẽ có người trả ơn mình, giúp đỡ mình. Khi kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý dạy chúng ta gian xảo như người quản lý ấy, nhưng Chúa muốn chúng ta phải nhanh trí khôn, biết ứng phó kịp thời với hoàn cảnh, nhất là tìm được những bảo đảm cho tương lai, mà tương lai quan trọng nhất là cuộc sống đời sau. Vì thế, sau khi kể xong dụ ngôn, Chúa Giêsu đã đưa ra những giáo huấn của Ngài về vấn đề tiền của. Tất cả những tiền của trần gian chỉ là những thứ vô tri giác, Thiên Chúa ban cho con người hưởng dùng để xây dựng, thăng tiến mức sống, đồng thời phát triển tình người, liên kết yêu thương. Nên tiền của trần gian chỉ là một thứ trung gian, là phương tiện con người phải biết sử dụng cho đúng, hợp tình hợp lý, khôn khéo và hữu ích để được ấm no, hạnh phúc ở đời này và nhất là để đạt tới kho tàng đích thực là Nước Trời. Tiền của, vàng bạc là những thứ đem lại giàu sang, sung sướng nhưng đồng thời cũng là nguyên do những phản bội, tráo trở, thất nhân, thất đức, bôi đen lòng người, như câu trong sách nho: “Hoàng kim hắc thế tâm”. Nhưng trong thực tế, thường con người lại có những quan điểm trái ngược, đề cao giá trị đồng tiền, coi đồng tiền là tất cả, là vạn năng: - Có tiền mua tiên cũng được. - Tiền không chân xa gần đi khắp. - Có tiền chán vạn người hầu. - Có bấc có dầu chán vạn người khêu. - Mạnh vì gạo, bạo vì tiền… Shakespeare cũng đồng ý rằng: “Tiền đi trước thì mọi con đường đều rộng mở”. Hoặc như tục ngữ Pháp có câu: “Một người không tiền là một con sói không răng”. Ngày nay người ta nói: “Đồng tiền là tiên là phật. Là sức bật của thanh niên. Là sức khỏe của tuổi già. Là cái đà của danh vọng. Là cái lọng để che thân”. Tuy nhiên, trên đây chỉ là những nhận định phiến diện về giá trị của đồng tiền. Những quan niệm xuất phát từ những giao tế, những công ăn việc làm do thiếu đồng tiền, cũng có thể do những yếu tố khác, nhưng người ta không nhận ra mà phải đón nhận những tráo trở, thất bại, ê chề. Nhưng còn trường hợp con người sa đọa, tội lỗi, hư hỏng, vì dưa thừa tiền bạc, phủ phê vật chất thì sao? Hoặc những gia đình giàu có nhưng sống ngột ngạt, bất hòa thường xuyên, chúng ta giải thích thế nào? Bởi vì tiền là bạc. Bạc không chỉ là một loại quí kim, mà còn có nghĩa là bạc bẽo, bạc tình, bạc nghĩa. Vì tiền mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất chồng, mất bạn hữu, mất họ hàng. Nguyễn Du trong thi phẩm Kim Vân Kiều đã phải thú nhận: “Trong tay đã sẵn đồng tiền, dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì”. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chua xót nói rằng: “Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử. Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”. Cho nên, đầy đủ và trung thực nhất, phải là một nhận định hai chiều: “Tiền bạc chỉ là tên đầy tớ tốt, chứ không thể là ông chủ tốt được”. Và xa hơn, hỏi rằng đau khổ, cái chết, đồng tiền có chiến thắng được không? “Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng. Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Vì thế, là những Kitô hữu xác tín có một đời sau, có một kho tàng đích thực đang chờ đón, chúng ta có thể chấp nhận và sống theo châm ngôn: “Đồng tiền là vạn năng”? Cũng bị ràng buộc, nô lệ cho đồng tiền không? Chúng ta hãy đặt tiền của trở về đúng vị trí, khả năng của nó, chứ đừng phóng đại lên thì mới hy vọng có một thái độ, cách cư xử đúng mức đối với tiền của trong tương quan với tha nhân. Vấn đề vô cùng phức tạp và qui mô. Ở đây, chúng ta thử nêu vài nhận xét, ví dụ nho nhỏ trong phạm vi gia đình. Kinh nghiệm cho thấy trong gia đình, thường xuyên xảy ra những cãi cọ, xích mích chỉ vì mất mát, hư hỏng, những chia sẽ không đều. Vì tiền bạc, vợ chồng xào xáo lẫn nhau. Vì tiền bạc, anh em xa cách nhau do cha mẹ phân biệt đứa này làm nhiều tiền, đứa kia làm ít tiền. Ra đến xã hội, vấn đề còn phức tạp hơn nhiều. Không lạ gì mà người ta cứ quay cuồng lên vì đồng tiền, sẵn sàng làm tất cả vì đồng tiền. Tiền của đã trở thành một cực hút rất mạnh như một khối nam châm khổng lồ, bề thế như một vị chúa tể dõng dạc ngự trị trên trái tim mù quáng của con người. Chính trong bối cảnh như thế mà lời Chúa đã vang lên thức tỉnh lòng người: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”. Phải lựa chọn một trong hai. Qua lời Chúa dạy hôm nay, chúng ta hãy kiểm điểm lại thái độ của mình: chúng ta kiếm tiền của như thế nào? Chúng ta chi tiêu tiền bạc như thế nào? Đồng thời thành khẩn cầu xin Chúa ban cho chúng ta một nghị lực dứt khoát và can đảm để luôn chế ngự được hấp lực của đồng tiền, biết cách sử dụng tiền bạc của cải trần gian để đem lại ấm no, hạnh phúc đời này và cả đời sau nữa.
22. Chữ T.Với cơ chế kinh tế thị trường như xã hội ngày nay, người ta đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào việc tổ chức quản lý công ty, doanh nghiệp nhà nước, công ty liên doanh nước ngoài cũng như đủ luật lệ về kinh tế tài chánh, thanh tra kiểm soát, vậy mà người ta vẫn không ngăn chặn được những chuyện làm ăn gian dối, trái pháp luật. Sở dĩ có những vụ tham nhũng, cuộc đời thay đen đổi trắng, bạn bè lừa dối nhau, người thân ly cách chung qui cũng chỉ vì đồng tiền. Chính vì thế mà lời Chúa đã vang lên thức tỉnh lòng người: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”. Chúng ta không thể vừa sống vì tiền bạc vừa sống vì Thiên Chúa được. Chỉ chọn một trong hai mà thôi: Hoặc là Thiên Chúa hoặc là tiền bạc. Trước khi quyết định, tôi xin bật mí cùng các bạn một điều quan trọng. Nếu ai không phục vụ Thiên Chúa thì không được vào Vương Quốc của Người đâu nhé! Vậy, mỗi người chúng ta được quyền ưu tiên chọn lựa. Vậy bạn chọn bên nào giữa Thiên Chúa và tiền tài? Câu chuyện anh quản lý trong bài Tin Mừng hôm nay bị ông chủ khiển trách vì đã phung phí của chủ. Đây cũng là hành vi bất lương và gian dối của anh quản lý khiến cho ông chủ sa thải. Bấy giờ anh quản lý mới thức tỉnh về thân phận của mình. Anh tự hỏi: “Tôi phải làm thế nào, vì chủ tôi cất chức quản lý của tôi? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”. Anh đang đứng trước một vực thẳm, tương lai thật tối tăm mù mịt. Sắp mất việc, anh lâm vào cảnh nghèo đói và chờ chết. Chỉ còn cách sống nương tựa vào người thân và bạn bè. Sau khi suy xét tỉ mỉ và tính toán xảo quyệt, anh lợi dụng cơ hội này để bóc lột ông chủ, dùng tiền bạc của chủ để lo cho tương lai của mình bằng cách đối xử tốt với những con nợ, để con nợ mang ơn và đón tiếp nồng hậu sau khi anh bị sa thải. Giả sử như trong các bạn có ai đó nợ một trăm triệu đồng, được chủ nợ xí xóa một nửa. Rồi một ngày kia, người chủ nợ đến nhà bạn đó chơi. Bạn đó sẽ tiếp rước ông ta như thế nào? Chắc chắn bạn đó sẽ vui mừng đón tiếp ông và cho ông ta tá túc chẳng những đôi ba ngày mà “mươi bữa nửa tháng” cũng còn được…! Có qua có lại mới toại lòng nhau. Đây cũng là cách đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống ngày nay. Theo thói đời