|
Truyện Minh Hoạ - Hy Sinh |
|
ngưỜi quét lá rỪng Có một người làm công, ngày ngày đi quét lá rừng rụng xuống, gom lại một nơi rồi hốt đi. Một hôm một đoàn người lên rừng chơi, thấy người quét lá họ rất đỗi ngạc nhiên, và họ càng ngẩn ngơ khi biết rằng chính Hội đồng Thành phố đã thuê với số lương 7000 đồng một tháng. Sau một hồi vãng cảnh, đoàn người trở về. Một số người tìm đến ông Chủ tịch Hội đồng thành phố đề nghị hủy bỏ phụ khoản chi tiêu cho việc quét lá rừng vì quá vô ích. Ông Chủ tịch cũng như Hội đồng chẳng hiểu căn do của phụ khoản kia, vì họ chỉ làm theo truyền thống, nên cuối cùng quyết định không thuê người quét lá rừng nữa. Ngay giữa thành phố có một cái hồ rộng lớn, nước trong xanh, cây to in bóng mát, người qua lại dập dìu. Mọi người ca tụng nó là viên ngọc trai điểm trang cho thành phố. Nhưng lạ thay, một tháng sau ngày người quét lá rừng nghỉ việc, nước hồ trở nên đục ngầu bẩn thỉu, không còn thấy bóng người hóng gió ngoạn cảnh, quán xá bên bờ hồ vắng tanh... Cả thành phố trở nên buồn tẻ mà không hiểu tại đâu. Hội đồng Thành phố nhóm ngay phiên họp bất thường để tra xét hiện tượng trên. Và sau cùng họ tìm ra nguyên nhân : do người phu quét là rừng nghỉ việc nên lá rừng rụng xuống, gió đùa lá bay tứ tung trên mặt đường, rồi rơi xuống hồ nước trong xanh, gây nên tình trạng ô nhiễm... Và ngay hôm đó họ tái dụng người phu quét lá với số lương còn cao hơn xưa. Trích ”Phúc” không thẬp giá nào không đòi hỎi Có một người kia được Chúa cho vác một cây thập giá. Nhưng anh ta không chịu nổi, anh đến xin Chúa cho đổi cây thập giá khác. Chúa bằng lòng : “Ngoài nghĩa địa có vô số thập giá đủ loại. Con cứ ra đó muốn chọn cây nào tùy thích.” Dưới ánh trăng mờ trên nghĩa địa, anh ta đã thở phào nhẹ nhõm vất cây thập giá của mình và loay hoay chọn cây khác. Nhưng anh tìm mãi vẫn không được : cây thì quá dài, cây thì quá ngắn, có cây nhẹ nhàng nhưng sù sì khó vác, có cây trơn tru nhưng nặng quá... Và rồi đêm nào cũng thế.. cho đến một lần kia anh tìm được cây thập giá vừa ý nhất, nhẹ nhàng và êm ái nhất, vác về nhà. Nhưng ôi khi nhìn kỹ lại thì ra đó chính là cây thập giá đầu tiên mà Chúa đã trao cho anh ngày nào ! Trích “Phúc” BA đỒng tiỀn vàng Thời trung cổ, có một vụ hành quyết tội phạm tại một thị trấn kia. Theo phép nước, chỉ có mỗi một lối thoát chết cho tử tội là nộp đủ 1000 đồng tiền vàng để chuộc mạng. Nhà vua tỏ ra hào hiệp tặng hết số vàng 700 đồng mang theo. Hoàng hậu theo gương tặng 200 đồng. Các quan cũng dốc túi... Người ta đếm được tất cả 997 đồng, còn thiếu 3 đồng. Công lý không thể nhân nhượng, đành phải thi hành án lệnh. Toán hành quyết tròng giây thừng vào cổ tử tội, sửa soạn rút giây. Bỗng một tiếng kêu lớn “Khoan đã, lục soát người nó đi. Biết đâu đấy”. Tên đao phủ lần giây lưng tội nhân, móc ra được 3 đồng tiền vàng hắn giấu kỹ từ trước... Bài học rất dễ hiểu : Vua là Chúa cứu thế, hoàng hậu là Đức Maria, các quan là các thánh và các kitô hữu chân chính... Tất cả đã quyên góp thành một kho báu cứu độ. Dẫu sao vẫn thiếu một ít. Mỗi người chúng ta phải đóng góp bằng thiện chí của mình dù là một chút, để chắc tâm thực hiện được cuộc” vượt