Điều đó
không chỉ thực hiện nghĩa vụ báo hiếu mà còn chuẩn bị cho chúng ta nhớ
đến quê hương trên Trời và cảm nghiệm được tình yêu vô bờ bến của Thiên
Chúa, Đấng đã chịu đau khổ, chịu chết, chịu mai táng trong mồ và xuống
ngục tổ tông, để ban ơn cứu độ cho những người đã chết trước đó, ngay
lúc đó và mãi mãi đến muôn đời.
“Đức Giêsu xuống âm phủ” là một tín điều được ghi rõ ràng trong kinh Tin
kính, một tín biểu đức tin mà chúng ta vẫn thường hay đọc. Khởi đi từ
mạc khải (x.1Pr 3,18tt) và được Giáo lý Hội Thánh Công giáo long trọng
minh xác (số 635-636), tín điều này nói lên một ý nghĩa thâm sâu trong
mầu nhiệm cứu độ, liên quan trực tiếp đến việc Đức Giêsu chịu chết, chịu
mai táng trong mồ và đã phục sinh vinh hiển.
Tuy nhiên, tín điều này thường bị lãng quên; có lẽ là do sự thiếu hiểu
biết hoặc là hiểu biết chưa đúng về nội dung, người ta chưa thấu đáo về
tầm quan trọng cũng
như ý nghĩa thần học của định tín mà Giáo Hội muốn nói? Đây chính là
tính cấp thiết, mục đích, nội dung và ý nghĩa của chủ đề mà người viết
nhắm đến: thử tìm lại một cái nhìn hệ thống về tín điều “Đức
Giêsu xuống âm phủ”.
Quả thế, bài viết này sẽ lần lượt tìm hiểu quan niệm chính thống của
Giáo Hội về “ngục tổ tông”,
lịch sử phát triển vấn đề, xác định đây là một định tín bắt nguồn từ Mạc
Khải và ý nghĩa thần học rồi kết thúc trong niềm hy vọng lớn lao về ơn
cứu độ.
I. Khái quát về
âm phủ hay ngục tổ tông
Là Kitô hữu, đã rất nhiều lần chúng ta đọc hay ít là nghe người khác nói
về “âm phủ” hay “ngục
tổ tông”: trong kinh tin kính, trong nhiều đoạn Thánh Kinh hay trong
giáo lý phổ thông hoặc một lần nào đó trong bài giảng của một linh mục
mà vô tình ta nghe được. Tuy nhiên, hiểu khái niệm đó ra sao, nó được
biết đến và duy trì trong niềm tin của Giáo Hội như thế nào lại là điều
không dễ và mấy ai biết được?
1. Khái niệm
Cụm từ “xuống ngục tổ tông”
được dịch từ kinh Tin kính bản Latinh là “descendit
ad inferos” mà đúng ra phải dịch là “xuống
âm phủ”. Thuật ngữ “inferi”
hay “infers”
trong câu kinh Tin kính trên đây được dịch từ Sheol của
Do Thái hay Hades của
Hy Lạp có nghĩa là “nơi ở của người
chết” hay là “âm
phủ”, “âm
ty” chứ không có nghĩa là hoả
ngục, địa ngục hay là tình
trạng bị luận phạt giống
như một số người quan niệm. Do đó có thể định nghĩa ngục
tổ tông hay âm
phủ là chỗ an nghỉ của
những người đã chết. Trước khi Đấng Cứu Thế đến, mọi người chết, lành
hay dữ đều phải vào đó. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa và chờ
đợi Đấng Cứu Thế. Số phận của họ không giống y hệt nhau, như Đức Giêsu
đã cho thấy trong ví dụ về Lazarô nơi cung lòng Abraham (x.Lc 16,22-26)
[1].
Đây là một thuật ngữ rất khó hiểu mà khi tìm đọc các sách chú giải,
chúng ta nhận thấy hầu hết các tác giả đều quy chiếu nguồn gốc sự khẳng
định Chúa Kitô xuống ngục tổ tông được lấy từ đoạn thư thứ nhất của
thánh Phêrô 3, 18-20, rằng “…thân
xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ thần khí, Người đã được phục sinh.
Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm…”. Theo đó,
phát xuất từ quan niệm của Cựu ước, thuật ngữ Sheol được
người Do thái hiểu là “nhà hội ngộ
của hết mọi nhân sinh” (G 30, 33), nơi tất thảy chư sinh đều phải
xuống (x.Ed 31, 14) để mà cảm nếm cảnh bất lực, thất vọng vì “bị
Thiên Chúa lãng quên” (x.Tv 6,6; 38,6; 88, 6-9…). Các nền văn hoá
vùng Địa Trung Hải ngày xưa cũng quan niệm như vậy.
Rõ ràng là người Do Thái và ngay cả Kitô giáo trong suốt một thời kỳ
lịch sử lâu dài đã phân định vị trí rõ ràng cho thế giới, nào là thiên
đàng, hoả ngục, luyện ngục, lâm-bô… để rồi “tìm
địa chỉ” cho từng người sau khi chết tuỳ thuộc vào tình trạng cuộc
sống của họ. Quan niệm này đã trở nên lỗi thời khi người ta đọc và giải
thích Kinh Thánh không quá lệ thuộc vào ý nghĩa văn tự nữa. Điều đó cũng
phù hợp với sự tiến bộ về nhận thức của con người trong tương quan với
khoa học và vũ trụ. Chúng ta sẽ trở lại với vấn đề này sau, nhưng ngay
bây giờ phải khẳng định rằng các nhà thần học hiện đại không còn phân
định thế giới ấy trong các giới hạn như vậy mà nhìn nhận các vấn đề
thiên đàng, hoả ngục như là những trạng thái hạnh phúc và đau khổ của
con người sau khi chết [2].
2. Tiến trình phát triển của định chế này
Trước hết, trong Giáo Hội vẫn đồng thời tồn tại hai bản tuyên tín (mà ta
thường gọi là kinh Tin kính): bản tuyên tín các Tông đồ và bản tuyên tín
của Công đồng Nicée (325) – Constantinople (381). Trong bản tuyên tín
các Tông đồ, tín điều Chúa
Giêsu xuống ngục tổ tông được
khẳng định ngay từ thời Giáo hội sơ khai và được Kitô giáo trung thành
gìn giữ qua các thế hệ [3]. Còn trong truyền thống Giáo Hội, định chế
này lại được nhắc đến khá muộn, không phải trong lần họp công đồng chung
đầu tiên, công đồng Nicée năm 325, mà chỉ xuất hiện trong tín biểu thế
kỷ thứ V, công đồng Cachédoine năm 450, khi công đồng này chấp nhận và
hoàn chỉnh bản tuyên tín của công đồng Nicée –Constantinople [4].
Từ đó, tín điều Đức Giêsu xuống ngục tổ tông mặc nhiên coi như được Giáo
Hội thừa nhận và thuộc về nội dung của đức tin Kitô giáo. Công đồng
chung Laterano IV chấp nhận chung kết vào năm 1215, và công đồng Lyon II
trong bản tuyên xưng đức tin của Michele Paleologo năm 1274 đã tái khẳng
định lại.
Tuy nhiên, bản kinh Tin kính chúng ta đọc trong thánh lễ hiện nay lại
không còn công thức “Đức Giêsu
xuống ngục tổ tông” này nữa [5]. Nhưng giáo lý Hội Thánh Công giáo
vẫn long trọng xác định việc “Đức
Giêsu xuống ngục tổ tông”, từ số 631 đến số 637 [6]. Phải chăng là
có gì khúc mắc trong sự khác biệt này? Liệu có phải là thần học hiện đại
đã có cái nhìn mới về tín điều này chăng?
II. Đức Giêsu
xuống ngục tổ tông
Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi bàn luận về tín khoản Đức Giêsu xuống
ngục tổ tông. Tuy nhiên, vì tính phức tạp của vấn đề mà các nhà thần học
đều thống nhất “…chỉ
có thể hiểu được tín khoản Đức Giêsu xuống ngục tổ tông khi chúng ta đặt
nó trong tương quan với các Chân Lý Đức Tin khác, tức là nại đến một vũ
trụ học, một nhân loại học, một cứu độ học … và một cánh chung học. Đồng
thời giải thích tín khoản đó thông qua việc đào sâu ý nghĩa nhiệm
mầu của nó.” [7].
