|
“Nơi Chúa Giêsu thành
Nadareth, Thiên Chúa biểu lộ dung nhan của Ngài và yêu cầu con người
quyết định nhận ra Người và làm theo Người”
Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý thứ chín của ĐTC Bênêđictô IX về Năm
Đức Tin, được ban hành tại Sảnh Đường Phaolô VI hôm thứ tư ngày 12 tháng
12, 2012. Hôm nay ĐTC dạy tiếp tục loạt Bài Giáo Lý về Đức Tin.
* * *
Anh chị em thân mến,
Trong bài giáo lý trước, tôi đã nói về sự Mặc Khải của Thiên Chúa, như
Ngài đã truyền thông về Chính Ngài và về kế hoạch yêu thương nhân lành
của Ngài. Sự Mặc Khải này của Thiên Chúa được ghi khắc trong thời gian
và lịch sử nhân loại: một lịch sử trở thành “nơi mà chúng ta có thể nhận
thấy hành động của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Ngài gặp gỡ chúng ta
trong những gì quen thuộc nhất và dễ dàng xác minh nhất đối với chúng ta
vì nó tạo thành cảnh sống hàng ngày của chúng ta, mà không có nó, chúng
ta không thể hiểu được” (Gioan Phaolô II, TĐ Fides Et ratio, số 12).
Thánh sử Marcô, như chúng ta đã nghe, tường trình, bằng những thuật ngữ
rõ ràng và tổng hợp, việc rao giảng của Chúa Giêsu, “Thời kỳ đã mãn, và
Triều Đại Thiên Chúa đã gần” (Mc 1:15). Đấng soi sáng và cung cấp ý
nghĩa trọn vẹn cho lịch sử thế giới và nhân loại bắt đầu tỏa sáng trong
hang đá Bethlehem; đó là mầu nhiệm mà chúng ta chiêm ngưỡng ở đây trong
dịp lễ Giáng sinh: ơn cứu độ được thực hiện nơi Đức Chúa Giêsu Kitô. Nơi
Chúa Giêsu thành Nadareth, Thiên Chúa biểu lộ dung nhan của Ngài và yêu
cầu con người quyết định nhận ra Người và làm theo Người. Sự Măc Khải
của Thiên Chúa trong lịch sử để đi vào một mối liên hệ đối thoại yêu
thương với con người, ban tặng một ý nghĩa mới cho toàn thể cuộc hành
trình của nhân loại. Lịch sử không chỉ đơn thuần là một sự nối tiếp của
nhiều thế kỷ, của những tháng năm và những ngày, nhưng là thời gian của
một sự hiện diện cung cấp cho cho nó trọn vẹn ý nghĩa và mở ra một niềm
hy vọng vững chắc.
Chúng ta có thể đọc những giai đoạn Mặc Khải này của Thiên Chúa ở đâu?
Thánh Kinh là nơi đặc quyền để khám phá những biến cố của cuộc hành
trình này mà tôi muốn một lần nữa mời mỗi người, trong Năm Đức Tin này,
thường xuyên hơn cầm sách Thánh Kinh trong tay để đọc và suy niệm cùng
chú ý nhiều hơn đến các bài đọc của Thánh Lễ Chúa Nhật, tất cả điều này
tạo thành một lương thực quý giá cho đức tin của chúng ta.
Khi đọc Cựu Ước, chúng ta có thể thấy rằng những can thiệp của Thiên
Chúa trong lịch sử của dân mà Ngài đã tuyển chọn và với dân ấy Ngài đã
thiết lập một giao ước, không phải là những sự kiện đã qua và rơi vào
quên lãng, nhưng chúng trở thành “kỷ niệm” (hay “ký ức”), chúng tạo
thành “lịch sử cứu độ”, được duy trì một cách sống động trong ý thức của
dân Israel qua việc cử hành những biến cố cứu độ. Như vậy, trong Sách
Xuất Hành, Chúa truyền cho ông Môsê cử hành giây phút giải phóng cả thể
khỏi ách nô lệ Ai Cập, lễ Vượt Qua, với những lời này: “Ngày này đối với
các ngươi sẽ là ngày tưởng niệm; và các ngươi hãy giữ làm ngày lễ cho
Đức Chúa qua mọi thời đại, các ngươi sẽ giữ lễ này như một lề luật cho
đến muôn đời” (Xh 12:14). Đối với toàn thể dân Israel, việc nhớ lại
những gì Thiên Chúa đã làm trở thành một loại mệnh lệnh liên tục ngõ hầu
thời gian đã qua được đánh dấu bởi kỷ niệm sống động về những biến cố
trong quá khứ, mà do đó, ngày qua ngày, một lần nữa hình thành lịch sử
và vẫn còn hiện diện. Trong sách Đệ Nhị Luật, ông Môsê nói với dân chúng
