|
Giải đáp phụng vụ: Khi nào linh mục vi phạm ấn tích giải tội?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa
trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ
Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Sau một lớp giáo dục người lớn gần đây, một linh mục tu sĩ và tôi
đã thảo luận về một sự khác biệt trong cách hiểu của chúng tôivề bản
chất của ấn tích giải tội theo Điều 983 và 984 của Bộ Giáo luật 1983.
Ðiều 983: (1) Ấn tích giải tội là điều bất khả vi phạm; do đó, tuyệt đối
cấm chỉ cha giải tội không được tiết lộ về hối nhân bằng lời nói hay
bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì. Ðiều 984: (1) Tuyệt đối cấm
chỉ cha giải tội không được xử dụng những điều biết được trong tòa giải
tội để làm hại hối nhân, cho dù không có nguy cơ tiết lộ (Bản dịch Việt
ngữ của Bộ giáo luật do các Linh Mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành,
Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh thực hiện).
Cả hai chúng tôi đã được đào tạo bài bản trong chủng viện, và cả hai
chúng tôi quyết tâm rao giảng và sống trong sự trung thành trọn vẹn với
giáo huấn Công giáo đích thực. Câu hỏi đặt ra là như sau: Một “hối nhân”
nói với một linh mục khi xưng tội là ông đã bỏ thuốcđộc vào rượu lễ của
cha rồi. Linh mục không thuyết phục thành công “hối nhân“ ác độc này để
khắc phục tình hình, do đó làm cho cha giải tội ở vị thế uống rượu bị
độc. Liệu cho linh mục có được phép dùng điều biết được trong tòa giải
tội để thay đổi quá trình của sự kiện không, để không ai bị ngộ độc do
rượu, cho dù không có nguy cơ tiết lộ?
Một lập luận là rằng việc cha giải tội đã hành động để thay rượu bằng
cách đổ bình rượu đi, và rót rượu vào đầy lại mà không ai biết, làkhông
phải một sự vi phạm ấn tích giải tội, bởi vì cha không phản bội “hối
nhân“, và cũng không có bất cứ điều gì gây hại cho “hốinhân”. Còn lập
luận ngược lại là cha giải tội không thể dùng điều biết được trong tòa
giải tội, vì ”hối nhân” trong thực tế sẽ biết rằng cha giải tội đã làm
như vậy, và việc này tạo thành một sự phản bội với ”hối nhân“, và là bất
lợi về hậu quả. Trong thực tế, hành động của cha giải tội có thể làm cho
bí tích giải tội là như ghê tởm cho ”hối nhân“, hay làm cho ”hối nhân”
nói với các người khác rằng cha X đã vi phạm ấn tích giải tội, điều này
cũng sẽ làm cho bí tích thành ra ghê tởm. Sự nghiên cứu sâu rộng vào vấn
đề dẫn tôi đến gặp một số linh mục-nhà thần học và nhà giáo luật uy tín,
và các vị này cũng có hai lập trường khác nhau, vì vậy chúng tôi chưa
gần gũi hơn với một câu trả lời rõ ràng.
Hơn nữa, theo như tôi có thể biết, Tòa Thánh đã không bao giờ giải quyết
các câu hỏi lẻ tẻ như thế, và chúng tôi không có ý tưởng liệukịch bản
đầu tiên nào được đưa lên. Phải thừa nhận rằng, khả năng tình huống như
vậy là rất hiếm khi xảy ra, và cuộc thảo luận là giải quyết nố cực kỳ
khó xử. Tuy nhiên, ví dụ trên được dẫn ra nơi này và nơi nọ - thậm chí
trong các chủng viện nữa - để minh họa cho sựbất khả vi phạm tuyệt đối
của ấn tích giải tội, và nghĩa vụ của linh mục có liên quan đến trường
hợp tương tự. – C. M., Camden, New Jersey, Mỹ.
Đáp: Câu hỏi hóc búa cổ điển này của việc giải nố xảy ra thường như một
kịch bản không có người thắng kẻ thua. Tòa Thánh có lẽ không bao giờ
giải quyết một tình huống như vậy, vì Tòa thánh cung cấp cho sự khả tín
của việc suy đoán, và thậm chí có thể làm cho một số người cố gắng thực
sự để lạm dụng bí tích, bằng cách này hay cách khác.