1. Một tín điều mạc khải
Ngay từ phần mở đầu, chúng ta đã khẳng định tín khoản này có nền tảng
vững chắc từ Kinh Thánh, đã được tiên báo từ thời Cựu ước và hiện thực
hoá trong thời Tân ước. Quả thế, chúng ta sẽ chỉ dẫn các gợi ý của Cựu
ước và minh xác của Tân ước, đồng thời xem xét đến quan điểm của Huấn
quyền cũng như các giáo phụ và một số nhà thần học hiện đại về định chế
này.
Trước hết, Kinh
Thánh Cựu ước đã nhiều
lần, qua nhiều thời đại nói đến tình trạng “ngục
tổ tông”, một tình trạng mọi người sau khi chết đều thuộc về đó (như
đã nói ở mục I) mà tự sức con người bất lực và chỉ cậy trông sự giải
thoát của Đấng cứu độ. Isaia viết “Nơi
âm phủ chẳng ngợi khen Ngài được và sự chết chẳng tôn vinh Ngài được,
những kẻ đã xuống mồ rồi chẳng còn trông cậy vào lòng Chúa tín trung”
(Is 38,18). Tác giả Thánh vịnh cũng viết “Chốn
tử vong ai nào nhớ Chúa, nơi âm phủ ai ngợi khen Ngài?” (Tv 6,6)
hoặc “Chúa được lợi gì khi con phải
chết, được ích chi nếu con phải xuống mồ? Nắm tro tàn làm sao ca tụng
Chúa, và tuyên dương lòng thành tín của Ngài?” (Tv 30, 10). Từ đó,
một ánh sáng loé lên, một niềm hy vọng dâng trào và một lời tiên báo
khai mở. “Cho kẻ chết mà Chúa sẽ
làm phép lạ sao? Những kẻ qua đời sẽ chỗi dậy để ca ngợi Chúa? Sự nhân
từ Chúa sẽ được truyền rao trong mồ mả sao? hoặc sự thành tín Chúa được
giảng trong vực sâu ư? Các kỳ công Chúa sẽ được biết trong nơi tối tăm
sao? Và sự công chính của Chúa sẽ được rõ trong xứ bị bỏ quên ư?” (Tv
88, 10-12) [8].
Đó là những những quan niệm của người Do Thái về thế giới sau khi chết,
chúng ta phải nhớ rằng toàn thể vấn đề này cần phải được suy nghĩ, không
phải là về địa ngục như có khi chúng ta hiểu lầm từ ấy, nhưng là việc
Chúa Kitô đã đến với những kẻ chết trong thế giới âm u tối tăm của họ,
để cứu thoát họ ra khỏi đó.
Thứ đến, Kinh
Thánh Tân ước mới là nền
tảng cho tín khoản chúng ta đang nói tới. Giáo lý về việc Đức Giêsu Kitô
xuống âm phủ trong tín biểu đức tin được đặt nền tảng trên hai mệnh đề
trong thư thứ nhất của thánh Phêrô tông đồ: “Người
đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm” (1Pr
3,19) và “quả
thật, chính vì thế mà Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ
chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ
được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa” (1Pr 4,6).
Nhiều đoạn khác trong Tân ước cũng đã trực tiếp hay gián tiếp nói đến
tín khoản đó. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô đã nói: “Đức
Giêsu đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới đất, Đấng đã xuống cũng là
Đấng đã lên và dẫn theo một đám tù” (Ep
4,9-10). Hay là trong Công vụ tông đồ 3,15; hay Rm 8,11; hoặc 1Cr 15,20…
cũng nói việc Đức Giêsu “chỗi dậy
từ cõi chết”, tức là trước khi sống lại, Người đã ở nơi kẻ chết
(x.Dt 3,20).
