|
Các Giáo hội Công Giáo Đông Phương là ai và ở đâu?1/11/2015 1:34:26 PMXưa nay, người ta chỉ quen nói đến các Giáo Hội Chính Thông Đông Phương ( Easter Orthodox Churches) tức các Giáo Hội Kitô Giáo hiện chưa hiệp thông trọn vẹn (full communion) với Giáo Hội Công Giáo La Mã sau cuộc ly giáo Đông –Tây ( East-West schism) năm 1054.
Mặc dù có nhiều cố gắng để xích lại gần nhau vì cùng chung nguồn gốc
Tông Đồ ( Apostolic succession) nhưng Giáo Hội Công Giáo và các Chính
Thống Đông Phương cho đến naya vẫn chưa thể hiệp thông được mặc dù
đã tha vạ tuyệt thông ( anthemas=excommunications) cho nhau, sau khi
Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras I (
Constantinople Hy lạp) gặp nhau lần đầu tiên năm 1966 đem lại kết quả
cụ thể là hai Giáo Hội đã tháo gỡ vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp
gỡ lich sử này.
Tuy nhiên, giữa Hai Giáo Hội anh em trên đây vẫn chưa hiệp thông trọn
vẹn được với nhau cho đến nay chỉ vì trở ngại lớn là vai trò lãnh đạo
Giáo Hội của Đức Thánh Cha, tức Giám Mục Rôma mà anh em Chính Thống
Đông Phương chưa nhìn nhận và vâng phục.
I- Đôi dòng lịch sử :
Như đã nói ở trên, ngoài các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương chưa hiệp
thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã, còn có các Giáo Hội Công Giáo Đông
Phương (Eastern Catholic Churches) đang hiệp thông với Giáo Hội Công
Giáo hoàn vũ mà có lẽ ít người biết đến họ
Khi nói đến các Giáo Hội này, người ta phải nghĩ ngay trước hết đến bốn
Tòa Thượng Phụ ( Patriarchates) ở phương Đông là Alexandria, Antioch,
Jerusalem và Constantinople, ngoài Tòa Thượng Phụ Rome về phái Tây, tức
Giáo Hội Công Giáo La Mã. Các Tòa Thượng Phụ này đặc tránh các giáo đoàn
Kitôgiáo có nghi thức phụng vụ riêng theo văn hóa và truyền thống lâu
đời sau đây:
1- Thuộc về Giáo Hội hay Tòa Thượng Phụ Antioch là các giáo đoàn West
Syrians, Maronites (Công Giáo Li Băng) và Malankarese, Chaldeans (Công
giáo Iraq) và Armenians.
Các tòa Thượng Phụ nói trên, từ đầu, được coi là các Giáo Hội Mẹ của
Kitô Giáo (Mother Churches of Christianity) trước khi xẩy ra những cuộc
ly giáo (schisms) mà nghiêm trọng hơn hết là ly giáo giữa Rome và
Constantinople ( Hy Lạp) vào năm 1054 và kéo dài cho đến nay.
Theo Sắc Lệnh về các Giáo Hội Đông Phương (Orientalium Ecclesiarumn)
( OE) của Thánh Công Đồng Vaticanô II, thì “Thể chế Thương
Phụ (Patriarchy)" đã được thịnh hành từ lâu đời trong Giáo Hội và đã
được các Công Đồng chung nhìn nhận.
Thực ra danh hiệu Thượng Phụ Đông Phương (Eastern Patriarch) dùng để chỉ
vị Giám mục có thẩm quyền trên tất cả các giám mục kể cả các vị Tổng
Giáo Chủ (Tổng Giám mục), trên hàng giáo sĩ và giáo dân trong địa hạt
hay thuộc lễ chế của mình, chiếu theo luật định, nhưng vẫn tôn trọng
quyền tối cao của Giáo Hoàng La Mã.”