rằng: “Anh em đừng quên những điều mà mắt anh em đã thấy, và mọi ngày
trong đời anh em, đừng để chúng rời xa tâm hồn anh em, cùng dạy cho các
con cháu anh em.” (4:9). Và do đó, ông cũng nói với chúng ta rằng “đừng
quên những điều mà Thiên Chúa đã thực hiện với chúng ta.” Đức tin được
nuôi dưỡng bởi việc khám phá và kỷ niệm về Thiên Chúa luôn trung tín,
Đấng hướng dẫn lịch sử và tạo dựng nền tảng chắc chắn và ổn định mà trên
đó cuộc sống của chúng ta dựa vào. Kinh Ngợi Khen (Magnificat), mà Đức
Trinh Nữ Maria dâng lên Thiên Chúa, cũng là một thí dụ rất cao quý của
lịch sử cứu độ này, của kỷ niệm này, là điều bảo tồn và giữ cho hành
động của Thiên Chúa được hiện diện. Đức Maria chúc tụng hành động thương
xót của Thiên Chúa trên hành trình cụ thể của dân Ngài, lòng trung thành
với những lời hứa của giao ước mà Ngài đã thiết lập với ông Abraham và
con cháu ông; và tất cả những điều ấy là ký ức sống động về sự hiện diện
của Thiên Chúa là điều không bao giờ phai mờ (x. Lc 1:46-55).
Đối với dân Israel, Xuất Hành là biến cố lịch sử chính yếu mà trong đó
Thiên Chúa tỏ bày hành động quyền năng của Ngài. Thiên Chúa đã giải
phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập để họ có thể trở về Đất Hứa và
tôn thờ Ngài như Thiên Chúa chân thật và duy nhất, dân Israel không lên
đường để trở thành một dân tộc như các dân tộc khác, để cũng có cho Ngài
một dân tộc độc lập, nhưng để phục vụ Thiên Chúa trong việc thờ phượng
và trong cuộc sống, để tạo ra cho Thiên Chúa một nơi mà con người sống
trong sự vâng phục Ngài, nơi mà Thiên Chúa hiện diện và được tôn thờ
trên thế gian; và đương nhiên, không chỉ cho họ, nhưng để làm chứng cho
các dân tộc khác. Việc cử hành biến cố này có nghĩa là làm cho Ngài hiện
diện và thực sự, ngõ hầu công trình của Thiên Chúa không bị thất bại.
Ngài trung thành với kế hoạch giải phóng của Ngài và tiếp tục theo đuổi
nó để con người có thể nhận biết và phục vụ Chúa mình cùng đáp lại hành
động của Ngài bằng đức tin và đức mến.
Như thế Thiên Chúa mặc khải chính Ngài không những chỉ trong hành động
nguyên thủy của việc tạo dựng, mà còn bằng cách đi vào lịch sử của chúng
ta, vào lịch sử của một dân tộc nhỏ bé, không phải là dân tộc đông người
nhất, cũng không mạnh mẽ nhất. Và sự Mặc Khải này của Thiên Chúa, được
tiếp tục trong lịch sử, đạt đến tột đỉnh nơi Đức Chúa Giêsu Kitô: Thiên
Chúa, là Ngôi Lời (Logos), Lời tạo dựng là nguồn gốc của thế giới, đã
nhập thể trong Chúa Giêsu và tỏ cho thấy dung nhan thật sự của Thiên
Chúa. Nơi Chúa Giêsu tất cả các lời hứa được thực hiện, nơi Người, lịch
sử về Thiên Chúa với nhân loại đạt đến tột đỉnh. Khi chúng ta đọc câu
chuyện về hai môn đệ trên đường Emmaus, được Thánh Luca kể lại, chúng ta
thấy rõ ràng rằng con người của Đức Kitô làm sáng tỏ Cựu Ước cùng toàn
thể lịch sử cứu độ và cho thấy chương trình hợp nhất tuyệt vời giữa hai
Giao Ước, cho thấy tính độc đáo của nó. Thực ra, Chúa Giêsu giải thích
cho hai người lữ khách bị mất mát và thất vọng rằng Người là sự hoàn
thành của tất cả các lời hứa: “Và, bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các
ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong
tất cả Sách Thánh” (24:27). Thánh sử tường trình lời thốt lên của hai
môn đệ sau khi đã nhận ra người đồng hành trong cuộc hành trình chính là
Chúa: “Tâm hồn chúng ta đã không rạo rực khi Người đàm luận với chúng ta
dọc đường và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta sao?” (v. 32).
Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo tóm lược các giai đoạn Mặc Khải của
Thiên Chúa bằng cách cho thấy một cách tổng hợp sự phát triển của nó (x.
số 54-64): Thiên Chúa đã mời gọi con người ngày từ ban đầu để hiệp thông
một cách mật thiết với Ngài, ngay cả khi con người, vì sự bất phục tùng
của họ, đã đánh mất tình bằng hữu của Ngài, Thiên Chúa đã không bỏ mặc
họ dưới quyền lực của sự chết, nhưng đã nhiều lần ban cho con người giao
ước của Ngài (x. Sách Lễ Rôma, Lời Nguyện Thánh Thể IV). Sách Giáo Lý đi
lại cuộc hành trình của Thiên Chúa với con người từ giao ước với ông Noe
sau trận Đại Hồng Thủy, đến việc kêu gọi ông Abraham rời bỏ quê quán của
ông để trở thành tổ phụ của nhiều dân tộc. Thiên Chúa hình thành dân
Israel của Ngài qua những biến cố Xuất Hành, giao ước Sinai và món quà
Lề Luật, qua trung gian của ông Môsê, để Ngài được công nhận và phục vụ
như Thiên Chúa duy nhất chân thật và hằng sống. Với các ngôn sứ, Thiên
Chúa hướng dẫn dân Ngài trong niềm hy vọng cứu độ. Qua ngôn sứ Isaia,
chúng ta biết về “Cuộc Xuất Hành thứ hai”, việc hồi hương từ cuộc lưu
đày ở Babylon về mảnh đất của riêng Ngài, việc tái xây dựng của dân
chúng; đồng thời, tuy thế, vẫn còn nhiều người sống trong vô vọng và do
đó bắt đầu tính phổ quát của đức tin này. Cuối cùng, người ta không còn
chỉ mong đợi một vua, vua Đavid, con vua Đavid, nhưng một “Con Người”,
ơn cứu độ của mọi dân tộc. Những cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa, trước
hết với Babylon và Syria, rồi với nhiều người Hy Lạp. Như vậy, chúng ta
thấy con đường của Thiên Chúa được mở rộng như thế nào, và càng ngày
càng mở rộng hơn nữa cho mầu nhiệm của Đức Kitô, Vua Vũ Trụ. Trong Đức
Kitô, sự Mặc Khải cuối cùng được thực hiện trong sự viên mãn của nó, là
mục đích của lòng nhân lành của Thiên Chúa: Chính Ngài cũng làm một
người trong chúng ta.
Tôi xin ngừng lại ở những lời nhắc nhở về hành động của Thiên Chúa trong
lịch sử nhân loại, để chứng tỏ những giai đoạn của kế hoạch yêu thương
cao cả nảy được chứng tỏ trong Cựu và Tân Ước: một kế hoạch cứu độ duy
nhất dành cho toàn thể nhân loại, được mặc khải cách tiệm tiến và được
thực hiện bởi quyền năng của Thiên Chúa, ở đó Thiên Chúa luôn đáp ứng
với những sự đáp trả của con người. Điều ấy là nền tảng vững chắc của
cuộc hành trình đức tin. Chúng ta đang ở trong Mùa Vọng của năm phụng vụ
để chuẩn bị mừng Lễ Giáng sinh. Như tất cả chúng ta đều biết, thuật ngữ
“Mùa Vọng” có nghĩa là “đến”, “hiện diện”, và thời xưa ám chỉ cách cụ
thể sự xuất hiện của vua hoặc hoàng đế ở một tỉnh được quy định. Đối với
chúng ta là những Kitô hữu, thuật ngữ này ám chỉ một thực tại tuyệt vời
và sửng sốt: Thiên Chúa rời khỏi Trời Cao của Ngài và cúi xuống trên con
người; Ngài đã lập một giao ước với con người bằng cách đi vào lịch sử
của một dân tộc; Ngài là vị vua ngự xuống trong tỉnh nghèo nàn này là
trái đất, và Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong chuyến viếng thăm của
Ngài việc mặc lấy xác phàm của chúng ta như một món quà, trở thành một
con người như chúng ta. Mùa Vọng mời gọi chúng ta nhớ lại con đường của
sự hiện ấy diện và nhắc nhở chúng ta luôn mãi rằng Thiên Chúa đã không
rút lui khỏi thế gian, không vắng mặt, không bỏ mặc chúng ta, nhưng đến
gặp chúng ta bằng những cách khác nhau, mà chúng ta phải học cách phân
biệt. Chúng ta cũng thế, với đức tin, đức cậy và đức mến của mình, chúng
ta được mời gọi mỗi ngày tìm kiếm và làm chứng cho sự hiện diện này
trong một thế giới thường hời hợt và điên cuồng, cùng làm chiếu tỏa
trong cuộc đời chúng ta ánh sáng đã chiếu soi hang đá ở Bethlehem. Cảm
ơn. |