|
Tại sao gọi là Lễ Ba Vua?1/5/2012
4:50:37 PMHôm
nay phụng vụ kính lễ Hiển linh. Tuy nhiên nhiều người vẫn quen gọi là lễ
Ba vua? Danh xưng nào chính xác hơn?
Thế còn tại sao gọi là lễ Ba Vua?
Như vừa nói, trong lễ Hiển linh (epiphania), phụng vụ mừng ba biến cố mà
Chúa Giêsu xuất hiện cho nhân loại. Tuy nhiên, biến cố thứ nhất (nghĩa
là tỏ hiện cho các đạo sĩ) thu hút sự chú ý của dân gian hơn, bởi vì gắn
liền với lễ Giáng sinh, mang theo hình ảnh của hài nhi Giêsu sinh ra tại
hang đá Bê-lem. Bên cạnh tượng Thánh nhi nằm trong máng cỏ giữa con bò
và con lừa, người ta đặt tượng Đức Mẹ, thánh Giuse; xa hơn chút nữa là
các mục đồng được các thiên thần gọi đến hang đá. Mãi hơn 10 ngày sau,
người ta mới thêm một tốp nữa gồm có ba vua từ phương xa đến thờ lạy
Chúa, mang theo lễ phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vì thế gọi là “lễ
ba vua”.
Ba ông là Vua của những nước nào vậy?
Chúng ta cần phải phân biệt đâu là nền tảng Kinh thánh, và đâu là truyền
kỳ dân gian. Bản văn Tin mừng theo thánh Matthêu 2,1 nói rằng: “Khi Đức
Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giuđê, thời vua Hêrôt trị vì, có mấy nhà
chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem”. Bản văn nói đến các nhà
“chiêm tinh” chứ không phải là “vua”, và cũng không xác định con số là
bao nhiêu vị. Nhiều bức hoạ cổ thời vẽ hai, bốn, sáu, tám, và thậm chí
có nơi tăng đến số 12 (có lẽ cho cân xứng với 12 chi tộc Israel). Tuy
nhiên, vào thế kỷ III, ông Origène đã nói đến 3 vị, và truyền thuyết này
dần dần lan rộng trở thành phổ thông từ thế kỷ V.
Con số 3 có ý nghĩa gì không?
Số 3 có thể giải thích vừa theo nghĩa đo lường toán học, vừa theo nghĩa
biểu tượng. Trước tiên là theo nghĩa toán học. Thánh Matthêu (chương 2
câu 10) nói đến 3 lễ phẩm mà các ông mang đến: vàng, nhũ hương, mộc
dược. Người ta suy đoán rằng nếu có 3 lễ phẩm thì hẳn là phải có ba
người: nếu ít hơn thì cồng kềnh (không lẽ một ông phải vác ba món quà?),
nhiều hơn thì cũng kỳ (chẳng lẽ có người đi tay không!). Theo nghĩa biểu
tượng. Trong Cựu ước, người ta nói đến ba thiếu niên cương quyết không
chịu bỏ đạo mặc dù bị vua Nabucođonosor doạ bắt bỏ trong lò lửa. Ba nhà
chiêm tinh của chúng ta cũng thế: họ can đảm lên đường đi tìm vua dân Do
thái, bất chấp những khó khăn của hành trình, và kể cả nguy cơ bị vua
Hêrôt ám sát.
Thánh Matthêu nói đến các nhà chiêm tinh, tại sao ba nhà chiêm tinh lại
biến thành ba vua?
Theo các nhà chú giải Kinh thánh, các nhà “chiêm tinh” không phải là các
ông thầy bói đâu, nhưng có thể so sánh như các nhà thiên văn, và cách
riêng ở bên Ba-tư, họ thuộc hàng ngũ tư tế, làm cố vấn cho nhà vua về y
khoa và thiên văn. Truyền thống dân gian gọi họ là “các vua” bởi vì móc
nối với các lễ phẩm được nói ở thánh vịnh 72 câu 10 “Từ Tharsis và hải
đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Saba,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự”. Thực ra thánh vịnh 72 nói đến các vua
chúa Ả-rập và Saba đến yết kiến vua Salomon vì khâm phục tài trí khôn
ngoan của ông. Nhưng các Kitô hữu áp dụng cho các vua từ tứ phương đến
thờ lạy Chúa Giêsu.
