Trong sách Ma-ca-bê quyển thứ 2 kể lại việc « Ông Giuđa quyên được khoảng
hai ngàn quan tiền và gửi về Giêrusalem để xin dâng hy tế tạ tội ; ông làm
cử chỉ rất tốt đẹp và cao quí này v́ cho rằng ngướ chết sẽ sống lại…Đó là
lư do khiến ông xin dâng hy tế đền tội cho những người đă chết để họ được
giải thoát khỏi tội lỗi” ( x. 2 Macabê 12:43-46). Đây là nguồn gốc trong
Kinh Thánh Cựu Ước về việc cầu nguyện cho người quá cố v́ có niềm tin vào sự
sống lại của kẻ chết.
Niềm tin này đă được củng cố vững vàng hơn với biến cố lich sử về cuộc tử
nạn và phục sinh của chính Chúa Giê-su Kitô như Kinh Thánh Tân Ước đă tường
thuật tỉ mỉ.(x.Mt.27-28; Mc 15-15, Lc 23-24; Ga 19-20).Từ đó, việc cầu
nguyện cho người chết đă trở thành truyền thống trong Giáo Hội cho đến nay
v́ niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết và v́ tín điều các Thánh cùng Thông
Công.
Sách Giáo Lư mới của Giáo Hội qua số 958 và số 1032 đă khuyến khích việc cầu
nguyện cho kẻ chết dựa vào niềm tin nói trên và vào lời dạy của Thánh Gioan
Kim Khẩu sau đây : “Chúng ta hăy cứu giúp và tuởng nhớ đến những ngướ đă
qua đời. Nếu con cái Ông Job được thanh luyện nhờ sự hy sinh của Ông, th́
tại sao chúng ta lại nghi ngờ rằng những việc hiến dâng của chúng ta sẽ đem
lại an ủi cho các linh hồn ấy? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những
người đă qua đời và cầu nguyện cho họ”[1] .
Như vậy, việc cầu nguyện cho các tín hữu đă qua đời đă có từ thời Cựu Ước và được Giáo Hội Chúa Kito duy tŕ đến ngày nay là một việc làm rất cần thiết của người Kito hữu. Chúng ta có nhiều cách làm hữu ích cho các linh hồn nơi luyện ngục như đọc kinh cầu nguyện, ăn chay hăm ḿnh đền tội, làm việc bác ái và xin dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn.
B. Bổng
lễ
Liên quan đến việc xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn, xin chia sẻ ở đây về
bổng lễ (tiền xin lễ) và việc các linh mục dâng lễ.
Khác với các nước ở Châu Âu và Mỹ, linh mục Việt Nam không được trả lương nên nguồn thu duy nhất để sống và làm việc tông đồ của linh mục là bổng lễ.
Thời xa xưa, mỗi khi dự lễ, giáo dân có thói quen đem bánh, rượu để dâng lễ
và những quà tặng khác cho linh mục và người nghèo[2].
Đó là nguồn gốc của bổng lễ. Đến thế kỉ XI, thánh lễ được cử hành cách
thường xuyên hơn. Sự kiện này dẫn đến việc giáo dân muốn linh mục dâng lễ
riêng cho ḿnh và họ dâng thêm một bổng lễ riêng, ngoài những của lễ chung.
Dần dần, những bổng lễ riêng đă hầu như thay thế những của lễ chung.
Về tiền xin dâng một thánh lễ có bổng lễ, Giáo luật điều 848 qui định: “Khi
ban các Bí Tích, thừa tác viên không được đ̣i thêm cái ǵ khác ngoài số tiền
thù lao mà nhà chức trách có thẩm quyền đă ấn định; và phải cẩn thận đừng để
những người nghèo không được lănh Bí Tích v́ lư do nghèo túng”.
Nói rơ hơn, khi nhận dâng một thánh lễ do ai xin, linh mục không được phép
đ̣i tiền (bổng lễ) quá mức mà Toà Giám Mục đă ấn định. Cụ thể, ở Việt Nam
nói chung và ở Giáo Phận Phát Diệm nói riêng, để đảm bảo một mức sống tối
thiểu và để hỗ trợ cho mục vụ trong giáo xứ, th́ cho đến nay linh mục được
nhận bổng lễ cho mỗi ư lễ xin là 10 đôla (tương đương 200.000 đồng việt
nam). Qui định này áp dụng chung cho mọi nhà thờ, giáo xứ, không phân biệt.
Nếu một người không có tiền hoặc chỉ có ít tiền mà muốn xin dâng lễ theo ư
chỉ, người ấy cứ việc xin lễ với một vị linh mục v́ Giáo luật điều 945,2 kêu
mời các linh mục trong hoàn cảnh này chấp nhận dâng lễ mà không cần bổng lễ.
Vậy, linh mục không được phép đ̣i hỏi bổng lễ cao hơn mức Giáo quyền đă qui
định.Tuy nhiên, nếu v́ ḷng hảo tâm mà giáo dân tự ư dâng số tiền cao hơn
mức qui định trên th́ linh mục được phép nhận mà không có lỗi ǵ. Cũng cần
nói thêm là tiền xin lễ chỉ có giá trị giúp đỡ linh mục “phục
vụ Bàn thánh th́ được hưởng lộc Bàn thờ” như Thánh Phaolô dạy (x.1Cor
9:13-14). Tiền xin lễ nhiều hay ít tuyệt đối không ảnh hưởng ǵ đến việc
Chúa ban ơn theo ư người xin lễ v́ thánh lễ là vô giá và ơn thánh của Chúa
th́ không thể mua được bằng tiền bạc. Xin ghi nhớ điều quan trọng này để
đừng ai lầm tưởng rằng nếu xin lễ với bổng lễ to th́ có lợi nhiều cho linh
hồn hơn là xin với bổng lễ nhỏ.
Về vấn đề rao các ư lễ trong thánh lễ th́ không có luật nào buộc. Chỉ có
luật buộc các linh mục “phải
ghi cẩn thận những ư lễ đă nhận sẽ làm và những ư lễ đă làm xong”, cũng
như phải ghi sổ sách rơ ràng các ư lễ muốn chuyển cho các linh mục hưu chí,
và những giáo xứ nghèo khó rất ít người xin lễ (x.Giáo Luật số 955, triệt
3&4).
Giáo dân cũng nên biết rằng mỗi một ngày linh mục chỉ được hưởng một bổng
lễ, dù lễ hôm đó linh mục rao tên nhiều ư lễ, dù làm nhiều thánh lễ trong
một ngày, dù đồng tế thêm lễ thứ 2, trừ lễ mừng Chúa Giáng Sinh. Bổng lễ thứ
2 trong ngày (nếu được phép của Giám Mục Giáo Phận qui định theo Giáo Luật
điều 951), sau khi đă trừ thù lao một nửa để gửi về Ṭa Giám Mục, số c̣n lại
với mục đích giúp người nghèo, làm việc bác ái, tông đồ.
Vấn nạn về việc gom ư lễ, tức là linh mục có được phép dâng một thánh lễ với
nhiều ư lễ không th́ xin được chia sẻ trong một dịp khác.
Lm. Luca Pham Quang Huy
Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội
-----------------------------
[1]Cf.
Thánh Gio-an Kim Khẩu, In epistulam I ad 1 Cor. homilia 41,5: PG 61,361.
[2]Cf.
St. Justin, Apologie 1,67