NĂM MÃO
KHÁO CHUYỆN MÈO THEO KINH THÁNH
Mão là năm thứ tư trong chu kỳ tính âm lịch theo mười hai địa chi. Việt Nam
ta các cụ xưa đã đặt con Mèo làm con vật biểu tượng. Ở các nước khác họ lại
cho con thỏ là vật cầm tinh năm mão, có lẽ Việt Nam là nước nông nghiệp, đại
đa số dân chúng sống trên đồng bằng, mèo là con vật hữu dụng, phổ quát hơn.
Con thỏ hiếm thấy, nên cha ông ta xưa đã chọn con mèo làm con vật cho chi
Mão. Năm Mão lại đến, chúng tôi lại có dịp mở Kinh Thánh để tìm xem con mèo
có được các sách Kinh Thánh nhắc đến không?
Gốc gác con Mèo
Trong chuyện cổ nước ta có nhiều chuyện nói đến lai lịch con Mèo. Nhưng
chúng tôi muốn nhắc đến con mèo của Bà E-và. Ai cũng biết Kinh Thánh ghi
rằng Bà E-và là Mẹ chúng sinh (xem St 3, 20), nên nếu có con mèo của bà
E-và, ắt hẳn nó phải là con mèo đầu tiên được người nuôi trên trái đất.
Chúng tôi nhớ mãi hồi còn nhỏ, chúng tôi đã đọc được chuyện con mèo của bà
E-và trong một tờ báo với trí tưởng tượng như sau: Khi bà E-và thấy ông
A-đam có con hổ làm hầu cận, bà E-và rất thích con hổ, nhưng nó quá uy dũng
lại to lớn, bà không thể ôm ấp cưng chiều nó. Vì thế bà nũng nịu vòi ông
A-đam xin Chúa cho bà một con vật hoàn toàn giống như con hổ, nhưng nhỏ
nhắn, mềm mại hơn để bà có bạn. Chúa truyền cho A-đam lấy đất và bông gòn
làm thành con vật như ý E-và, rồi đem trình trước Chúa. Chúa thổi hơi ban sự
sống cho nó. Khi A-đam trao con vật cho E-và, con vật vui vẻ kêu lên những
tiếng “meo meo”, dụi đầu vào người E-và, bà liền gọi nó là con Mèo. Từ đó bà
E-và luôn đem theo con mèo bên mình. Những buổi trưa nóng bức, bà thường tìm
đến ngồi mát dưới bóng râm của cây Cấm. Bà đang thiu thiu ngủ … bỗng bà nghe
tiếng kêu chế diễu “eo…eo” và tiếng phun phì phì của con mèo. Bà nhìn lên
thì thấy có con rắn to tướng quấn trên cành cây cấm…Con mèo không theo bà
đến gốc cây cấm nữa.
Bà E-và dùng sợi dây thắt một cái nơ thật đẹp trên cổ mèo, sợi dây không cho
mèo xa bà, nên mèo phải miễn cưỡng theo bà ra gốc cây cấm. Cho đến một hôm
con mèo thấy bà hái trái cấm (xem St 3,6), nó liền khép chặt con ngươi trong
đôi mắt lại, không dám nhìn bà.
Vì thế giống mèo cứ đến trưa thì tròng đen của mắt chúng khép chặt lại, và
dáng bộ con mèo ủ rũ buồn chán, như nhớ lại giờ tội lỗi nhập vào thế gian.
Cũng từ đó hễ con mèo gặp rắn là lại phun phì phì như phỉ nhổ vào biểu tượng
của quân cám dỗ.
Kinh Thánh có nói đến Mèo không?
Chả mấy người nghĩ rằng trong Kinh Thánh có nhắc đến con mèo, Vì khi nghe
Sách Thánh, trong suốt 3 năm trong chu kỳ Phụng vụ, không nghe đến con mèo
bao giờ. Các ông bà Dòng Ba Đaminh, hằng ngày nguyện các giờ Kinh Phụng vụ,
cũng chẳng đọc được chữ mèo khi nào. Quý vị đã thấy chúng tôi trích từ Kinh
Thánh những câu nói đến con chuột của năm Tỳ. Con trâu của năm Sửu, Con hùm
của năm Dần. Còn trong năm Mão, không biết Thánh Kinh có nói đến con Mèo
không?
Câu hỏi làm kẻ viết bài này phải gia công tìm kiếm mãi cho ra câu trả lời.
Chắc chắn Kinh Thánh cũng có nhắc đến con mèo. Nếu không, chúng tôi đã không
dám nêu chủ đề “12 con giáp trong Kinh Thánh”. Chỉ. không rõ là KinhThánh
nói đến mèo nhiều hay ít. Tổ tiên ta xưa đã đặt con trâu là biểu tượng cho
năm Sửu, con mèo là biểu tương cho năm Mão, chứ không theo Tầu đật con bò,
con thỏ cho hai năm đó (chứng tỏ Việt Nam chúng ta không lệ thuộc Tầu). Con
Mèo là con vật cầm tinh cho năm Mão, nên Tết này chúng tôi phải nói chuyện
về con mèo trong Kinh Thánh thì mới hợp với ý của tiền nhân xưa, đã coi
người sinh năm Mão được gọi là người tuổi con Mèo.