Làm sao mà có chuyện “tứ phương thiên hạ”, đang khi mà thánh Matthêu chỉ
nói đến những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông?
Trong tư tưởng thánh Matthêu, phương Đông chắc chắn không phải là Trung
Hoa Việt Nam, mà chỉ là những nước nằm ở bên kia bờ sông Giorđanô, và
các giáo phụ cho rằng có thể là từ Ba tư hoặc Ả-rập. Thánh Augustinô đã
giải thích các đạo sĩ từ phương Đông như là “hoa trái đầu mùa của muôn
dân sẽ được lãnh ơn cứu độ” (Sermo 200,1: PL 38,1028). Nhưng mãi đến thế
kỷ XIII mới phát sinh truyền thống nói đến ba vua tượng trưng cho ba
châu lục Âu, Á, Phi, thuộc ba dòng dõi của ông Noe: Sem, Cam, Japhet (St
10,1). Từ đó ta thấy ông vua da trắng, da vàng, da đen. Tưởng cũng nên
biết là khi mới khám phá châu Mỹ, người ta cũng muốn thêm một ông vua da
đỏ nữa, nhưng tục lệ này không được phổ biến cho lắm.
Ba vua không chỉ tượng trưng cho ba châu lục, mà còn có tên riêng nữa
phải không?
Đúng thế. Từ thế kỷ VII, ba ông được đặt tên là Balthasar vua Ấn độ,
Melchior vua Ba tư, Gaspar vua Ả-rập. Ta thấy các tên này không có màu
sắc gì của châu Á và châu Phi cả! Chưa hết đâu, lưu truyền dân gian còn
muốn rằng sau khi đã thờ lạy Chúa Giêsu, ba ông trở về Ba Tư. Về sau khi
thánh Tôma tông đồ đi truyền giáo, ngài đã gặp lại ba ông và đã tấn
phong giám mục cho họ, và cử họ đi loan báo Tin mừng. Cả ba được phúc tử
đạo, thi hài được tôn kính ở Ba tư, rồi sau đó chuyển về Milanô
(Italia), và từ cuối thế kỷ XII được hoàng đế Federicô I đem qua nhà thờ
chánh toà Colonia (Đức).
Như vậy phần lớn chuyện ba vua là do truyền thống dân gian dựng nên. Còn
thánh Matthêu muốn nói gì khi kể chuyện các nhà chiêm tinh đến thờ lạy
Chúa?
Thánh Matthêu gói ghém nhiều sứ điệp trong đoạn Tin mừng mà phụng vụ
công bố trong ngày lễ Hiển Linh. Như đã nói, thánh sử không nói đến các
vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, nhưng là các nhà chiêm tinh đi tìm thờ
lạy Đức Giêsu là vua, như câu hỏi mà các ông đã đặt ra cho triều đình
Hêrôđê: “Đức Vua của dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy
vì sao bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài”. Các ông đi bái
lạy Đức Giêsu như là Vua. Các giáo phụ giải thích ý nghĩa của 3 phẩm vật
dâng tiến - vàng, hương, mộc dược - như là việc tuyên xưng ba phẩm tính
của Người: vàng vì là vua, hương vì là Thiên Chúa, mộc dược như là con
người hay chết. Tuy nhiên có lẽ thánh Matthêu không đi xa như vậy. Điểm
chính mà thánh sử muốn nhắm tới đó là cho thấy rằng các dân ngoại từ
phương xa đã biết nhìn nhận đức Giêsu là vua Mêsia, đang khi mà dân Do
thái thì thờ ơ lãnh đạm, thậm chí còn muốn tìm cách thủ tiêu Người nữa.
Nhưng vua Hêrôđê đâu có giết được Chúa Giêsu?
Đúng vậy. Thánh Matthêu cho chúng ta biết rằng một thiên sứ đã hiện ra
báo tin cho ông Giuse, và ông đã đưa Đức Mẹ và hài nhi Giêsu lánh nạn
sang Ai cập. Tuy nhiên, điều xảy ra vào lúc giáng sinh ra như đã tiên
báo số phận tương lai của Đức Giêsu: Ngài sẽ bị dân tộc của mình tẩy
chay (Mt 21,42-43), nhưng các dân ngoại sẽ chấp nhận Tin mừng. Mặt khác,
ra như thánh sử cũng biện minh phần nào thái độ của dân Do thái, đó là
sự hiểu lầm của họ. Vua Hêrôđê nghe nói có một vị vua mới sinh ra, và
ông lo ngại cho ngai báu của mình sẽ bị lung lay. Nhưng Đức Giêsu không
phải là Vua theo nghĩa chính trị đâu. Ngài làm Vua theo nghĩa khác, vua
Mêsia.