xưa nay, những can tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân và những phiên tòa xét xử các bị can phạm tội gian lận trong quản lý tài chánh hay làm thất thoát vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước mà chúng ta đã từng nghe như: hãng nước hoa Thanh Hương, Ep-cô Minh Phụng, Trần văn Huy… Thường những kẻ bất lương thì người đời chê trách, nhưng anh quản lý bất lương trong bài Tin Mừng hôm nay được Chúa khen ngợi. Vì sao vậy? Chúa khen vì anh khôn khéo, biết sử dụng thời gian ngắn ngủi để tính sổ và lo cho tương lai lâu dài. Chắc chắn Chúa không khen sự bất lương gian trá của anh ta. Có lẽ khi kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý dạy các tông đồ sống gian xảo như anh quản lý bất lương mà Người muốn các tông đồ phải nhanh trí khôn như người quản lý biết ứng phó kịp thời, hoàn cảnh, nhất là biết tìm những đảm bảo cho tương lai mình. Chúng ta sẽ làm gì để chuẩn bị cho đời sống mai sau của mình khi mà xã hội ngày nay coi tiền bạc là thần tài? Trong cuộc sống con người, tiền bạc là một thực tại quan trọng. Những người giàu biết rõ điều đó, vì họ có nhiều tiền và thường sợ bị mất tiền. Những người nghèo cũng biết, vì họ thiếu tiền và thường rất khó khăn mới kiếm được vài đồng. Tiền bạc không thể là cùng đích nhưng thực tế nó chi phối tất cả, bao trùm từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến cả luân lý đạo đức. Và có lẽ vì thế mà đời hay nói rằng: “Tiền là tiên, là phật, là sức bật lò so, là thước đo lòng người, là nụ cười tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý”. Chúng ta không lạ gì khi thấy người ta cứ quay cuồng lên vì đồng tiền và sẵn sàng làm tất cả vì đồng tiền bất chấp cả luân thường đạo lý. Lừa gạt kẻ khù khờ, bóc lột người yếu kém, trả lương thấp cho người làm công, không gì làm cho họ bối rối lương tâm cả. Họ chỉ nghĩ một điều duy nhất là kiếm tiền thế thôi. Tiền bạc không cần con người nhưng ai cũng cần tiền bạc. Dù tiền rách, tiền bẩn, tiền cũ… người ta vẫn dành cho nó một cảm tình. Có ai chê tiền đâu, từ người già cho tới trẻ em. Tình nghĩa là chín, tiền bạc là mười, vàng là hai mươi bốn. Thánh Kinh thường nói về tiền bạc và bao giờ cũng nói nghiêm túc. Chúa Giêsu cũng nói như vậy. Khi nói về tiền bạc hầu như nói về sự sống sự chết. Với tiền bạc, người ta làm cho mình hư mất, nhưng người ta cũng có thể cứu sống mình nữa. Tiền bạc có thể mở cửa thiên đàng cho ai đó nếu con người dùng nó như một phương tiện, nhưng cũng có thể đóng lại với người ấy nếu con người tôn thờ nó. Phải chăng đời là một chữ “T”? Thực ra, tiền bạc giúp cho con người ta sống và nó có giá trị nhất thời tạm bợ ở đời này, vì khi cái chết ập đến nó trở thành vô nghĩa vì không thể đem bạc tiền châu báu sang bên kia thế giới. Hơn nữa, trong hoàn cảnh suy thoái, làm ăn thua lỗ, tiền bạc là thứ bấp bênh nhất. Chỉ có một giá trị vĩnh cửu là tình yêu. Tình yêu là tồn tại mãi mãi. Có một câu hát của cha Kim Long mà tôi không bao giờ quên đó là: “Oi mọi sự đều hão huyền, giả trá và đảo điên. Một điều bền vững thiên thu: đức kính yêu Chúa Trời. Chúng ta nhận thấy rằng tiền bạc không phải là tất cả. Tiền bạc chỉ mua được tình dục chứ không mua được tình yêu. Tiền mua được sách chứ không mua được kiến thức. Tiền mua được máu chứ không mua được sự sống… Nhưng tiền của có thể trở nên hữu ích khi biến nó thành phương tiện làm giàu cho sự sống đời sau bằng cách dùng tiền của để giải thoát con người khỏi nợ nần, đói