Vì thế năm Mão này, mời quý vị theo dõi chuyện Mèo, chúng tôi trích từ Kinh
Thánh. Mậc dầu trong Kinh Thánh hiếm có sách nói đến con mèo.
Mèo trong sách Tiên tri I-sai-a
Ngôn sứ I-sai-a được coi là anh hùng của đất nước Do Thái vì sự tham gia
tích cực của ông vào những vấn đề của quốc gia. Ông còn là một thi sĩ có
biệt tài, chiều hướng tôn giáo vẫn nổi bật nơi ông. Ông luôn tin tưởng Thiên
Chúa là Đấng chí thánh, Đấng Uy dũng, Đấng đầy quyền năng, Đấng cai trị muôn
loài trên trời, dưới đất. Con người là một thực thể bị tội lỗi làm nhơ uế,
và Thiên Chúa đòi hỏi họ phải sám hối đền tội, để được tình yêu của Thiên
Chúa che chở.
Khi Ít-ra-en bị lưu đầy bên Ba-by-lon, I-sai-a đã tuyên sắm rằng Ba-by-lon
sẽ trở thành đổ nát và ra hoang phế, biến ra nơi cho thú hoang, chim trời
trú ngụ:
“Cho đến ngàn thu, nó sẽ không có người ở, không có một lều trú cho đến đời
đời. Ờ đó mèo hoang làm ổ và cú vọ ở đầy. Ổ đó đà điểu sẽ lưu trú, và dê
rừng tha hồ quẩng dỡn.(Is 13, 20-21)
Không những Ba-by-lon, mà còn Ê-đom cũng bị nguyền rủa. Nhắc việc xưa, dân
Ít-ra-en trên đường về Đất Hứa, gần đến Ê-đom đã cho sứ giả đến đề nghị
Ê-đom cho mượn đường đi ngang qua, nhưng nhà cầm quyền Ê-đom không cho quá
cảnh mà còn đe dọa sẽ cho binh đội kéo ra đón đánh nếu xâm phạm lãnh thổ họ.
Ít-ra-en phải rẽ qua hướng khác.
Ê-đom ở sát biên giới Giu-đê-a về phía nam, luôn thù nghịch với Ít-ra-en,
lúc Ít-ra-en mất quyền kiểm soát Giu-đê-a, Ê-đom lợi dụng cơ hội đã lấn đất
của Giu-đê-a. Vì thế ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm cho Ê-đom sẽ ra hoang phế,
trở thành nơi trú ẩn của muông thú, chim chóc hoang dã:
“Lâu đài của nó mọc gai tua tủa, đồn canh phòng thì cây dại tầm na, mắc cở
mọc um tùm. Nó biến thành hang ổ của thú hoang, sân chim đà điểu. Ở đó mèo
hoang sống với chó rừng, dê núi tìm nhau kéo đến ở.” ( Is 34, 14).
Như vậy, dưới cái nhìn của ngôn sứ I-sai-a, mèo hoang dã, bị liệt vào loại
thú vật dơ bẩn, dữ dằn gớm tởm đối với con người.
Ngôn sứ Ba-rúc cũng nói đến mèo
Ba-rúc là thư ký của ngôn sứ Giê-ri-mi-a, sách Ba-rúc được viết tại
Ba-by-lon sau cuôc phát lưu và được gửi về Giê-ru-sa-lem để người còn ở lại
đọc trong các buổi nhóm hội phụng vụ. Sách được viết khoảng giữa thế kỷ thứ
nhất trước công nguyên. Trong phần thư của ngôn sứ Giê-ri-mi-a được Ba-rúc
trích lại, là một bình luận minh giáo, chống lại việc thờ ngẫu tượng.
Sách của ngôn sứ Ba-rúc thuyết phục dân Chúa không phải sợ các thần dân
ngoại tại nơi bị lưu đày: Rồi đây tại Ba-by-lon, anh em sẽ thấy những tượng
thần bằng vàng bạc hay bằng đá. Vì các thần ấy đều do tay con người làm ra.
Tay thần cầm gươm cầm rìu nhưng không tự bảo vệ được mình. Người ta thắp cho
thần nhiều đèn nến nhưng dù một đốm lửa thần cũng chẳng nhìn thấy… Còn nhiều
những lý do ngôn sứ đưa ra chứng minh rằng những thần ấy không phải là linh
thiêng, cho nên dân Chúa không phải sợ hãi mà tôn kính các thần ấy, như dân
ngoại tôn kính.