Làm sao các nhà chiêm tinh biết được có vua Mêsia giáng trần?
Qua dấu của ngôi sao. Nói cho đúng, chuyện một ngôi sao lạ như là điềm
của một vĩ nhân giáng trần không phải là xa lạ trong lịch sử các dân
tộc. Tuy nhiên, có lẽ thánh sử Matthêu không dựa vào lịch sử các tôn
giáo cho bằng dựa vào chính truyền thống của dân Do thái. Từ đoạn văn
sách Dân số (24,17) nói đến “một ngôi sao sẽ xuất hiện từ nhà Giacóp và
vương trượng từ Israel”, các rabbi đã chú giải trong sách Targum như thế
này: “Một vị vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp, và một vị cứu tinh từ nhà
Israel”. Vào thời Tân ước, nhiều người gọi Đấng Mêsia như là ngôi sao
nhà Đavít, như chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền chương 22,16.
Trong lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận về bản chất của
ngôi sao xuất hiện cho các nhà chiêm tinh: phải chăng đó là một sao
chổi, hay một ngôi sao nào khác thường? Phải chăng ngôi sao trên bầu
trời, hay chỉ là ngôi sao trong tâm hồn của các nhà chiêm tinh (nghĩa là
hiểu theo nghĩa bóng)? Thánh sử Matthêu không nói rõ điều đó, mà chỉ ghi
nhận rằng: các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhìn nhận Đức Giêsu là vị
cứu tinh, và họ lên đường đi tìm kiếm để thờ lạy; còn chính các luật sĩ
sống ở Giêrusalem cầm Kinh thánh trên tay, biết rằng Đức Mêsia sẽ giáng
sinh tại Belem, nhưng họ không bận tâm tìm kiếm thờ lạy. Hình như bài
học này vẫn còn giá trị cho cả chúng ta: chúng ta tự hào vì mình đã tin
Chúa, biết Chúa, nhưng chẳng buồn tìm kiếm thờ lạy yêu mến Ngài; đang
khi những người ngoại đạo thì lại gần gũi Chúa hơn bởi vì họ không ngừng
tìm chính đạo và tuân giữ. nguồn: Đaminh VN Nếu chỉ phân tích từ ngữ Hán Việt, thì quả thực là khó nói. “Hiển linh” là gì? Trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ học xuất bản, “Hiển linh” (động từ) được định nghĩa là: “thần thánh tỏ rõ sự linh thiêng, theo mê tín”. Từ điển Việt Nam do ông Thanh Nghị xuất bản năm 1958 cho rằng “hiển linh” là tĩnh từ, có nghĩa là: “linh thiêng, rõ ràng”. Xem ra đó cũng là ý kiến của ông Lê Thanh, tác giả cuốn Tiếng nói nôm na (1999): hiển linh là “rất linh thiêng, thiêng liêng lộ rõ ra bằng sự thật”. Dù hiểu “hiển linh” như động từ hay tính từ đi nữa, thì chẳng qua cũng là dịch bởi danh từ gốc Hy-lạp epiphania, có nghĩa là sự “hiện ra, bày tỏ”. Tân ước dùng từ này để nói đến việc Thiên Chúa đã xuất hiện (tỏ lộ, mặc khải) cho nhân loại ở nơi Đức Giêsu (Lc 1,79; Tt 2,11; 3,4), hoặc là việc Đức Kitô sẽ xuất hiện trong vinh quang ngày tận thế (2Tm 4,8; Tt 2,13). Phụng vụ (cách riêng là bên Đông phương) nói đến ba cuộc tỏ hiện của Chúa Giêsu: thứ nhất cho các đạo sĩ; thứ hai tại sông Hòa giang; thứ ba tại tiệc cưới Cana. Dù ba biến cố cách xa nhau hơn 30 năm trường, nhưng đều nhằm bày tỏ thiên tính của Đức Giêsu, đặc biệt vào chặng đầu của mầu nhiệm Nhập thể. Cả ba biến cố đều được ghi lại trong Phúc âm, và được tóm lại trong Điệp ca Magnificat Kinh chiều lễ Hiển linh. |