Giáo lý Hội Thánh Công giáo số
635 cũng đã nêu lại các quan điểm của Kinh Thánh để khẳng định “Đức
Giêsu xuống âm phủ để kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa và ai nghe thì
được sống (Ga 5,25). Đức Giêsu, Đấng khơi nguồn sự sống (Cv 3,15). Đã
nhờ cái chết của người, tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là
ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sự chết mà suốt đời sống trong tình
trạng nô lệ (Dt 2,14-15)”.
2. Quan điểm của một số Giáo phụ và thần học gia hiện đại
Truyền thống thần học xa xưa của Giáo Hội cho rằng những người chết
không thực sự được hưởng hạnh phúc Thiên đàng khi Đức Giêsu Kitô chưa
thực hiện chương trình cứu chuộc. Một tác giả ở thế kỷ thứ V, Domatius viết
“Trước khi Chúa Giêsu chịu nạn, mọi
linh hồn các thánh bị giam cầm trong hoả ngục do món nợ của Ađam, cho
tới khi được giải thoát khỏi ách nô lệ, do quyền lực của Chúa, nhờ cái
chết vô tội của người trên thánh giá” [9].
Từ lâu lắm, Justin tử đạo đã từng đặt nghi vấn và đi đến kết luận: “Đức
Chúa, Thiên Chúa của Israel, nhớ lại kẻ chết của Ngài đang ngủ trong
lòng đất và xuống với họ để nói cho họ biết về Phúc Âm cứu rỗi” [10].
Thánh Grégerio
Cả đã không ngần ngại quả
quyết việc Đấng Cứu Thế đích thân xuống tận phòng giam của hoả ngục để
giải cứu các linh hồn công chính về nơi an nghỉ. “Vì
từ khi Đấng Tạo Hoá và cứu chuộc chúng ta đã vào trong các phòng giam
của hoả ngục, đưa linh hồn những người được Thiên Chúa chọn ra, Người
không để chúng ta đi vào nơi mà Người đã xuống để giải cứu những người ở
đó. Nhưng những ai đã sinh ra trước khi Chúa đến, dù họ công chính đến
đâu, khi ra khỏi xác họ cũng không thể nào được đón nhận tức khắc vào
trong lòng quê hương Thiên Quốc. Bởi vì Đấng ấy chưa đến, Đấng sẽ phá
các phòng giam của hoả ngục khi xuống đó và đưa những linh hồn công
chính vào nơi an nghĩ vĩnh cửu” [11].
Thánh Thomas Aquino trong
bộ tổng luận thần học cũng có cùng một lập luận. Theo ngài, linh hồn của
những người công chính trước Chúa Cứu Thế đến trần gian đều ở trong bóng
tối của sự vắng bóng Thiên Chúa. Chỉ khi Đức Kitô hoàn tất công trình
cứu độ, xuống âm phủ giải cứu các vong linh ở đó, đập tan bóng đêm sự
chết và đem ánh sáng cho gian trần thì họ mới được lên Thiên đàng [12].
Nhìn chung, từ thế kỷ thứ XIII về trước, dưới nhãn quan phân chia thế
giới thành các “vùng” trần
gian, thiên đàng, hoả ngục… nên khi giải thích tín điều xuống
âm phủ cũng mang màu sắc
đó. Như đã đề cập ở mục I, các thần học gia hiện đại không còn nhìn nhận
như vậy nữa vì nó gợi lên trong tâm trí nhiều người thời hiện đại hình
ảnh lỗi thời về trời, đất, địa ngục. Nhất là khi ngành khảo cổ học, sinh
vật học và thiên văn học có nhiều phát minh mới, làm thay đổi những nhãn
quan của thời trung và cổ đại về thế giới. Do đó, chúng ta có những cách
hiểu tín điều xuống ngục tổ tông theo tinh thần của thần học hiện đại
khởi từ ánh sáng của Công đồng Vatican II.
Hồng y Ratzinger cho
rằng: “Khi chúng ta nói Đức Giêsu
xuống ngục tổ tông là chúng ta đụng đến một ý nghĩa mang tính mầu nhiệm.
