NẾU MARIA ĐĂ NGUYỀN HỨA GIỮ M̀NH ĐỒNG TRINH TH̀ TẠI SAO LẠI ĐÍNH HÔN VỚI
GIUSE?
VẤN: Nếu
Đức Maria đă luôn có ư muốn giữ ḿnh đồng trinh trọn đời và tận hiến để phục
vụ một ḿnh Thiên Chúa mà thôi, th́ làm sao cắt nghĩa sự kiện Mẹ đă đính hôn
với Giuse, ngay cả trước khi xảy ra biến cố Truyền Tin (dù chưa về sống
chung cùng nhau)?
ĐÁP: Để
tôn trọng sự thật, trước hết tôi phải xác định rơ rằng giữa các nhà chú giải
Công giáo, vấn đề lời thề giữ ḿnh đồng trinh của Đức Maria vẫn c̣n trong
ṿng tranh luận.
Từ 20 năm nay, có một số nhà chú giải, (như Féret, Benoit, Audet) nghĩ rằng
Đức Maria khi ấy cũng sắp đi lập gia đ́nh như mọi thiếu nữ Do- thái khác, và
chỉ từ lúc Truyền Tin Mẹ mới quyết định giữ ḿnh đồng trinh. Ư kiến này
không bị Giáo quyền trách cứ ǵ. Nó vẫn c̣n đang trong ṿng bàn căi.
Tuy nhiên, theo tôi, chỉ có ư kiến cho rằng Đức Maria đă thề hứa giữ ḿnh
đồng trinh từ trước khi Truyền Tin là có nền tảng mà thôi. Điều này tôi đă
giải thích cặn kẽ trong quyển “cơ cấu và thần học của hai chương 1 và 2
trong Tin Mừng theo thánh Lu- ca. “Thật vậy, trước tiên, ư kiến này dựa vào
một truyền thống rất vững có từ thời thánh Âu- tinh. Ngoài ra, nó c̣n ăn
khớp với niềm tin của Giáo Hội vào sự đồng trinh trọn vẹn của đức Maria,
người Trinh Nữ tuyệt hảo. Và nhất là những lối chú giải khác khó thích hợp
với bản văn Tin Mừng. Những lối chú giải ấy là:
- Theo lối thứ nhất, bắt nguồn từ Đức Hồng Y Cajetan (tk XVI), Đức Ma- ri- a
hiểu rằng sự thụ thai xảy ra tức th́ ngay lúc ấy, nên mới trả lời cùng thiên
sứ: “Làm sao điều đó xảy ra được, v́ ngay lúc ngài đang phán đây, tôi không
biết đến người nam!”. Chữ “biết” có nghĩa dục tính. Nói cách khác, Maria
thắc mắc: trong lúc này, tôi không có thực hiện động tác cần thiết để sinh
sản? Lối hiểu này hơi lạ đấy!
- Theo ư kiến thứ hai, Đức Maria hiểu là sự thụ thai đă xảy ra rồi. Các tác
giả này giả thiết thiên sứ đă nói như sau: “Này bà đă thụ thai và sẽ sinh
con”. Nhưng theo thánh luca, những lời của thiên sứ rơ ràng là: “Này, bà sẽ
thụ thai”.
Theo giả thuyết thứ ba, do Audet đưa ra vào năm 1956, th́ thắc mắc Đức Trinh
Nữ nêu ra để hỏi thiên sứ không phải là quyết định giữ ḿnh đồng trinh, mà
trái lại là quyết định lập gia đ́nh. Bởi biết rằng, theo lời sấm ngôn trong
sách ngôn sứ I-sa-i-a đoạn 7 câu 14, th́ Mẹ Đấng Mes-si-a phải là một trinh
nữ. Nên Đức Maria ngạc nhiên khi nghe thiên sứ đề nghị ḿnh đóng vai tṛ đó
trong khi mẹ đă đính hôn, nghĩa là đă bước vào ṿng ràng buộc của mối dây
liên hệ hôn nhân. V́ thế Mẹ thưa lại: “Làm sao điều ấy (việc Mẹ được gọi trở
nên mẹ đấng cứu thế) xảy ra được, v́ nếu thế tôi không được biết người nam?”
Lối dịch gượng gạo này đă đi xa hơn những giới hạn mềm dẻo của ngữ pháp. Hơn
nữa, nó c̣n giả thiết là người Do-thái thời đó đă hiểu lời sấm của ngôn sứ
I-sa-i-a về một cuộc sinh nở đồng trinh. Nhưng ta không thấy dấu vết ǵ
chứng tỏ sự kiện ấy.
Trong quyển sách nói trên, tôi đă bàn căi tỉ mỉ về các ư kiến này. Theo tôi,
ta không thể tránh né cái ư nghĩa quá hiển nhiên của lời Đức Mẹ đáp lại
thiên sứ trong Lc 1, 34: “Tôi không biết người nam”. Nói thế Đức Mẹ muốn nói
rằng: “Tôi không biết và nguyện sẽ không biết người nam theo nghĩa Thánh
Kinh của tiếng ấy”, hoặc là “Tôi định giữ ḿnh đồng trinh”. Lối dùng th́
hiện tại ở đây tương tự như lối ta quen dùng trong những câu chúc hiện nay.
