Điều này được dựa trên hai điểm: 1- Việc không được rước lễ trong nhiều trường hợp chỉ là một h́nh phạt do kỷ luật của Giáo Hội (đ. 915); 2- Đấng Bản Quyền địa phương có quyền tha hay giảm chế tài, h́nh phạt (đ. 1355).
Để minh giải xin đặt các vấn đề
1. Trong
bộ Giáo Luật có điều nào cấm rước lễ không?
Có hai điều 915 và 916 về cấm rước lễ (được quy định trong quyển 4, đề mục 3, về
Bí Tích Thánh Thể) và hai điều 1331 và 1332 về vạ tuyệt thông và cấm chế.
Điều 915
Những
người bị vạ tuyệt thông và những người bị cấm chế sau khi h́nh phạt đă được
tuyên kết hay tuyên bố, cũng như những người ngoan cố sống trong tội trọng tỏ
tường (in manifesto gravi peccato obstinate perseverantes), không được rước lễ.
Điều 916
Người
nào ư thức ḿnh đang mắc tội trọng (conscius est peccati gravis) th́ không được
cử hành Thánh lễ và cũng không được rước Ḿnh Thánh Chúa, nếu không nhận lănh bí
tích sám hối trước, trừ khi có lư do nghiêm trọng và không có dịp để xưng tội,
trong trường hợp này, người ấy phải nhớ rằng ḿnh phải ăn năng tội cách trọn,
trong đó bao gồm việc quyết tâm xưng tội hết sức.
Điều 1331 và 1332
Ngoài hai điều 915 và 916 nói riêng về bị vạ cấm rước lễ, c̣n có hai điều 1331
và 1332 quy định vạ tuyệt thông (đ. 1331) và cấm chế (đ. 1332). Hai điều này có
ấn định h́nh phạt cấm cử hành hay lănh nhận các bí tích và một số h́nh phạt
khác.
2. Người
ly dị tái hôn Công Giáo bị cấm rước lễ là căn cứ theo điều luật nào?
Họ bị cấm căn cứ vào điều 915 và 916, không căn cứ vào điều 1331 hoặc điều 1332
về vạ tuyệt thông hay cấm chế. Lư do đơn giản là luật không quy định họ bị phạt
và theo nguyên tắc chung th́ luật h́nh sự phải được giải thích theo nghĩa hẹp
(đ. 18). V́ vậy không được nới rộng vạ tuyệt thông hay cấm chế để phạt người ly
dị tái hôn.
Chỉ có một số trường hợp luật minh nhiên gán vạ tuyệt thông tiền kết, như tội
phá thai (đ. 1398), tội lạc giáo, ly giáo, bội giáo (đ. 751, 1364#1); hay vạ cấm
chế tiền kết, như trường hợp người không có chức tư tế mà dám cử hành phụng vụ
Hiến Tế Thánh Thể (đ. 1378#2,10),
tu sĩ đă có lời khấn vĩnh viễn mà không phải là giáo sĩ nếu mưu toan kết hôn, dù
chỉ hôn nhân dân sự (đ. 1394#2).
Người ly dị tái hôn, thật sự ra, không có khoản luật nào minh nhiên cấm họ rước
lễ. Họ bị coi như là người “ngoan
cố sống trong tội trọng tỏ tường” (in
manifesto gravi peccato obstinate perseverantes). V́ vậy, họ bị cấm rước lễ theo
quy định của điều 915.
Chúng ta thử xem xét:
a - Bị cấm rước lễ theo điều 916, v́ “ư
thức ḿnh đang mắc tội trọng”.
b- Bị cấm rước lễ theo điều 915, v́ là “người
ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường”.
Nếu phạm nhân không bị điều 916 chi phối, v́ không thấy hay không ư thức ḿnh
có tội trọng th́ người này chỉ c̣n bị điều 915 chi phối, với lư do là “người
ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường”.
Theo thực tế th́ thấy rằng có nhiều người rơi vào trường hợp (a) không thấy ḿnh
hay không ư thức ḿnh có tội trọng v́ hoàn cảnh riêng của họ.
Bản Tường Tŕnh Sau Cùng, số 85, của Thượng Hội Đồng năm 2015 nhận thấy là không
phải tất cả những người li dị tái hôn đều là những người phạm tội trọng. Thượng
Hội Đông đă nhắc lại giáo huấn của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Các mục tử
phải biết rằng, v́ lợi ích của sự thật, các ngài buộc phải thi hành việc biện
phân các hoàn cảnh một cách thận trọng. Thực vậy, có sự khác nhau giữa những
người thành thực cố gắng muốn cứu cuộc hôn nhân thứ nhất của họ và bị bỏ rơi một
cách bất công, và những người, qua lỗi lầm nặng nề của ḿnh, đă hủy diệt một
cuộc hôn nhân thành sự theo giáo luật. Sau cùng, có những người bước vào cuộc
kết hợp thứ hai v́ lợi ích dưỡng dục con cái, và những người, về phương diện chủ
quan, đôi khi chắc chắn trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước và đă bị huỷ
diệt một cách vô phương cứu chữa chưa bao giờ thành sự cả” [Familiaris
Consortio 84].
