|
Thánh Lễ đêm I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Chúa Giêsu sinh ra trong âm thầm.
Nếu trong lời tựa sách Tin Mừng của mình, Luca rõ ràng có ý định làm
công việc của một sử gia, thì không phải là sử gia theo nghĩa như người
ta hiểu ngày nay, mà như là một nhà thần học đặc biệt nhạy cảm đối với
lịch sử cứu độ.
Để ghi biến cố Đức Giêsu sinh ra vào lịch sử của thế giới, thánh Luca
nối kết biến cố này với "chiếu 'chỉ của hoàng đế Augustô truyền kiểm tra
dân sô' trong khắp cả thiên hạ " (việc kiểm tra này không phải là không
đặt ra vấn đề lịch sử theo một số các nhà chuyên môn)
- Để diễn tả lịch sử cứu độ có sự liên tục và được hoàn thành trong Đức
Kitô, Luca thích nhấn mạnh đến tính gia tộc của Đức Giêsu là con cháu
vua Đavit.
+ Chính vì phải đi tới Belem "thành vua Đavit" mà Giuse phải rời bỏ
thành Nadarét miền Galilê để "trở về nguyên quán mà khai tên tuổi, vì
ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đavit".
+ Chính tại Belem mà "Maria, bạn ông lúc ấy đang mang thai " sẽ hạ sinh
hài nhi bà đang cưu mang.
Giuse người đã giữ vai trò quyết định trong việc đi lên Bêlem, giờ đây
mờ nhạt đi để nhường cho Maria vai trò chủ động: "Bà sinh con trai đầu
lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (một chi tiết không thể
không gợi nhớ lại cảnh táng xác ở Luca 23,53: 'Ông lấy tấm vải gai mà
niệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ "), vì hai ông bà không tìm được chỗ
trong "phòng tập thể" ("phòng tập thể" sau này ta sẽ gặp thấy ở Luca
22,11 sẽ là phòng tiệc ly).
2...rồi Người được biểu dương long trọng.
Tương phản với cảnh sinh ra trong lặng lẽ, tăm tối và nghèo hèn, thì giờ
đây "trong vùng ấy" đêm bừng sáng, và văng vẳng lời tiết lộ ý nghĩa của
biến cố vừa mới được thực hiện: đất trời cùng mớ hội giao duyên.
Những người đầu tiên được đón nhận mạc khải của biến cố, lại là những
con người mạt rệp của xã hội thời ấy: "những người chăn chiên ", một lớp
người trong xã hội bị khinh rẻ nhất, bị xếp cùng hàng với những người
tội lỗi công khai và những người thu thuế. H. Cousin giải thích: "Những
người chăn chiên, thường bị mang tiếng xấu ở Palestin, nơi đây người ta
thường coi họ như những tên bất lương, phường trộm cắp. Kinh Tan-mút của
Babylon xếp họ vào hạng người "độc đáo ": "Những tên chăn chiên, bọn thu
thuế' và Publicanô thật khó mà sám hối ". Những người ở nấc thang cuối
cùng của xã hội vốn bị khinh bỉ ấy lại là những người đầu tiên được chia
sẻ ơn Giáng sinh của Đấng có một người mẹ là "kẻ khiêm hạ", và Đấng ấy
sẽ mang Tin Mừng đến cho những người nghèo khổ (4.18). Hài nhi mới sinh
đã là người rồi đây sẽ gần gũi với nhừng người tội lỗi và đồng bàn với
họ" (15,2) ("Tin Mừng của Luca", Centurion. trg 38-39).
Sứ điệp mà "Thiên thần Chúa" gởi đến cho họ là "Một Tin Mừng " (một phúc
âm"), một niềm vui trọng đại, Đó là tin vui "cho toàn dân ", tin vui về
một hài nhi Giáng sinh, mà chỉ hài nhi đó mới có đầy đủ những danh hiệu
là "Đấng Cứu độ ", Đấng Mêsia ", "Đức Chúa ", bởi vì hài nhi đó là mạc
khải sống động của lòng nhân hậu Chúa. Cả ba danh hiệu đó, ta sẽ gặp lại
trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36) và Phaolô (Cv 13,33), đều đã được
Giáo Hội hát lên để tuyên xưng niềm tin phục sinh.
- "Dấu chỉ" được ban cho các người chăn chiên trong vùng Bêlem là "một
trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ ", hàm ý là Thiên Chúa muốn thực
hiện ơn cứu độ đã hứa, một cách thật lạ lùng, không ngờ được cho ai biết
đón nhận dấu chỉ này.
R. Meynet quảng giải: "Kẻ đứng đầu trở nên người rồi hết. Chính Người là
Đấng Cứu độ, là Vua, là Đấng Mêsia sẽ được ban cho ngôi báu Đavít, lại
đã nằm trong máng cỏ bò lừa; Người được bọc tã nằm trong cái nôi của số
phận nghiệt ngã, thì sau này khi chết cũng sề được quấn khan liệm đặt
nằm trong ngôi mộ đi mượn thôi. Và chính cái đó, cái dấu chỉ ngược đời
này đã được ban cho các người chăn chiên cũng như cho những kẻ có lòng
tin của mọi thời. Bằng chứng oai phong của Chúa là sự thấp hèn, bé nhỏ
của Người, dấu chỉ quyền năng của Người là vẻ yếu đuối" , ( tin Mừng
theo thánh Luca. Phân tích tu từ". Cerf. trg 36).