kém, lạnh lẽo… Chúng ta chia sẻ cho tha nhân và phục vụ cho lợi ích chung. Việc làm như vậy là mua lấy bạn hữu đời sau vì những việc lành phúc đức, chúng ta có thể an tâm một ngày kia sẽ được đón nhận vào Nước Trời. Mỗi người chúng ta đừng để vật chất chi phối nhất là trong thời đại lệ thuộc vật chất ngày nay. Chúa không cấm chúng ta tìm kiếm của cải vật chất, Ngài cũng không ngăn cấm chúng ta sử dụng và hưởng dùng. Chính Ngài đã dựng nên chúng và làm quà tặng cho chúng ta. Ngài chỉ muốn chúng ta đừng sa lầy, đừng chỉ còn biết có vật chất dưới mọi hình thức: tiền tài, danh vọng, lạc thú… Ngay cả khoa học và bao tiện nghi mà người ta quá tôn sùng hay lạm dụng. Tất cả những cái đó làm cho tâm hồn con người tê liệt, lâm vào cõi hôn mê. Khó khăn biết chừng nào để con người thoát khỏi ràng buộc, chi phối bởi vật chất có phải không nào? Thế mà hôm nay Đức Giêsu lại muốn chúng ta phải sống siêu thoát đối với những hấp dẫn vật chất, phải biết tìm sự giàu có theo sự đánh giá của Chúa. Ngài muốn chúng ta dùng chúng như những nấc thang vươn lên những sự cao vời. Ngài muốn chúng ta thành những người cao cả chớ không tầm thường. Thánh Phanxicô Assidi từ bỏ cuộc sống giàu sang để sống khó nghèo vì hạnh phúc Nước Trời. Mỗi người chúng ta ai cũng có tiền. Kẻ nhiều người ít. Chúng ta làm gì với số tiền đó? Chúng ta có biết sử dụng nó và dùng nó để phục vụ kẻ khác mà không bao giờ làm nô lệ cho nó chăng? Chúng ta có biết dùng nó để mua lấy bạn bè là những người sẽ đón nhận chúng ta vào Nước Trời không? Tiền bạc làm cho chúng ta xa Thiên Chúa hay giúp chúng ta gần Ngài hơn? Đó là những câu hỏi được đặt ra mà mỗi người chúng ta tự trả lời.
23. Khôn ngoan đích thực - Lm. Phạm Thanh LiêmCó người khôn “lỏi”. Có người khôn mà không “ngoan”, khôn mà không được người khác thương. Có người ngây thơ như thể là dại, nhưng lại được nhiều người thương. “Ai khôn thời dại, ai dại thời khôn”. Sự khôn ngoan đích thực hệ tại đâu? Khôn theo kiểu thế gian Người quản lý trong dụ ngôn Đức Yêsu kể, thật là khôn theo kiểu thế gian. Anh ta toan tính và cư xử rất khéo và có lợi cho anh ta. Anh ta được lợi ngay trước mắt, sẽ được người ta đón tiếp một khoảng thời gian nào đó; nếu tiếp tục để tồn tại, anh ta phải toan tính làm những điều không lương thiện tương tự, để có thể sống mà không cần phải làm việc. Nhưng, anh ta có thật sự hạnh phúc không? Một người lương thiện có thể coi anh ta là người bạn chân thành không? Nếu tất cả mọi người đều lợi dụng lẫn nhau, và khi không còn lợi cho mình nữa, thì chấm dứt mọi tương quan. Nếu cuộc sống chỉ là vậy, có chi là hạnh phúc! “Còn bạc còn tiền còn đệ tử, hết cơm hết gạo hết ông tôi”. Những người khôn kiểu này, người Việt Nam mình gọi là khôn lỏi, khôn mà không ngoan, khôn mà dại. Có nhiều người trong cuộc sống, vẫn chọn và hành xử theo kiểu khôn ngoan này. Họ vẫn chọn tiền bạc, mua bán đổi chác trong mọi chuyện, kể cả tình yêu. Có nhiều bậc cha mẹ vô tình hay hữu ý vẫn khuyến khích con mình khôn ngoan theo kiểu “dại” như vậy. Khôn ngoan đích thực Người khôn ngoan đích thực, phải là người thấy được điều lợi không phải ngay lúc này, nhưng còn cả ở tương lai xa nữa. Thứ ba vừa qua khủng bố đã xảy ra ở New York làm chết trên dưới năm ngàn người. Sống trong một nước văn minh, con người làm chủ những luật lệ thiên nhiên, biết thời tiết nắng mưa, nóng lạnh gần như chính xác, thấy được những biến chuyển của những cấu trúc và thiết bị nhân tạo. Con người gần như cảm thấy an toàn, làm chủ tất cả. Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001, làm con người run sợ. Cái chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Con người run sợ trước sự dữ con người làm cho nhau. Sự khôn ngoan đích thực hệ tại đâu? Được gì nếu cái chết xảy đến ngay cả khi mình giầu sang quý phái nổi tiếng? Ở trên ngôi nhà cao, nổi tiếng, vẫn là điều làm người ta vinh dự; lúc tai nạn xảy ra, toà nhà nổi tiếng đó trở thành mối hoạ, sống trên đó lại là cái hại khủng khiếp. Khôn chết, dại chết, biết cũng chết. Sự khôn ngoan đích thực không phải chỉ toan tính cho ở đời này. Nếu chết là hết, toan tính ở đời này là đủ; nhưng chết không phải là hết, mà là khởi đầu một đời sống mới vĩnh cửu, mà nếu không chuẩn bị cho cuộc sống đó, mà chỉ lo cuộc sống đời này, thì quả là dại. Khôn ngoan đích thực, là sống theo luật yêu thương của Đức Yêsu trong cuộc sống thường ngày. Khôn ngoan đích thực, làm con người sống hạnh phúc trong đời sống mai hậu và ngay trong cuộc sống này. Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ Thiên Chúa là Đấng muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thiên Chúa muốn mọi người nhận biết Ngài yêu thương con người, để khi nhận biết Ngài yêu thương con người, con người được tự do và hạnh phúc. Thiên Chúa không muốn sự dữ, không muốn con người đau khổ. Đau khổ và sự dữ do con người gây ra cho nhau. Biến cố cướp máy bay và cố tình gây ra thật nhiều cái chết, làm nhiều người đau khổ. Và sự dữ này kéo theo sự dữ khác, chẳng hạn muốn báo thù, muốn hủy diệt sự dữ bằng sự dữ khác. Khôn ngoan đích thực, là chính thái độ sống yêu thương mà Đức Yêsu đã dạy con người bằng chính cuộc sống của Ngài. Sự khôn ngoan đích thực không phải là bài học lý thuyết con người có thể học được trong vài phút, nhưng là chính cuộc sống của mỗi người. Trên thập giá, Đức Yêsu cầu nguyện: “xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết”. Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá, kiên nhẫn chịu đựng những bất công người ta gây ra cho con mẹ. Cách sống của Đức Yêsu và Đức Mẹ, là cách sống làm con người sống bình an hạnh phúc. Sự dữ kéo theo sự dữ, làm con người luôn sống trong bất bình an. Tha thứ, cầu nguyện cho người ghét mình, làm con người được bình an tận trong lòng, và giúp kẻ làm ác có cơ hội thống hối. Đức Yêsu và những môn đệ của Ngài đã không lấy ác báo ác, nhưng lấy tình thương đáp trả sự dữ. Đây là cách hành xử của những người tuyệt vời. Khôn ngoan đích thực được thể hiện trong cuộc sống với những hành vi cụ thể cho dù nhỏ bé. Câu hỏi gợi ý chia sẻ: 1. Điều gì làm cho bạn khổ nhất? Tại sao vậy? 2. Con người có thể sống hạnh phúc không? Khi nào? 3. Đức Yêsu và Đức Mẹ có hạnh phúc ở đời này không? Xin trình bày quan điểm của bạn cho người khác!
24. Suy niệm của JKNCâu hỏi gợi ý: 1. Bạn nghĩ gì về một người nghèo được người ta đồng ý cho “đổi giấy lấy tiền” (cứ một tờ giấy thường nhỏ lấy một tờ giấy bạc 10.000đ, hay 50.000đ VN, hoặc lấy tờ 10 hay 50 USD), mà lại không chịu đổi, cứ nhất định khư khư giữ lại những tờ giấy tầm thường cho mình? Bạn có bao giờ nghĩ mình cũng đang làm tương tự như thế trên bình diện tâm linh không? 