Bản tương tŕnh sau cùng số 85 này c̣n dẫn chứng từ sách Giáo Lư Công Giáo về
trách nhiệm về tội phạm của ḿnh có thể được giảm nhẹ hay xóa bỏ, v́ áp lực của
hoàn cảnh: “Ngoài ra, điều không thể chối căi được là: trong một số hoàn cảnh,
“Việc quy lỗi và trách nhiệm về một hành động có thể được giảm bớt hay xóa bỏ” [Sách
Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, số 1735] do nhiều điều kiện khác
nhau. Thành thử, phán kết về một hoàn cảnh khách quan không nhất thiết dẫn tới
một phán kết để “qui lỗi chủ quan” [Ủy Ban Giáo Hoàng về Các Bản Văn Luật Pháp, Tuyên
Bố ngày 24 tháng Sáu, năm 2000, số 2a].
Đối với những người trong t́nh trạng mà tội họ được giảm hay được xóa bỏ trên
th́ khi rước lễ họ không vi phạm điều 916, do không thấy ḿnh phạm tội trọng và
thấy ḿnh không xúc phạm đến Ḿnh Thánh Chúa.
Nếu họ đă được rước lễ theo điều 916 do họ không có tội nặng trong lương tâm th́
họ chỉ c̣n bị cấm rước lễ theo điều 915, nghĩa là họ bị cấm theo kỷ luật Giáo
Hội.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, sau khi nh́n nhận những hoàn cảnh đáng thương
của họ, ngài kêu gọi: “Bằng một ḷng bác ái rộng lớn, tất cả sẽ làm thế nào để
họ không cảm thấy bị ĺa xa Hội Thánh, v́ là những người đă được rửa tội, không
những họ có thể mà c̣n phải dự phần vào đời sống Hội Thánh”. Khi ngài nói họ “có
thể mà c̣n phải dự phần vào đời sống Hội Thánh” th́ cũng có nghĩa là ngài công
nhận họ không hoàn toàn mang trọng tội, và c̣n có đời sống ân sủng, họ có thể
được rước lễ. Ngài nói tiếp: “Tuy nhiên, Hội Thánh vẫn xác nhận lại kỷ luật của
ḿnh, kỷ luật xây dựng trên Thánh Kinh, theo đó Hội Thánh không thể chấp nhận
cho những người ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể”(Familiaris
Consortio, số 84).
Như vậy, những người ly dị tái hôn bị Giáo Hội cấm rước lễ, có thể chỉ v́ kỷ
luật của Giáo Hội, được quy định ở điều 915.
3. Điều
915 là một luật kỷ luật hoặc là một luật h́nh sự
Do áp đặt một h́nh phạt (cấm rước lễ) cho người ngoan cố sống trong tội trọng
tỏ tường nên có thể nói điều 915 là một luật kỷ luật hoặc là một có kèm theo
h́nh phạt (luật h́nh sự). Trong cả hai trường hợp, Đức Giám Mục đều có thể: miễn
chuẩn cho luật kỷ luật hoặc tha giảm h́nh phạt cho luật h́nh sự.
Nếu coi điều 915 là luật có tính kỷ luật th́ áp dụng điều 87#1: Giám Mục có
quyền miễn chuẩn luật có tính kỷ luật, như điều 87#1 quy định: “Mỗi khi xét thấy
có lợi ích thiêng liêng cho các tín hữu. Giám Mục giáo phận có quyền miễn chuẩn
cho họ khỏi phải giữ những luật có tính cách kỷ luật, dù phổ quát hay địa
phương, …”.
Nếu coi điều 915 là luật h́nh sự (có kèm h́nh phạt cấm rước lễ) th́ Đức Giám Mục
không có quyền miễn chuẩn luật này, như điều đ. 87#1 quy định tiếp sau đó:
“nhưng không được miễn chuẩn luật h́nh sự hay tố tụng”. Tuy nhiên khi xem điều
915 là luật h́nh sự th́ Đấng Bản Quyền địa phương lại có thẩm quyền tha hay giảm
h́nh phạt, miễn là h́nh phạt đó không dành riêng cho Ṭa Thánh. Điều 1355 quy
định về thẩm quyền tha phạt như sau:
#1. Các
vị sau đây có thể tha h́nh phạt do luật thiết lập, nếu h́nh phạt đă được tuyên
kết hay đă được tuyên bố, miễn là h́nh phạt không dành riêng cho Tông Toà:
10 Đấng
bản quyền đă khởi tố trước toà để tuyên kết hay tuyên bố h́nh phạt, hoặc Đấng
Bản Quyền đă đích thân hay nhờ người khác tuyên kết hay tuyên bố h́nh phạt bằng
sắc lệnh;
20 Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi phạm nhân đang cư ngụ, nhưng sau khi tham khảo ư kiến của Đấng Bản Quyền được nói đến ở 10, trừ khi không thể tham khảo được do những hoàn cảnh bất thường.