Thật vậy, điều đầu tiên cần lưu ý là rằng đây là một sự lạm dụng bí
tích. Một người trong trường hợp được mô tả như vậy là rõ ràng không ăn
năn sám hối, và do đó không thể nhận được lời xá giải, mặc dù ấn tích
giải tội được áp dụng, độc lập với lời xá giải. Trong trường hợp này,
không có nguy cơ là bí tích sẽ trở nên ghê tởm cho hối nhân, vì người đó
đã chứng tỏ sự bất kính hoàn toàn đối với bí tích, qua một nỗ lực lạm
dụng ấn tích giải tội. Do đó, có thể rằng người ấy cần sự giúp đỡ chuyên
môn hơn.
Một yếu tố khác cần được xem xét là việc sử dụng không rõ ràng từ ngữ
”phản bội” trong câu trả lời, mà sự tìm hiểu của độc giả của chúng tôi
đã phát hiện ra.
“Sự phản bội” (prodere trong tiếng Latinh) được đề cập trong Giáo luật
là một cái gì đó khách quan và ngoại tại. Nó có nghĩa là tiết lộ tội lỗi
và hối nhân, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho người khác biết.
“Sự phản bội” với hối nhân, được đề cập trong một trong các câu trả lời
trên, là một sự phản bội chủ quan trong cảm giác thất vọng, không sống
theo ước vọng, tổn thương tình cảm…
Chỉ có nghĩa đầu tiên mới mang ấn tích giải tội. Việc hối nhân có thể
tức tối vô cùng, khi thấy linh mục không chết do uống rượu từ chén
thánh, không thuộc về vấn đề giáo luật của sự vi phạm ấn tích giải tội.
Sau khi đã làm rõ như thế, chúng ta có thể thấy rằng, miễn là linh mục
không nói gì hết, sự thay đổi rượu hoặc làm vỡ bình đựng rượu không hề
làm cho người ta nghi ngờ tội lỗi hoặc hối nhân, và như vậy là không có
sự vi phạm ấn tích giải tội. Nếu được hỏi, linh mục có thể đưa ra một
câu trả lời cố ý mơ hồ, chẳng hạn ”cha cần thay rượu mới”, và hành vi
của cha sẽ không dẫn đến bất kỳ sự tiết lộ nào.
Trong một số trường hợp, nó có thể dẫn đến một sự nghi ngờ, đặc biệt là
nếu người đó đã được nhìn thấy đi xưng tội và được biết là đãlàm phiền.
Tuy nhiên một nghi ngờ là không phải sự tiết lộ trực tiếp, và không có
gì trong hành vi thay đổi rượu có thể biện minh cho một sự nghi ngờ cả.
Hơn nữa, cha giải tội (như mọi người khác) có nhiệm vụ bảo vệ sự sống và
sức khỏe của chính mình và của người khác. Nhiệm vụ này là chắc chắn, và
không ngưng lại bởi vì ngài là cha giải tội. Sự vi phạm bị cáo buộc của
ấn tích giải tội là không chắc chắn. Giữa một nhiệm vụ chắc chắn và một
nhiệm vụ không chắc chắn, chúng ta luôn phải theo cái chắc chắn.
Có thể lập luận rằng nhiệm vụ này là không tồn tại, nếu sự thực hiện nó
kéo theo vi phạm một hành động vô đạo đức về bản chất,chẳng hạn sự vi
phạm trực tiếp hoặc gián tiếp của ấn tích giải tội bởi sự sơ suất đáng
khiển trách. Theo quan điểm của nhiều chuyên viên luân lý lỗi lạc, sự sơ
suất đáng khiển trách như vậy chỉ có thể xảy ra, nếu linh mục phải nói
về những gì ngài đã làm cho người khác, theo một cách nào đó làm cho họ
xác định được tội lỗi và hối nhân.
Một điểm nữa là linh mục cũng biết rằng chất thể của bí tích Thánh Thể
đã bị pha trộn, do đó nó không còn là chất thể hợp lệ cho hy tếThánh Lễ
nữa. Bởi vì ngài không thể cử hành một cách có ý thức một Thánh lễ không
hợp lệ, ngài cũng sẽ có trách nhiệm luân lý nhất định để thay thế rượu
lễ khác.
Vì tất cả các lý do này, tôi sẽ nói rằng linh mục, trong trường hợp giả
thiết trên đây, sẽ và phải thay rượu lễ khác, trong khi tránh bất kỳlời
nói nào có thể dẫn đến việc tiết lộ tội lỗi và hối nhân. (Zenit.org
28-5-2013)
Nguyễn Trọng Đa |