Những thần ấy được đặt trong đền miếu, nhưng đúng là bị người ta nhốt như
giam giữ kẻ phạm pháp, mặc cho chim chuột tung hoành, tranh nhau đồ cúng rơi
rớt chung quanh, mà thần cũng không làm gì được: “Mặt thần đã bị khói từ đèn
nến hun đen thui, trên thân mình chúng cũng như trên đầu chúng, người ta
thấy bay lượn nào dơi, nào nhạn và các thứ chim khác, lại có cả mèo nữa. Cứ
thế anh em đủ biết chúng không phải là thần: sợ chúng mà làm chi!” (Br 6,
20-22).
Có lẽ mèo xuất hiện tại đền miếu là để tìm săn chim chuột… những con vật lợi
dụng lúc vắng người, bò ra kiếm ăn. Vì thế bàn thờ thần biến thành nơi cho
các con vật dơ bẩn tìm đến tranh giành đồ ăn thức uống, từ những đồ cúng rơi
rớt
Con mèo của Thánh Gia
Việt Nam ta là nước nông nghiệp, trước kia nhà nào cũng có nuôi ít là một
con mèo để giệt chuột, giúp bảo vệ lương thực, mùa màng. Tuy nhiên, người
Việt Nam không quý mèo như người Ai-cập. Tại Ai-cập các nhà khảo cổ đã khám
phá ra nhiều bãi tha ma chôn hàng chục ngàn con mèo, với những ngôi mộ kiên
cố, thật đẹp chứa xác ướp của mèo. Người Ai-cập coi mèo như là thần linh ban
phúc, nếu không thì là phù thủy giáng họa, đàng nào cũng phải kính sợ mèo.
Cho nên không những khi mèo chết người ta đã ướp xác lập mộ, mà khi mèo còn
sống người Ai-cập rất cưng chiều cung phụng. Chính vì thế mà có chuyện “con
mèo của Thánh Gia”.
“Khi Thánh Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ rằng: Vua Erore đi tìm Đức Chúa
Giêsu mà giết, thì Đức Mẹ đem Con sang nước Ichitô, mà Người thương Con còn
non nớt mới sinh, và lo buồn đau đớn như phải dao sắc thâu qua lòng vậy”.
(Tây-ban-nha gọi Ai-cập là “iexiptô” nên các cố Yphanho chuyển âm qua tiếng
Việt là Ichitô). Không những Đức Mẹ phải trốn đi vượt biên ban đêm, mà còn
bị người Ai-cập xua đuổi không cho trú nhờ. Cho đến khi Thánh Giuse đeo theo
gói hành trang đi gõ cửa thêm một căn nhà nhỏ, để năn nỉ lần nữa. Chủ nhà hé
cửa thò đẩu ra hỏi, anh ta thấy trong gói hành trang của Thánh Giuse có con
mèo nhô đầu lên, anh chủ nhà vội vàng mở rộng cánh cửa, niềm nở tiếp đón
Thánh Gia vào nhà. Khác với Việt Nam “mèo đến nhà thì khó” người Ai-cập được
mèo đến nhà là một hạnh phúc như thần linh tới phù hộ. Từ đó chị chủ nhà
cung phụng phục vụ Hài nhi Giêsu trước cả con nhỏ của mình. Truyền thuyết kể
rằng, mỗi chiều chị đều sắp nước cho Hài nhi tắm xong, rồi chị dùng lại nước
đó tắm cho con chị, con chị khỏi hết ghẻ lở và các bệnh khác. Người ta còn
nói, người trộm lành cùng chịu án đóng đinh với Chúa Giêsu, chính là đứa trẻ
được mẹ dùng lại nước tắm của Hài nhi thánh khi trước.
Con mèo của Thánh Gia đã đem hên đến cho gia đình người đón tiếp các ngài.
Hơi hướm Thánh Kinh
Con mèo của bà Evà, con mèo của Thánh Gia dĩ nhiên không có trong Sách
Thánh, cùng lắm thì hai con mèo ấy cũng chỉ có hơi hướm một chút Kinh Thánh,
nhưng vì trong Kinh Thánh Công giáo chỉ có hai sách nhắc đến mèo. (Chúng tôi
nói Kinh Thánh Công giáo, vì bên anh em Tin Lành không có sách của Tiên tri
Barúc) nên chúng tôi mới có dịp theo truyền thuyết nhắc lại cho thêm vui câu
chuyện Tết con mèo
Trong sách “Tìm Từ Kinh Thánh Tân Ước” của linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ,
nhà xuất bản Tôn Giáo, không có chữ “Mèo”. Như vậy chứng tỏ trong Kinh Thánh
Tân Ước không nói đến con mèo. Quả đúng như vặy, chúng tôi cũng đã để ý mỗi
khi đọc Tân Ước cũng không gặp được chữ “Mèo”, kể cả trong một vài bản dịch
ngoại ngữ.
Kính chúc quý độc giả nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ một Năm Mói an khang, mọi
điều như ý mong muốn.