Chúa Giêsu trở nên tăm tối trong sự chết như chúng ta chiêm ngưỡng những
đêm giá lạnh trong nấm mồ. Ở đó chỉ có sự thinh lặng thăm thẳm, sự thinh
lặng của mạc khải” và ngài còn nói thêm “Sự
thinh lặng khôn dò, sự thinh lặng không hiểu nỗi và không thể hiểu được.
Một khía cạnh của mầu nhiệm cứu chuộc vượt quá sự hiểu biết của con
người” [13].
Nhà chú giải Kinh Thánh Wlliam Barclay cũng
chung một nhận định như vậy, rằng khi giải thích đoạn thư của Phaolô về
việc Đức Giêsu xuống âm phủ, ông nói “chúng
ta đang gặp một trong những đoạn khó hiểu nhất của Kinh Thánh và nếu
muốn hiểu phần nào, không còn cách khác là thắt lưng tâm trí tìm biết ý
nghĩa của nó” [14]. Xin được thêm vào đây rằng sự phức tạp và khó
hiểu của tín khoản này làm cho nhiều người khi đọc kinh tin kính đã nói
câu “Ngài
đã xuống ngục tổ tông” hoặc
là vô nghĩa hoặc là gây bối rối hoang mang, nên đã ngầm đồng ý với nhau
bỏ qua hay quên phắt đi. Và chúng ta, đã đến lúc phải nghiêm túc tìm
hiểu những ý nghĩa đích thực sâu xa mà Giáo hội gửi gắm trong đó.
3. Ý nghĩa đích thực của tín điều này
Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ có thể hiểu ý nghĩa của thành ngữ “xuống
âm phủ” nếu biết xét nó
trong tương quan duy nhất và toàn thể của mầu nhiệm phục sinh, tức nối
liền với những thành ngữ đi trước và sau: “Chịu
đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày
thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” [15]. Trong sự thống nhất này,
tín khoản Đức Giêsu xuống ngục tổ tông chứa đựng ba chân lý quan trọng
căn bản sau:
Thứ nhất, Đức Giêsu không chỉ nếm
trải sự chết mà còn uống cạn chén của sự chết. Nghĩa là Ngài đã có
chết, chết thật. Sự chết của Ngài không phải là một màn nguỵ tạo trong
một vở tuồng. Sự chết đó không thể được giải thích bằng sự ngất đi trên
thập giá hay bất cứ điều gì tương tự mà giới y khoa thường nêu ra; nhưng
Ngài đã thực sự trải qua sự chết và đã sống lại hiển vinh. Mầu Nhiệm
Phục Sinh thật lớn lao và ý nghĩa!
Thứ hai, ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang lại có
ý nghĩa phổ quát cho hết
mọi người, ở mọi thời đại. Mầu nhiệm nhập thể đã từng cho thấy, Người đã
xuống, đã tự huỷ mình lĩnh lấy thân phận tôi đòi (x.Pl 2,4-7). Vậy, việc
xuống ngục tổ tông là điểm đánh dấu độ sâu thẳm vô cùng của sự tự huỷ
ấy, hầu cứu chuộc nhân loại khỏi hư mất. Đây là một nội dung mạc khải về
tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại. Méliton, một giám
mục thành Sardes vào thế kỷ thứ hai đã đặt vào miệng Đức Giêsu những
lời: “Chính
Tôi đã tiêu diệt sự chết và đã chiến thắng kẻ thù. Tôi đã vào âm phủ, đã
trói hung thần dưới đó lại và đã dẫn người ta lên trời”.
Về mặt thần học, khó có thể lý giải cách thức mà Đức Giêsu đã xuống âm
phủ như thế nào, linh hồn Người tách ra khỏi xác rồi xuống ngục tổ tông?
Hay chính “hồng ân cứu độ” được
ban tặng cho các linh hồn trong âm phủ ngay khi Ngài hoàn tất chương
trình cứu chuộc? hoặc là cách thức khác? Giáo Hội không quả quyết điều
đó mà chỉ khẳng định chắc chắn rằng tín điều Đức Giêsu xuống âm phủ đã
làm rung chuyển vương quốc của sự chết, của tội lỗi và của quyền lực sa
tan; đến nỗi, giờ đây, khi nghe danh thánh Giêsu, mọi gối đều phải bái
quỳ, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ (x.Pl 2,10); đồng thời
khơi nguồn sự sống và sống dồi dào cho nhân loại (x.Cv 3,15).
Thứ ba, Chúa Giêsu đã
xuống âm phủ và rao giảng Tin Mừng ở đó thì không có chỗ hiểm hóc nào
trong vũ trụ này mà sứ điệp về ân sủng đã không được rao giảng. Điều này
chứa đựng lời giải đáp cho vấn nạn mà Kitô giáo đặt ra: Số phận của
những người đã sống trước Chúa Giêsu đến thế gian và những người chưa hề
được nghe giảng Phúc Âm? Giáo lý về việc Chúa Giêsu xuống âm phủ bảo vệ
được chân lý quý báu là không hề có một người nào từng sống mà lại bị
Chúa Kitô bỏ quên không nhìn tới và không được đề nghị ban cho ơn cứu
rỗi của Thiên Chúa [16].
Đây chính là những nội dung và cũng là những ý nghĩa mà Giáo lý Hội
Thánh Công giáo không ngừng khẳng định trước những khó khăn vốn có của
thời đại “Tin Mừng được loan báo
cho kẻ chết… và từ nay, Đức Giêsu Kitô phục sinh nắm giữ chìa khoá sự
chết và âm phủ” (GLCG số
634-635).
4. Niềm hy vọng lớn lao cho chúng ta
Những khó khăn trong việc giải thích tín khoản này không làm cho chúng
ta quên rằng tình yêu của Thiên Chúa vượt thắng và làm sáng tỏ hết tất
cả, đã được mạc khải dứt khoát và trọn vẹn trong Đức Kitô, ngay cả trong
những lúc và ở những nơi mà con người chúng ta hoàn toàn bó tay. Mầu
nhiệm phục sinh tạo thành một thất bại thường trực và liên lỉ cho những
mãnh lực tối tăm, tháo gỡ gông cùm tội lỗi cho nhân loại. Đó là hy vọng
lớn lao cho hết mọi người, còn sống cũng như đã chết.
Tín điều Đức Kitô xuống ngục tổ tông, nhìn trong bối cảnh mầu nhiệm phục
sinh, hàm chứa một sự thật đầy an ủi cho chúng ta. Nó giúp chúng ta hiểu
rằng vực sâu sự chết, vốn hằng mở ra trước mắt chúng ta, một vực sâu tăm
tối và đầy bí ẩn, cũng không quá vô tận và bất khả dò thấu nhờ việc Chúa
Kitô xuống âm phủ, mầm mống của sự sống lại tái sinh, ánh sáng lại dọi
chiếu vào đêm tối mịt mù.
Như thế, khởi từ Thánh
Kinh, tín biểu các Tông đồ đã xác định việc Đức Kitô xuống ngục tổ tông
như một hệ quả tất yếu từ cái chết của Người. Đây là một cách dùng hình
ảnh nói lên ý nghĩa Chúa Giêsu chết là một sự thật hiển nhiên, vì Người
đã đi đến nơi mọi người đúng lẽ cư ngụ sau khi đã qua đời. Truyền thống
Cựu ước gọi nơi đó là cỏi âm ty, tức thế giới cỏi chết. Khi nói Chúa
Giêsu xuống ngục tổ tông hàm ý nói Người chỉ thật sự phục sinh sau khi
đã chết thật. Sự phục sinh trở nên ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người,
đã qua đời cũng như còn sống.
Công đồng Vatican
II trong Hiến chế Vui
Mừng và Hy Vọng, viết: "Chúa
Kitô đã đem lại chiến thắng ấy khi Người sống lại, và nhờ cái chết của
Người, Người đã giải phóng con người khỏi sự chết... đồng thời, còn cho
con người có khả năng hiệp
thôngvới những người
anh chị em thân yêu đã chết trong Chúa Kitô và làm cho chúng ta hy vọng
rằng những người ấy đã được sống thực trong Thiên Chúa." (MV số
18b).