qua” từ đời sống tội lỗi lên đời sống thánh thiện. Trích ”Phúc” CÔNG TRÌNH THẦY DANG DỞ Nhà soạn nhạc Giacomo Puccini viết rất nhiều vở nhạc kịch nổi tiếng. Năm 1922, ông bất thần bị căn bệnh ung thư khi đang soạn dở dang vở Turandot, tác phẩm cuối cùng của ông, vở nhạc kịch mà ngày nay nhiều người đánh giá là kiệt tác đệ nhất của nhà soạn nhạc thiên tài này. Lúc ấy, Puccini trăn trối với các học trò mình: “Nếu ta không hoàn thành Turandot, ta mong rằng các anh sẽ hoàn thành nó giùm ta.” Ít lâu sau, ông qua đời. Thực hiện nguyện vọng của thầy, các học trò của Puccini đã nghiên cứu kỹ lưỡng vở Turandot dang dở và đã hoàn thành vở nhạc kịch ấy. Năm 1926, buổi công diễn đầu tiên được tổ chức tại Milan, do Arturo Toscanini, học trò ruột của Puccini, điều khiển. Mọi sự diễn tiến trôi chảy bình thường ... cho đến chỗ mà Puccini bị buộc phải bỏ dở vì cơn bệnh. Người ta nhìn thấy nước mắt ràn rụa trên mặt Toscanini. Ông cho ban nhạc dừng lại. Cây ba-toong trên tay ông rơi xuống sàn tự khúc nào... Quay về phía khán giả, ông nghẹn ngào: “Thầy đã viết đến đó. Nhưng giờ đây, Thầy không còn nữa.” Một sự yên lặng mênh mông bao trùm cả nhà hát. Rồi Toscanini nhặt ba-toong lên, nhìn khán giả, gượng một nụ cười qua ngấn lệ. Ông nói: “Nhưng, thưa quí vị, các môn đệ của Thầy đã tiếp nối và đã hoàn thành công trình của Thầy.” Khi vở Turandot kết thúc, toàn thể khán giả đứng bật dậy, vỗ tay vang dội ... Lê Công Đức, Lm. (Dịch) MẸ LẠNH LẮM PHẢI KHÔNG? Vào đêm trước lễ Giáng Sinh, một thiếu phụ mang thai lần bước đến nhà người bạn có một con mương sâu với những cây cầu bắc qua. Người thiếu phụ trẻ bỗng trượt chân chúi về phía trước, cơn đau đẻ quặn lên trong chị. Chị hiểu rằng mình không thể đi xa hơn được nữa. Chị bò dưới gầm cầu. Đơn độc giữa những chân cầu, chị đã sinh ra một bé trai. Không có gì ngoài những chiếc áo và quần quanh đứa con bé xíu, vòng từng vòng giống như một cái kén. Thế rồi tìm thấy được một miếng bao tải, chị trùm vào người và kiệt sức bên cạnh con. Sáng hôm sau, ngày lễ Giáng Sinh, một phụ nữ lái xe đến gần cầu, xe bỗng chết máy. Bước ra khỏi xe, băng qua cầu, bà nghe tiếng trẻ khóc yếu ớt dưới gầm. Chui xuống tìm, bà thấy một đứa bé sơ sinh đói lả, đang yếu ớt khóc... nhưng vẫn còn ấm, còn người mẹ đã chết cóng rồi. Đứa bé được bà đem về nuôi. Lớn lên bé thường hay đòi mẹ nuôi kể lại câu chuyện đã tìm thấy mình. Vào ngày lễ Giáng Sinh, cũng là ngày sinh nhật thứ 12, cậu bé nhờ mẹ nuôi đưa đến mộ người mẹ tội nghiệp. Đến nơi, cậu xin mẹ nuôi dành cho cậu ít phút riêng tư để cầu nguyện. Đứng cạnh ngôi mộ, cậu cúi đầu và thầm khóc. Thế rồi cậu bắt đầu cởi áo quần. Bà mẹ nuôi sững sờ khi thấy cậu bé lần lượt cởi bỏ tất cả y phục đang mặc và đặt trên mộ mẹ mình. Bà mẹ nuôi nghĩ: “Chắc là nó sẽ không cởi bỏ tất cả, nó sẽ lạnh cóng mất!”