Hoặc cũng giống như khi một người được mời hút một điếu thuốc đáp lại: “Tôi
không hút thuốc”. Nghe câu ấy, người ta hiểu ngay rằng anh ta muốn nói: “Tôi
không có thói quen hút thuốc, tôi đă quyết định không bao giờ hút thuốc”. Ư
nghĩa đó rất hiển nhiên đến nỗi cả Harnack cũng như nhóm phê b́nh duy lư đều
hiểu như thế. Và v́ không thể t́m ra một lối hiểu khác nên họ đă cố minh
chứng (nhưng không có lư do nào vững cả) rằng câu ấy được thêm vào sau này.
Tại sao các tác giả nói trên, Công Giáo cũng như không công giáo, lại cố t́m
cách tránh né cái ư nghĩa đượng nhiên của bản văn như thế? Thưa chính v́
định kiến sau đây: theo họ, ở thời đó không thể có chuyện thề hứa giữ ḿnh
đồng trinh đối với một thiếu nữ Do-thái.
Có đúng thế không?
Chỉ đúng trên b́nh diện lịch sử thôi ta đă không được quên là vào thời đó có
những người đă bắt đầu khám phá ra giá trị của sự độc thân rồi : đó là những
người phái Esseniens mà ngày nay ta có thể biết khá nhiều về lối sống của họ
nhờ vào các di tích ở Qumrân. Thật ra, chỉ về phía nam nhân thôi, sự kiện ấy
mới được coi như hầu chắc. Tuy nhiên, sử gia Philon ghi nhận là trong số đó
cũng có những trinh nữ đă già và đă giữ ḿnh đồng trinh, không phải v́ bó
buộc như một số nữ tư tế Hy-lạp, nhưng do một quyết định tự do của họ. (De
Vita Comtemplativa số 32).
Dầu sao Đức Maria cũng không đi trước thời cuộc nhiều lắm đâu. V́ chỉ 50 năm
sau ngày xảy ra biến cố truyền tin, tức vào thời thánh Phao-lô, ta đă thấy
có sự hiện diện của một số đông những nữ tín đồ Kitô giáo giữ ḿnh đồng
trinh.
Cuối cùng, nếu có người nữ nào là kẻ đầu tiên có khả năng khám phá ra việc
giữ ḿnh đồng trinh, th́ người nữ ấy lại chẳng phải là Đức Maria sao? Một
Maria “tràn đầy ân sủng của Thiên Chúa” như lời đă chép trong sách Tin Mừng
theo thánh Lu-ca đoạn 1 câu 28; và một Maria trinh khiết vẹn tuyền không
vương chút bợn nhơ ngay từ thuở đầu thai, như tín điều do Đức Thánh Cha Piô
IX định tín đă dạy?
Trong hoàn cảnh đó, tại sao Đức Maria lại “đính hôn” hay nói đúng hơn là
“kết hôn” với Giuse? (nên nhớ là thánh Lu-ca dùng cùng một động từ Hy-lạp:
Mennesteumene – kết hôn trong cả hai trường hợp, lúc truyền tin và khi giáng
sinh). Sở dĩ có chuyện ấy là v́, vào thời đó một thiếu nữ không có quyền tự
định đoạt đời ḿnh. Cha mẹ nàng sẽ lo việc hôn nhân cho nàng. Nhưng, như vậy
th́ làm sao Đức Maria lại có ư định trung thành với lời hứa giữ ḿnh đồng
trinh do Thiên Chúa soi sáng thúc đẩy mẹ thề nguyền? Về điểm này, Tin Mừng
không cho ta biết rơ.
Người ta có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau. Chẳng hạn như giả thuyết
sau đây: chính Giuse, noi gương những người thuộc phái Esseniens, cũng đă
thấu hiểu vẻ cao quư của sự đồng trinh, và Chúa Thánh Thần đă thiết lập
trước một sự đồng t́nh giữa đôi vợ chồng sắp cưới ấy. Nhưng, tất cả những ǵ
chúng ta tưởng tượng ra để điền vào những chỗ trống của lịch sử rồi ra cũng
chỉ là những phỏng đoán mà thôi. Ở đây, cũng như ở nhiều chỗ khác, Tin Mừng
không nhằm thỏa măn tính ṭ ṃ của ta. Nó chỉ mạc khải cho ta những ǵ có
quan hệ đến việc giúp ta nhận biết Thiên Chúa và nhận ra ơn cứu độ. Và điều
cần phải biết là : Thiên Chúa đă muốn sinh ra bởi người nữ ấy, và là một
người nữ đă tâm niệm giữ ḿnh đồng trinh trọn đời. Như thế, lời hứa trong
Thánh Kinh đă nên trọn. Miêu duệ của người đàn bà son sẻ (son sẻ v́ đă tự
hiến giữ ḿnh đồng trinh) sẽ trở nên đông hơn miêu duệ của tất cả mọi người
phụ nữ khác. Thật thế, Maria đă trở thành Mẹ Thiên Chúa và Mẹ loài người.
Nguyên tác : số mục (21) quyển II
R. Laurentin