Còn thánh Phaolô Tông đồ đã xác quyết đầy hy vọng trong thư gửi tín hữu
Thesalonica:"Vì nếu chúng ta tin
rằng, Đức Kitô đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những
người đã an nghĩ trong Đức Kitô, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức
Kitô. Dựa vào lời Chúa, chúng tôi nói với anh chị em điều nầy là chúng
ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm,
chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu; vì khi
lệnh ban ra, khi tiếng Tổng Lãnh Thiên Thần và tiếng kèn của Thiên Chúa
vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết
trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên, rồi đến chúng ta là những người
đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đi trên đám mây cùng
với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở
cùng Chúa mãi mãi." (1Tx
4, 14-16).
Tóm lại, trong Tháng Các
Linh hồn, việc chúng ta tìm hiểu để tưởng nhớ và cầu nguyện đặc biệt cho
ông bà tổ tiên và người thân yêu đã qua đời là điều quan trọng cần thiết
mang đầy ý nghĩa. Điều đó cũng chuẩn bị cho chúng ta nhớ đến hương trên
Trời và cảm nghiệm được tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Đấng đã chịu
đau khổ, chịu chết, chịu mai táng trong mồ vàxuống
ngục tổ tông, để ban sự sống cho những người đã chết trước đó,
ngay lúc đó và mãi mãi đến muôn đời. Alleluia.
------------------------------------
Chú thích:
[1]. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Giáo
Lý của Hội Thánh Công Giáo, Nxb Tôn giáo, năm 2010, trang 203.
[2]. La foi de l’Église, Catéchesme
pour adultes publié par la Confèrance Episcopal Allemende, Cerf,
1985, p 190-191
[3]. Xem DS 16, 27tt, 76.
[4]. http://gpbanmethuot.vn/content/ Sau
khi chết, Đức Giêsu đi đâu?/Lm Phan Long, ofm/ngày 04/02/2011.
[5]. Sách
Lễ Rôma của Hội đồng
phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, năm 1992, trang 426.
[6]. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Giáo
Lý của Hội Thánh Công Giáo, Nxb Tôn giáo, năm 2010, trang 202-205.
[7]. Lm GB. Nguyễn
Khắc Bá, Giáo
trình Kitô học và Thần học về Chúa Ba Ngôi, ĐCV Vinh Thanh năm 2009,
trang 306.
[8]. William Barclay, Bộ
chú giải Thánh Kinh, các thư của Phêrô và Giacôbê, Nxb Tôn giáo, năm
2008, trang 182.
[9]. Trích theo http://gpbanmethuot.vn/content/Sau
khi chết, Đức Giêsu đi đâu?/Lm Phan Long, ofm/ngày 04/02/2011.
[10]. William Barclay, Bộ
chú giải Thánh Kinh, các thư của Phêrô và Giacôbê, Nxb Tôn giáo, năm
2008, trang 186-187.
[11]. Maral,
quyển XIII, mục 43, số 48.
[12]. Thomas Aquino, Tổng
luận thần học, p.IIIa, q.XLIX, art 5.
[13]. http://vietcatholic.net/News/giải đáp thắc mắc/Lm Théophilé, Chúa
Giêsu đi xuống hoả ngục hay ngục tổ tông?/ngày 22/4/2009.
[14]. William Barclay, Bộ
chú giải Thánh Kinh, các thư của Phêrô và Giacôbê, Nxb Tôn giáo, năm
2008, trang 181-182.
[15]. Toà Giám Mục Xã Đoài, Sách
Kinh Địa phận Vinh, năm 2003, trang 12.
[16]. Dựa theo William Barclay, Bộ
chú giải Thánh Kinh, các thư của Phêrô và Giacôbê, Nxb Tôn giáo, năm
2008, trang 186.
ĐCV Vinh Thanh, 30/10/2011