. Nhưng cậu bé bỏ tất cả và đứng run rẩy. Bà mẹ nuôi đến bên, bảo cậu bé mặc đồ trở lại. Bấy giờ, bà nghe cậu bé gọi người mẹ mà cậu chưa bao giờ biết: “Mẹ ơi, mẹ đã bị lạnh hơn con lúc này, phải không mẹ?” . Và cậu bé òa khóc. Sưu tầm CHÚA MUA NHÀ Con cho thuê nhà rẻ hơn nhiều chủ nhà khác. -Ta không muốn thuê. Ta muốn mua đứt. -Ồ, con chưa nghĩ tới chuyện bán nhà. Nhưng dù sao, xin mời Chúa vào xem qua đã. -Ừ, Ta sẽ vào xem. -Con có thể dành cho Chúa một hay hai phòng. -Ừa, Ta thích những phòng này. Ta sẽ lấy hết cả hai. Sau này, rất có thể con sẽ đồng ý dành thêm những phòng khác nữa cho Ta. Ta có thể chờ. -Con cũng muốn cho Chúa thêm. Nhưng thật hơi lấn cấn. Vì con cũng cần chỗ cho riêng con nữa chứ. -Ta hiểu. Và Ta có thể đợi chờ. Ta bắt đầu thích ngôi nhà này rồi đó. -Hm... mà thôi, con cho Chúa thêm một phòng nữa đấy. Xét cho cùng, con cũng không cần nhiều không gian lắm cho con đâu. -Cám ơn con. Ta nhận. Con biết đó, ta thích ngôi nhà này. -Con muốn tặng cho Chúa luôn cả ngôi nhà. Chỉ có điều ... lúc này con chưa thể quyết định dứt khoát. -Con hãy suy nghĩ kỹ đi. Ta sẽ không tống con ra đường đâu. Nhà của con sẽ là nhà của Ta, Con Trai Ta sẽ cư ngụ trong đó. Và con sẽ có nhiều chỗ hơn cả so với trước đây con vốn có. -Con không hiểu Chúa muốn nói gì. -Ta biết là con không hiểu. Nhưng Ta không thể giải thích cho con. Con sẽ phải tự khám phá ra để hiểu. Và con chỉ có thể hiểu khi con tặng Ta cả ngôi nhà. -Nghĩ đi nghĩ lại, con thấy ... phiêu quá, Chúa ơi! -Đúng thế. Nhưng con hãy thử rồi sẽ thấy. -Hm... con chưa dám, chưa thật dám. Con sẽ nghĩ lại và trả lời Chúa sau nghe! -Ờ, Ta chờ. Vì Ta thích ngôi nhà này. Lê Công Đức, Lm. Dịch VỊ THỪA SAI 'VỚ VẪN' Thập niên 1940, cha Goldry, một linh mục thừa sai, bị trục xuất khỏi Trung Quốc. Trên đường về Mỹ, cha đi ngang qua Ấn Độ. Tại một vùng duyên hải Ấn Độ, cha Goldry gặp thấy rất nhiều dân tị nạn thuộc một cộng đồng Do Thái đang chen chúc vất vưởng. Họ trốn tránh sự đàn áp của Đức Quốc Xã. Nhưng chẳng thấy ai đón nhận hay giúp đỡ họ. Họ chui nhủi trong những vựa rơm phong phanh hay những túp chòi hoang phế. Lúc bấy giờ là gần đến Lễ Giáng Sinh. Cha Goldry quyết định bán chiếc vé tàu của mình để mua bột mì cho những người Do Thái này nướng bánh mừng Lễ Đèn của họ (tức Lễ Hanukkah, xấp xỉ đồng thời với lễ Giáng Sinh). Sau đó, cha gửi điện tín về Mỹ, xin tiền mua vé tàu khác để về quê. Cha Goldry trả lời: “Họ không tin, nhưng còn con, con tin.” Lê Công Đức, Lm. Dịch Bong bóng đen Hôm ấy, lễ hội tưng bừng - một ngày đầy những điệu múa, lời ca, tiếng nhạc, màu sắc, và nhất là niềm vui... Dĩ nhiên, cũng có sự hiện diện của ông già bán bong bóng. Ông luôn có mặt những dịp như vậy để tô thêm niềm cho niềmvui của cả trẻ em lẫn người già bẵng những quả bóng muôn màu rực rỡ của ông. Một cậu bé da đen, chừng bốn tuổi, sấn tới gần chỗ ông già. Nó hỏi, rất hồn nhiên: “Nếu ông có một quả bong bóng màu đen, nó sẽ bay lên được ông nhỉ?” “Ồ, dĩ nhiên là được chứ. Cháu à, cái làm cho một chiếc bong bóng bay lên là chất khí ở bên trong nó, chứ không phải là sắc màu của nó”. Sưu tầm NƯỚC CHÚA Ở ĐÂU Thầy trợ sĩ nọ đã sống nhiều năm êm đềm hạnh phúc trong một tu viện cổ xưa. Hằng ngày, thầy làm các công việc lặt vặt trong nhà, phuc vụ cộng đoàn với lòng nhiệt thành và phấn khởi. Hôm ấy, khi thầy đang rửa mớ chén bát, một thiên thần hiện đến và nói: “Chúa sai tôi đích thân đến nói với thầy rằng thời gian của thầy đã mãn. Thầy được gọi vào Vương Quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa.” Thầy trợ sĩ tươi cười trả lời: “Ồ, thật thú vị. Tôi thật sự sung sướng vì Chúa nhớ đến tôi. Nhưng, thiên thần ơi, ngài thấy đó, còn rất nhiều chén đĩa chưa rửa, tôi không thể bỏ đi ngay bây giờ được. Chắc ngài cũng thấy rằng tôi thật có lỗi với các anh em mình nếu bỏ ngang công việc còn dang dở này mà biến mất. Có lẽ Chúa cũng vui lòng cho phép tôi bước vào sự sống đời đời trễ hơn một chút, khi tôi đã rửa xong mớ chén đĩa này.” Thiên thần nhìn vào đôi mắt thầy trợ sĩ, đầy thông cảm: “Thầy có lý. Tôi sẽ cố gắng chuyển đạt nguyện vọng của thầy đến Chúa.” Rồi thiên thần biến mất. Thầy trợ sĩ tiếp tục rửa chén và làm các công việc thường ngày khác của mình. Bữa khác, thầy trợ sĩ đang nhổ cỏ và cuốc đất trong vườn thì thiên thần lại hiện đến. Thầy huơ huơ lưỡi cuốc về phía đám cỏ trước mặt mình, nói với thiên thần: “Cỏ mọc um tùm thế kia, chắc Vương Quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa có thể chờ tôi thêm chút nữa.” Thiên thần mỉm cười, biến đi. Thầy trợ sĩ tiếp tục nhổ sạch đám cỏ, chăm bón các cây trồng, và làm những công việc thông thường khác mà bấy lâu nay thầy vẫn làm trong vườn. Buổi chiều nọ, thầy đang chăm sóc bệnh nhân trong bệnh viện, thiên thần lại xuất hiện. Thầy vừa đưa thuốc và nước uống cho một bệnh nhân bị sốt cao, vừa nói với thiên thần: “Ngài thấy rõ đó, còn rất nhiều bệnh nhân chờ tôi chăm sóc chiều nay...” Thiên thần lại mỉm cười và biến đi. Tối hôm ấy, thầy trợ sĩ về nhà, ngả lưng trên chiếc giường đơn sơ của mình, mỏi mệt sau một ngày làm việc cần cù. Thầy nhớ lại những lần thiên thần hiện đến với mình và việc mình xin khất hẹn hết lần này đến lần khác. Bất chợt, thầy cảm thấy mình già yếu và vô cùng mệt mỏi. Thầy quì xuống bên giường và bắt đầu cầu nguyện: “Lạy Chúa, giờ đây xin Chúa sai thiên thần của Chúa đến với con. Lần này con sẽ không khất nữa đâu.” Ngay tức thì, thầy thấy thiên thần hiện ra đứng bên cạnh mình. Thầy nói với thiên thần: “Lần này, nếu ngài đưa tôi đi, tôi hoàn toàn sẵn sàng để đi với ngài vào Vương Quốc của Thiên Chúa.” Thiên thần nhìn sâu vào đáy mắt thầy trợ sĩ, mỉm cười: “Thế bấy lâu nay thầy nghĩ là thầy đang sống ở đâu?” Lê Công Đức, Lm. Dịch BỨc tranh cỦa Holman Hunt Họa sĩ Holman Hunt vẽ xong bức tranh Đức Giêsu đang đứng gõ cửa một ngôi nhà nhỏ. Ông mời bạn bè đến góp ý xem có gì sai sót. Thấy bức họa, các bạn trầm trồ khen ngợi và không thấy có gì sai. Ông Hunt cứ thúc dục các bạn xem kĩ lại. Cuối cùng, một hoạ sĩ còn rất trẻ lên tiếng : “Thưa Ngài, tôi thấy có một sai lỗi trên bức danh hoạ. Ngài đã quên không vẽ tay cầm hay ổ khoá nơi cửa”. Hunt đáp : “Này bạn, khi đức Giêsu gõ cửa nhà bạn, thì cửa phải mở từ bên trong”. Sưu tầm Làm viỆc lương thiỆn Khi chú giải đoạn Tin Mừng Luca 6,6-11 nói về việc Chúa chữa người có tay bại, Barclay viết : Một ngụy thư nói rằng người đó là thợ đập đá, khi đến xin Chúa Giêsu chữa, anh nói : tôi là thợ đập đá, sống bằng đôi tay mình, xin Ngài giúp tôi tìm lại sức khoẻ để khỏi phải ngửa tay xin ăn. Anh là một người muốn làm việc. Thiên Chúa luôn ưu ái với những người muốn làm tròn bổn phận cách lương thiện. Sưu tầm |