2. Một người thường tỏ ra bất tín trong chuyện tiền bạc, hay lỗi hẹn, hay thất hứa, v.v… thì bạn có dám giao cho họ một công việc gì lớn không? Tại sao? Bạn có những kinh nghiệm nào cụ thể về việc này? Suy tư gợi ý: 1. Theo khôn ngoan thế gian, phải biết lo liệu trước tương lai Ta thử đặt mình vào địa vị tên quản gia bất lương kia để xem mình nên làm gì hầu “sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ”. Nếu không lo liệu trước, thì coi chừng chết đói, vì ngoài chức quản gia ra, anh ta chẳng biết làm gì khác để sinh sống, “cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”. Tốt nhất là nên lợi dụng ngay quyền hạn của chức quản gia mà mình còn giữ được trong thời gian ngắn ngủi một tuần hay một tháng này để lo liệu chuyện đó. Bây giờ cần phải đầu tư tình cảm nơi mọi người. Cách tốt nhất và hữu hiệu nhất để gây tình cảm là lợi dụng chức quản gia để làm ơn cho họ. Anh ta nghĩ: ông chủ có rất nhiều con nợ, mình giảm nợ cho họ tất nhiên họ phải mang ơn mình, có tình cảm với mình, nhờ đó, khi mình thất nghiệp, họ sẽ tôn trọng và giúp đỡ mình. Thế là “anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?” (6) Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu ô-liu”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. (7) Rồi anh ta hỏi người khác: “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?” Người ấy đáp: “Một ngàn giạ lúa”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”“. Như thế, anh ta đã dùng những tiền của không phải của mình để làm lợi cho mình: dùng tiền của của người khác do mình tạm thời quản lý để mua lấy tương lai cho mình về sau. Nhân câu chuyện này, Đức Giêsu khuyên chúng ta: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Điều ấy có ý nghĩa gì? Cần phải hiểu câu nói của Đức Giêsu thế nào? 2. Áp dụng sự khôn ngoan ấy vào việc lo hạnh phúc vĩnh cửu Chúng ta ai nấy đều có một thời gian rất ngắn ngủi ở trần gian này trước khi bước vào đời sống vĩnh cửu đời sau. So với đời sống mai hậu, đời sống này rất là ngắn ngủi trong đó mọi sự đều chóng qua, giả tạm, không bền. Thật vậy, tất cả mọi sự ta đang có trong tay – trí tuệ, khôn ngoan, sức khỏe, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn, của cải, v.v… – có thể mất đi bất cứ lúc nào. Chỉ một cơn bệnh nặng hay một tai nạn ở đầu có thể làm ta mất hết trí tuệ, sức khỏe, làm ta điên loạn, không còn biết gì. Một cuộc đổi đời có thể làm ta mất hết địa vị, quyền lực và tiền bạc. Như thế tất cả những gì ta đang có trong tay, dù là tinh thần hay vật chất, đều không phải là của ta, mà chỉ để ta quản lý một thời gian thôi. Ta chỉ quản lý nó nhiều lắm là 100 năm ở đời này. 100 năm đó so với sự hiện hữu vĩnh cửu của ta thì cũng tương tự như một phút so với cả cuộc đời trần thế của ta. Tới khi chết, tất cả những của cải ta đang quản lý, dù nhiều tới đâu, cũng đều phải để lại cho người khác quản lý, và ra đi với hai bàn tay trắng. Chỉ những gì ta có được ở đời sau, mới là của ta đích thật, nó sẽ ở với ta mãi mãi. Tuy nhiên, một điều rất lạ lùng và hết sức đáng mừng là ta có thể dùng những thứ giả tạm chóng qua mà ta đang quản lý ở đời này để tạo nên của cải đích thực và vĩnh cửu cho ta ở đời sau. Vì thế, xét về mặt này, hoàn cảnh của ta giống y hệt hoàn cảnh của viên quản lý trong dụ ngôn của Đức Giêsu. Vậy thì dại gì ta cứ giữ khư khư lấy những của giả tạm đó cho mình, mà không lợi dụng thời gian quản lý quí báu những của cải ấy để mua sắm lấy Nước Trời, tức hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của mình. Vì thế, những kẻ chỉ lo làm giàu ở đời này mà không màng đến việc lo liệu cho hạnh phúc đời sau, thì đúng là bỏ mất những cơ hội hết sức quí báu để “đổi giấy lấy tiền”. Cơ hội này mất đi sẽ không bao giờ trở lại. Người quản lý trong dụ ngôn đã dùng tiền mà mình đang quản lý để làm ơn làm phúc cho người này người nọ, nhờ đó khi không còn quản lý nữa, ông vẫn được người khác quí trọng, tiếp đón, hậu đãi. Đức Giêsu khuyên chúng ta cũng nên “dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Nghĩa là hãy dùng những của cải tạm bợ – tinh thần cũng như vật chất – mà Chúa trao cho ta quản lý, để sắm lấy những của cải vĩnh viễn trên trời. Bằng cách nào? bằng cách sử dụng những của cải ấy để thực hiện những hành động yêu thương: gây hạnh phúc hay làm lợi cho tha nhân, làng xóm, xứ đạo, quê hương đất nước, xã hội, Giáo Hội… Ta có thể dùng tiền của, tài năng, trí tuệ của mình – vốn giả tạm, chóng qua, nay còn mai mất – để đầu tư cho sự hạnh phúc của tha nhân, sự phát triển của xã hội, sự thánh thiện của Giáo Hội, v.v… Nhờ vậy, tự nhiên ta có một kho tàng vĩnh cửu không thể hư mất ở trên trời. Như thế chẳng phải là ta đã “đổi giấy lấy tiền”, “đổi đồ giả lấy đồ thật” sao? Vậy dại gì mà không đổi? 3. Hãy trung tín trong mọi việc hằng ngày Đã là người, ai cũng muốn mình trở thành người có giá trị, được mọi người tín nhiệm. Sự tín nhiệm và giá trị của ta một phần nào được đo bằng việc người khác có dám giao cho ta đảm trách những việc lớn lao hay không. Nhưng làm sao người khác có thể dám giao cho ta việc lớn, khi họ thấy ngay cả việc nhỏ ta cũng không chu toàn được? Đức Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn”. Sự khôn ngoan đòi buộc người ta, khi giao việc cho ai mà muốn thành công, thì phải thử xem người ấy có đủ khả năng và đức độ để chu toàn việc ấy không. Đức độ và khả năng là hai yếu tố quan trọng để căn cứ vào đó mà tín nhiệm một người. Nói về việc thử người, trong dân gian có câu: “Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, và lấy đàn bà thử đàn ông”. Tôi nghĩ câu ấy cũng rất chí lý. Riêng tôi, theo kinh nghiệm cá nhân rất hạn hẹp của tôi thì chỉ nên tín nhiệm những ai tỏ ra trung tín trong việc sử dụng tiền bạc hoặc của cải của người khác. Và đó cũng là điều Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay: “Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?” Kinh nghiệm hạn hẹp của tôi cho thấy người nào không trung tín trong chuyện tiền bạc, của cải vật chất, thì cũng thường – tôi chỉ dám nói “thường” mặc dù tôi chưa thấy có luật trừ – không trung tín hay không đáng tín nhiệm trong những chuyện khác. Còn ai trung tín trong chuyện tiền bạc, của cải vật chất, thì cũng thường trung tín hay đáng tín nhiệm trong những việc khác. Theo quan niệm của tôi, một người không giữ được sự công bằng – dù về tinh thần hay vật chất – thì cũng khó có thể là một người bác ái đích thật hay một người thánh thiện được. Vậy, ta không nên sợ rằng mình không được tín nhiệm, mà hãy sợ rằng ta chưa có thái độ đúng đắn trong những việc nhỏ, trong sự công bằng, trong cách sử dụng tiền bạc hay của cải không phải là của mình. Cầu nguyện Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng mọi sự con có trong tay, dù là tinh thần hay vật chất, không phải là của con mà là của Cha. Cha giao cho con quản lý chứ không phải làm chủ. Con phải sử dụng chúng theo ý Cha chứ không phải theo ý con. Xin cho con biết sử dụng những thứ Cha giao cho con quản lý để tạo nên kho tàng vĩnh viễn cho con ở trên trời. Xin cho con biết trung tín trong mọi việc nhỏ nhặt của đời sống thường ngày, để con đáng được Cha và mọi người tín nhiệm trong những việc lớn lao hơn. |