"Bỗng chốc " trổi lên lời ca vang ngợi khen Thiên Chúa. Cả bầu trời vang
dội tiếng ca mừng biến cố, với quy mô lớn lao và hoành tráng, tương ứng
với việc kiểm tra dân số lớn lao của hoàng đế Augustô: "Bỗng có muôn vàn
thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: " Vinh
danh Thiên Chúa trên trời; bình an dưới thế cho loài người Chúa thương
". Đất trời tưng bừng mở hội: kỷ nguyên cứu độ đã bắt đầu. Vì Thiên Chúa
coi việc thi ân giáng phúc là làm vinh danh Người, nên Người sẽ ban tràn
đầy cho con cái Người, ơn bình an mà Người đã hứa ban trong thời kỳ cứu
độ, nhưng không phải là thứ bình an của đế quốc Rôma mà người ta trông
đợi hoàng đế Augustô mang đến, nhưng là sự sống sung mãn mà chỉ mình
Người mới có thể bảo đảm thực hiện cho ta mà thôi.
Khi vùng quê Bêlem đã trở về với đêm tối và tĩnh mịch, các người chăn
chiên đã hối hả ra đi "đến xem sự việc đã xảy ra ". "Họ thấy bà Maria,
ông Giuse cùng với hài nhi đặt nằm "trong máng cỏ ". Rồi, như những mẫu
gương cho các nhà truyền giáo mà Luca sẽ trình bày trong cuốn sách thứ
hai của ông, sách "Tông đồ công vụ ", các người chăn chiên ra về, vừa đi
vừa ca tụng Thiên Chúa " vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe ".
II. Bài ĐỌC THÊM:
1. "Ngôi Lời Của Chúa nằm trong máng ăn súc vật"
(F. Deleclos, trong prends et mange la Parole, Duculot, trg 187- 188).
"Mỗi năm đều kết thúc bằng "thời kỳ lễ nghỉ": Noel. Đêm Giao Thừa, Ngày
Đầu Năm.. Nổi bật hơn cả là lễ Noel với cây thông và máng cỏ. Rồi những
thiệp mừng được tới tấp gởi đi hay đến; những ông già Noel tung tăng đi
lại giữa phố phường hoặc vui vẻ đứng chào hàng trong cửa tiệm. Tiệc vui,
kẹo bánh và đồ tặng ê hề chất đầy những túi đựng có hình cái sừng: Nơi
nơi tràn ngập bầu khí an vui của những ngày nghỉ, ngày lễ. Tất cả như
còn vương chút cảm xúc có màu sắc tôn giáo vậy.
Dầu sao những trang trí và biểu hiện bên ngoài của ngày lễ cũng không
che giấu được hết những nỗi buồn, cảnh khổ, ghê tởm và chán chường vẫn
dằn vặt bao người. Có gì mà vui cho những người mới tốt nghiệp chưa có
việc làm và những người thất nghiệp, những người đang đói và những kẻ
không nhà. Vui chi cho những tâm hồn đang tan nát, bị bầm dập, những kẻ
bị lưu đày, những người đang phải sống vất vưởng bên lề xã hội thuộc đủ
loại. Bóng tối vẫn còn mịt mùng?
Bầu khí của lễ Noel đầu tiên năm xưa cũng chẳng có gì đặc biệt là lễ cả.
Xứ Palestine đã bị người Rôma cai trị, những khát vọng tự do đã bị đe
dọa hoặc đã bị tiêu tan cả rồi; người ta nơm nớp lo sợ những cuộc nổi
dậy, tù đày, hành hạ những người ái quốc và những tín đồ Do Thái giáo
như cơm bữa, những cảnh bạo lực thường bị đàn áp, đôi khi bùng lên như
điên cuồng.
Tuy nhiên trong lòng người khi ấy vẫn luôn ấp ủ một liềm hy vọng mãnh
liệt và lòng tin đã không chết. Đúng là một niềm tin vững chắc của cha
ông vẫn neo sâu vào lòng đất ất sôi động ấy. Từ nhiều thế hệ, các ngôn
sứ đã loan báo dứt khoát rằng: một Đấng cứu độ sẽ đến. Một "con người "
sẽ thiết lập một triều đại, một vương quốc công lý và hòa bình. Thiên
Chúa đã hứa với dân Người như vậy.
Và này đây vào một ngày như mọi ngày, lời tiên tri ứng nghiệm, điều báo
trước trở thành hiện thực. Lấy gì làm bằng chứng? Chẳng có chứng cớ nào
hết. Chỉ có một dấu chỉ. Dấu chỉ ấy được ban cho"'những người bé mọn ",
những người sống tăm tối với nghề chăn nuôi. Dấu chỉ quả là mong manh,
bởi lẽ lẽ là một "con trai đầu lòng " bọc tã nằm trong máng cỏ. Ngôi Lời
Thiên Chúa nằm trong máng dành cho súc vật!
Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, đó là một bài học về khiêm hạ, về tình
người. Khi Thiên Chúa dám chịu phiền hà, khi Đấng giải phóng tỏ mình ra,
không có quảng cáo, chẳng kèn trống rùm beng, không có quần chúng nhiệt
liệt ủng hộ, hay dương oai bằng võ khí. Tất cả những phô trương náo
nhiệt ấy là của những người quyền thế để nâng cao thanh thế của họ...
Còn ở đây chỉ là khiêm tốn, là bình dị hoàn toàn, là khó nghèo thực sự.
Tất cả phải làm cho ta gai mắt và hoảng sợ nữa.
Hôm nay cũng vậy thôi, Người đến xô đẩy những gì ta coi là ưu tiên,
những quan điểm hẹp hòi và những chương trình của ta. Ở đâu người ta ít
chờ đợi Người, thì Người lại xuất hiện. Và một Đức Kitô như thế, thì rất
có nguy cơ lại trở về tình trạng như đêm Noel đầu tiên xưa thôi: chẳng
ai đoái hoài đến, chẳng ai biết cho, luôn bị đe doạ, bị thành phần ưu tú
của tín hữu và những kẻ thế lực đời này ruồng rẫy thôi. "Người đã đến
nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận ".
Mà tại sao lại thế? Là vì Người không chỉ bằng lòng với việc kêu gọi cầu
nguyện và tổ chức những lễ lạy rình rang, nhưng Người giảng dạy sự tha
thứ và lòng xót thương; Người tuyên bố phẩm giá và những quyền của con
người phải được tôn trọng. Là vì Người vạch rõ những con đường để thực
thi công lý, hòa bình, hiệp nhất và 'huynh' đệ' bằng việc hoán cải cái
tâm, thay đổi cái tính và uốn nắn cái tình.
Thiên Chúa đến làm cho chúng ta trở nên "một dân hăng hái làm điều
thiện". Thế nên ta hãy làm cho lòng ta thành một cái nôi lãnh nhận Lời
ban sự sống. Và khi bàn tay ta, giống như máng cỏ, giơ ra để nhận Lời
hóa bánh, thì hãy nhớ' rằng Người đến trong ta để lấy đó làm nơi cư ngụ,
để soi sáng, giải thoát, biến đổi ta và để làm cho ta trở thành những
chứng nhân và làm bằng chứng cụ thế cho tình yêu của Người đối với mọi
người vậy. . .
1. "Thế giới đảo ngược"
(J. Debruyne, trong "Jésus, sa chair, ses racines", Desclée, trg
201-202).
"Đêm đó các người chăn chiên đã lên đường đi tìm Chúa.
Phải chăng hài nhi sơ sinh kia
Là người thân của họ
Nên đã sinh ra trong chuồng bò lừa như thế
Có lẽ rồi đây Người cũng sẽ là kẻ chăn chiên chăng?
Thế tại sao hài nhi bè bỏng kia
Rồi đây lại không muốn làm
"một chú bé mục đồng "
Họ là những người canh giữ đoàn vật
Luôn trông chờ bình minh mau tới,
Qua ánh sao, họ nhận ra dấu chỉ
Giữa trời đêm, họ đọc thánh Kinh.
Họ là những người nay đây mai đó,
Mòn vết chân trên những đồng cỏ thưa,
Họ khéo léo tập hợp bầy chó dại.
Và rất dễ dàng quy tụ đoàn chiên.
Hơn là bế bồng nâng niu em nhỏ,
Có lẽ họ là lời loan báo
Rằng đêm nay
Một cuộc xuất hành mới bắt đầu chăng?
Có lẽ vì họ là
Những con người của lều trại
Không cố định ở một chốn nào lâu.
Vì họ là những anh em bà con của Chúa,
Nên khi ở với họ,
Chúa cảm thấy như ở nhà mình chăng?
Phải có được những con mắt như họ,
Mới có thể giữa trời đêm
Nhắm ánh sao mà tiến tới,
Để nhận ra Thiên Chúa ẩn mình
Dưới hình hài một trẻ sơ sinh...
Đêm hôm đó,
Đêm vui của những người nghèo
Vẫn chưa trở thành ngày lễ
Cho những kẻ giàu sang.
Nét thanh bần
Vẫn chưa phải là lễ hội của quà chia,
Đêm lặng lẽ đó,
Vẫn chừa phải là lễ hội đem tưng bừng thật sự
Đêm hôm đó.,
Chẳng cần cổ võ thêm những cuộc vui,
Mà nên triệt bỏ đi mới phải.
Nếu đêm nay Chúa đang ở đó,
Thì ta phái cúi xuống tìm gặp Người,
Và quỳ xuống
Để lượm lấy Người nằm dưới đất.
Hài nhi sơ sinh đó
Còn chưa nói ra được một tiếng
Thế mà lại đã là Lời
Mà ý nghĩa thật là đảo lộn. .
Lá thế giới đảo ngược,
Là đảo ngược các thang giá trị,
Là tương lai đã đang đi trên đầu rồi |