(cf. OE. Số 7)
2- Giáo Hội Công Giáo Chaldean (The Chaldean Catholic Church)
của người Kitô hữu Ỉraq
Nhóm này phần lớn tập trung ở thủ đô Baghdag với nghi thức phụng vụ
riêng gọi la Chaldean Rite hay còn gọi là East Syrian hay
Assyro-Chaldean Rite. Nghi thức này bắt nguồn từ di sản phụng vụ cổ
xưa của Giáo Hội Mesopotamia.trong đế quốc Ba Tư
Đây là Giáo Hội Công Giáo của người Li Băng (Lebanon). Giáo Hội này
xuất hiện từ năm 681 và lấy tên Thánh Maron làm tên gọi chung của Giáo
Đòan. Đã có thời gian dài Giáo Đoàn này không hiệp thông với Rôma. Nhưng
từ năm 1182 đến nay, Giáo Đoàn này đã hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội
Công Giáo La Mã,. Họ theo nghi thức riêng gọi là Maronite Rite với ngôn
ngữ phụng vụ là Syriac và Arabic.Nghi thức phụng vụ này không những có
ở Li Băng mà còn thấy thực hành ở Syria , Ai Cập và Cyprus. Mới đây, ngày 14 tháng 4 năm 2011, Thượng phụ Antioch coi sóc người Công giáo Maronites, đã đến Rome để viếng thăm Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI cùng với một số giám mục và linh mục Maronites. Nhân dịp này Đức Thánh Cha đã long trọng nhắc lại với Đức Thượng Phụ Bechara Pierre Rai về việc Giáo Hội hoan hỉ đón mừng anh em Moronites Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo như Đức Thánh Cha đã nói trong thư gửi Đức Thượng Phụ ngày 24 tháng 3 vừa qua.
4- Giáo Hội Công Giáo Coptic ( The Coptic Catholic Church)
Danh xưng Copt là tiếng Arabic có nghĩa là Ai Cập, được dùng để chỉ
những tín hữu Công Giáo hay Chính Thông Giáo Ai Cập. Do đó, Giáo Đoàn
Coptic là Giáo Hội Công Giáo Ai Cập ( Egypt) đã hiệp thông với Giáo Hội
Công Giáo Rôma từ năm 1741, sau nhiều thăng trầm của lịch sử Ai Cập nói
chung và lịch sử sống còn của Giáo hội Coptic nói riêng.Theo lịch sử
truyền giáo thì Thánh Mar-cô, thánh sử., đã thành lập Giáo Hội này cho
người Kitô hữu Ai Cập. Mặt khác, danh xưng Coptic cũng được dùng để chỉ
Giáo Hội Chính Thống Ai Cập (The Coptic Orthodox Church) như đã nói ở
trên.
Để đánh giá cao những đóng góp của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương,
Thánh Công Đồng Vaticanô II, qua Sắc Lệnh Orientalium Ecclesiarum, (
OE) đã long trọng tuyên bố như sau về các Giáo hội này:
“ Lịch sử, các truyền thống và rất nhiều thể chế trong Giáo Hội đều
chứng minh rõ ràng rằng các Giáo Hội Đông Phương có công biết bao đối
với toàn thể Giáo Hội. Vì vậy, Thánh Công Đồng không những hết lòng yêu
mến và ca ngợi đúng mức gia sản tinh thần của các Giáo hội này, mà còn
xác quyết đó là sản nghiệp của toàn thể Giáo Hội Chúa Kitô. Do đó Thánh
Công Đồng long trọng công bố rằng các Giáo Hội Đông Phương cũng như Tây
Phương đều có quyền lợi và bổn phận theo những qui luật riêng của mình
và những qui luật này có giá trị nhờ ở đặc tính cổ kính đáng quí trọng,
phù hợp với tập tục của tín hữu hơn và xem ra có thể mưu ích cho các
linh hồn cách hữu hiệu hơn.” (OE, số 5)
Mặt khác, nền thần học Kitô Giáo (Christian theology) và lối
sống đan viện hay ẩn tu (Monasticism) cũng xuất phát từ
Phương Đông trước khi được chấp nhận và sửa đổi bên Tây Phương. Thêm vào
đó, trong vòng 9 trăm năm lịch sử Giáo Hội, các Công Đồng Đại kết (
Ecumenical Councils) đều họp ở Phương Đông.
Sau hết, những kinh phụng vụ như the Kyrie, the Gloria, và Kinh
Tin Kinh Nicene mà phụng vụ Giáo Hội ngày nay đang dùng cũng là di
sản thiêng liêng của Phương Đông.
|