#2. H́nh
phạt tiền kết do luật thiết lập nhung chưa được tuyên bố, và nếu h́nh phạt ấy đă
không được dành riêng cho Tông Toà, th́ có thể được Đấng Bản Quyền tha cho những
người thuộc quyền ḿnh và những người đang ở trong địa hạt ḿnh hay những người
đă phạm tội tại đó; bất cứ Giám Mục nào cũng có quyền tha h́nh phạt ấy, nhưng
chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội.
Căn cứ theo điều 1355#2 th́
Đấng Bản Quyền có quyền tha cho những người thuộc quyền ḿnh và những người đang
ở trong địa hạt ḿnh về một h́nh phạt tiền kết do luật thiết lập. V́ vậy, Đấng
Bản Quyền có quyền tha h́nh phạt tiền kết cấm rước lễ theo điều 915.
3. Về sự
tha hay miễn giảm h́nh phạt đối với người ly dị tái hôn
Điều cấm ở 916 th́ không thể miễn giảm v́ khi ư thức có tội trọng nghịch cùng
Chúa mà rước Ḿnh Thánh Chúa là xúc phạm đến Chúa. Tuy nhiên nó là luật thuộc
ṭa trong. Nếu như một người không thấy ḿnh có tội trọng th́ người ấy có thể
được rước lễ. V́ là việc của ṭa trong nên Đấng Bản Quyền để tùy phạm nhân tự
suy xét.
Sự tha giảm lệnh cấm rước lễ nơi người ly dị tái hôn là quy chiếu đến điều 915
và quyền tha hay giảm phạt của Đấng Bản Quyền địa phương. Tuy nhiên trong trường
hợp của người ly dị tái hôn hay người sống hôn nhân ngoại Giáo Luật th́ có những
điều trở ngại, v́ t́nh trạng sống trái luật rơ ràng bên ngoài xă hội của phạm
nhân vẫn tiếp diễn chứ không chấm dứt.
Vấn đề cũng phải cân nhắc việc tha giảm h́nh phạt như vậy:
- có gây ra những tai hại khác không, như gây gương mù gương xấu, coi thường sự
bất khả phân ly của hôn nhân…?
- nếu không tha giảm th́ lợi bất cập hại không, v́ những tai hại khác lớn hơn,
như dễ gây ra t́nh trạng sống xa Giáo Hội, tách biệt khỏi Giáo Hội?
- có làm cho h́nh ảnh Giáo Hội là người Mẹ nhân từ được sáng tỏ không?
4. Cách
thức pháp lư tha giảm vạ
Việc tha phạt phải được thực hiện bằng một hành vi hành chính riêng biệt (actus
administrativus singularis), cho từng cá nhân một. Cụ thể là, mỗi người xin ân
xá phải làm đơn xin và được Đấng Bản Quyền chấp thuận một cách riêng rẽ. Đấng
Bản Quyền không ra một sắc lệnh chung (decretum generale), như ra một luật riêng
trong giáo phận, áp dụng chung cho tất cả mọi phạm nhân trong giáo phận.
5. Đề
nghị một sự miễn giảm vạ cấm rước lễ có giới hạn
Không nên miễn vạ cấm rước lễ hoàn toàn đối với người ly dị tái hôn hay những
người đang sống hôn phối ngoài luật Giáo Hội.Vẫn cần phải duy tŕ một sự khác
biệt nào đó giữa họ với người tín hữu b́nh thường. Điều này cần thiết để sự
thánh thiêng của Bí Tích Hôn phối và tính bất khả phân ly vẫn được tôn trọng.
Nên miễn giảm lệnh cấm rước lễ cho người ly dị tái hôn hay người rối hôn phối
một cách có giới hạn. Đề nghị chỉ cho được rước lễ 3 lần trong một năm trong dịp
lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, ngày con cái được rước lễ lần đầu …, hoặc cho nhiều
hơn là được rước lễ vào các ngày lễ trọng của Chúa hay Đức Mẹ…
Miễn giảm nhiều hơn đối với những người đă già yếu, ít hơn đối với những người mới tái hôn không lâu.
Lm JB. Lê Ngọc Dũng